SKKN sáng kiến kinh nghiệm mầm non biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 4 5 tuổi của trường SOS, đồng hới, quảng bình thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề - Pdf 39

MỤC LỤC

Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

1

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tập nghiên cứu này. Em đã nhận được sự giúp đỡ tận
tình của cô Mai Thị Liên Giang dạy môn khám phá khoa học.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Mai Thị Liên Giang
người đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Kính chúc cô mạnh khỏe công tác tốt.

Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

2

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là riêng tôi. Các kết quả và
số liệu trong đề tài là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một công trình
nào.
Đồng Hới, 25 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hằng


giáo.
Như vậy, trường Mần Non là môi trường thuận lợi nhất để trẻ phát triển, ở
đây trẻ không những chăm sóc, giáo dục mà còn được vui chơi để thỏa mãn ước
muốn làm người lớn với khả năng thực tế của mình. Trong khi chơi đứa trẻ học
cách sử dựng đồ vật, đồ chơi do con người sang tạo ra. Học những quy tắc ứng
xử giữa người với người trong xã hội tức là học làm người.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

4

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


Trẻ mẫu giáo có thể tham gia nhiều loại trò chơi như trò chơi đóng vai
theo chủ đề, trò chơi đóng kịch,… Mỗi loại trò chơi có tác dụng phát triển một
mặt nhất định của trẻ. Nhưng trung tâm của hoạt động vui chơi đối với trẻ đóng
vai theo chủ đề là loại trò chơi chủ yếu tạo ra nét đặc trưng trong trò chơi, trong
đời sống tâm lí của trẻ mẫu giáo.
Tại sao trẻ mẫu giáo thích chơi trò chơi đóng vai trò theo chủ đề, bởi qua
chơi trẻ với cuộc sống của người lớn, trẻ muốn tự mình làm mội việc như người
lớn, với khả năng của mình. Do vậy trò chơi nói chung va trò chơi đóng vai theo
chủ đề nói riêng thực sự cần thiết cho trẻ…
Trong khi đó, ở các trường Mầm Non trò chơi đóng vai trò theo chủ đề
chưa thực sự được quan tâm, trò chơi chưa là niềm vui, là niềm hạnh phúc của
trẻ.
Vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là phải tăng cường tổ chức hướng dẫn các
trò chơi một cách thường xuyên và nhất là trò chơi đóng vai trò chủ đề, phải có
sự hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể để tạo cho trẻ cảm giác thoái mái, hứng thú, có như
vậy chúng ta mới thực sự tạo cho trẻ niềm vui, niềm hạnh phúc…
Từ lý luận và thức tiễn với khả năng và niềm say mê hứng thú của mình

5.1: Nghiên cứu cơ sở về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, thông qua
trò chơi đóng vai trò theo chủ đề.
* Tìm hiểu các khái niệm:
Khái niệm trẻ em.
Khái niệm ngôn ngữ.
Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề.
Trẻ mẫu giáo nhỡ.
5.2: Khảo sát, phân tích thực trạng về việc tổ chức trò chơi đóng vai
trò theo chủ đề để nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
5.3: Nghiên cứu để lựa chọn, sử dụng tổ chức các trò chơi cho trẻ.
6. Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
6.1: Giới hạn nghiên cứu của đề tài về khách thể:
- Đề

tài này được thực hiện trên 20 trẻ Mẫu Giáo 4- 5 tuổi và 10 giáo viên ở trường

SOS, Đồng Hới, Quảng Bình.
6.2: Giới hạn nghiên cứu về nội dung:
- Nghiên

cứu khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ Mẫu 4-5 tuổi và hứng thú của trẻ

trong hoạt động tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.

Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

6

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


trúc ngữ pháp của trẻ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

7

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


7.5: Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Người nghiên cứu ghi lại, hệ thống lại những từ ngữ, những kết cấu ngữ
pháp mà trẻ nói ra trong quá trình tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề. Trên
cơ sở đó đưa ra nhận xét về sự phát triển vốn từ cũng như cách phát âm hay khả
năng sử dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ.
8. Đóng góp mới của đề tài:
- Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và đi sâu tìm hiểu về vấn đề
giáo dục văn hóa ứng xử của trẻ 4 - 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ
đề.
- Xây dựng được một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa
ứng xử cho trẻ.
9. Thời gian, địa điểm
- Thời gian: Từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.
- Địa điểm: Tại trường Mẫu Giáo SOS - Đồng Hới - Quảng Bình.
10. Kết cấu của đề tài:
A. Phần mở đầu
B. Nội dung chính
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Khảo sát thực trạng
Chương 3: Thực nghiệm tác động
C. Kết luận và kiến nghị


Ngôn ngữ là một hệ thống thông tin đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ
đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa
– lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tùy theo hoàn cảnh lịnh sử mà sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân tộc
mỗi nơi, mỗi thời kỳ một khác, theo những con đường khác nhau. Mác và
Awngghen đã viết: “ Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

9

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


nhân khiến cho một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên thành
ngôn ngữ dân tộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một cách lịch
sử từ chỗ nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã và
Giescmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp của các dân tộc,
như tiếng Anh chẳng hạn: một phần nữa là do các phương ngữ tập trung thành
ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung đó lại do sự
tập trung kinh tế, chính trị quyết định “.
1.2.2: Các bộ phận và đơn vị của ngôn ngữ
a. Các bộ phận của ngôn ngữ
Ba bộ phận câu thành của ngôn ngữ là từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp.
Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp
gọi tên các sự vật, hiện tượng của thực tế, còn ngữ âm phụ thuộc vào ngoại biên
về chất liệu vì nó trực tiếp được tích lũy bởi giác quan con người. So với ngữ âm
và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp không có tinh thần cụ thể. Nó chỉ
liên hệ với thực tế thông qua từ vựng, chỉ lĩnh hội được thông qua ngữ âm.Vì
vậy, ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ.

tiếng khác nhau, nhưng các dân tộc khác nhau vẫn hiểu được nhau.
Tóm lại, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, dùng làm phương
tiện giao tiếp và là công cụ tư duy.
1.2.3: Chức năng của ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người.
Không ai có thể phủ nhận ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người.
Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra, cũng dùng
ngôn ngữ để nói chuyện với nhau.Ngoài ngôn ngữ, con người còn có những
phương tiện giao tiếp khác như: cử chỉ, các loại dấu hiệu, ký hiệu khác nhau (ký
hiệu toán học, đèn tín hiệu giao thông .v.v…), những kết hợp âm thanh của âm
nhạc, những kết hợp màu sắc của hội họa.v.v… nhưng ngôn ngữ là phương tiện
trọng yếu nhất của con người.
Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu ngau trong quá trình sinh
hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được
tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình.Có hiểu biết lẫn nhau,
con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã
hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên.
b. Ngôn ngữ là phương tiện tư duy
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy
của nó, bởi vì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ chỉ có thể giúp ta trao đổi tư tưởng,
tình cảm với nhau, do đó hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác
chung trên mọi lĩnh vực hoạt động nếu bản than ngôn ngữ tàng trữ kinh nghiệm,
những tư tưởng và tình cảm của con người.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

11

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55



trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

12

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


1.3: Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân
1.3.1: Ngôn ngữ nói
Bắt đầu từ tháng 12 trở đi, ở trẻ xuất hiện những âm bập bẹ có ý nghĩa
đầu tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp với người lớn. Các âm
bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ xho các từ tham gia vào cáu tạo câu sử
dụng trong giao tiếp. Những từ đàu tiên xuất hiện, các kiểu câu đơn giản gồm
hai từ dến ba từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻ tang lên. Trẻ tích cực hơn
trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngũ để giao tiếp. Nhu cầu giao tiếp tăng lên thúc
đẩy hoạt động giao tiếp ngông ngữ; kết quả là cá kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ
được hình thành.
1.3.2: Ngôn ngữ viết
Trẻ luyện viết là hoạt động tập hứng thú và tự giác. Chính vì vậy, khi dạy
viết cho trẻ quan trọng nhất là giải thích để trẻ hiểu được mục đích của việc
luyện viết (lưu ý trẻ mẫu giáo chưa tiến hành hoạt động học tập). Giáo viên mầm
non chỉ khuyến khích cho trẻ nhận thức được trầm quan trọng của chữ viết. Trẻ
sẽ tự giác ngồi vào vẽ chữ. Khi trẻ bắt đầu có hứng thú với chữ viết nên chuản bị
dụng cụ để giúp trẻ luyện viết tại góc luyện viết (bút chì, bút màu, bút vẽ.v.v…).
1.4: Trẻ mẫu giáo
1.4.1: Khái niệm trẻ em
Theo quan niệm cổ: “ Trẻ em là người lớn thu nhỏ lại ”.
Ở thế kỷ XYIII, nhà giáo dục, nhà văn viết học J.J. Korutxô quan niệm: “
Trẻ em không là người lớn thu nhỏ lại. Trẻ em là trẻ em phát triển theo quy luật

nhiệm cao, sự cần mẫn, kiên trì còn cần phải có sự hiểu biết nhất định về đặc
điểm tâm lý của trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ đặc điểm đầu tiên là đặc điểm về hoạt động vui
chơi. Ở độ tuổi nào con người cũng đều tham gia vào hoạt động vui chơi, nhưng
chỉ ở tuổi mẫu giáo mà ở chính giữa cái tuổi ấy (tứ là tuổi mẫu giáo nhỡ) thì
hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó đạt tới
dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi,
nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Do đã có ít nhiều vốn kinh
nghiệm về cuộc sống nên trẻ mẫu giáo nhỡ đã có thể tự lựa chọn chủ đề và nội
dung chơi cũng như cần có bạn chơi “ tâm đâu ý hợp “ để vui chơi bền hơn, vui
hơn.
Đặc điểm thứ hai của trẻ mẫu giáo nhỡ là sự phát triển mạnh tư duy trực
quan hình tượng và có khả năng suy luận.

Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

14

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


Tiếp theo là sự phát triển đời sống tình cảm. Trong lứa tuổi ấu nhi cũng
như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm
lý của trẻ; nhưng đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm của trẻ
có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn so với lứa
tuổi trước đó.
Ở lứa tuổi mẫu giáo, nhất là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát triển
mạnh liệt, đặc biệt là tính đồng cảm và tính dễ xúc cảm đối với con người và
cảnh vật xung quanh. Đây là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục long nhân ái cho
trẻ.

các chương trình truyền hình, truyền thanh.v.v… Vì thế, Giáo dục học mẫu giáo
coi việc hình thành vốn từ là nhiệm vụ quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ.
1.5: Trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.5.1: Khái niệm
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là moohifnh quan hệ xã hội của người lớn
và là phương tiện định hướng cho trẻ vào mối quan hệ đó. Hay nói cách khác,
trò chơi đóng vai theo chủ đề là trẻ ướm thử mình vào vị trí của người nào đó và
bắt chước những hành động của người nào đó.
1.5.2: Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là do trẻ tự nghĩ ra ( tự nghĩ ra dự định
chơi, lập kế hoạch chơi, chọn bạn chơi, phân vai chơi và tìm kiếm phương tiện
phù hợp dự định chơi ban đầu, v.v…), trẻ luôn đứng ở vị trí chủ thể để hành
động ( chủ động thiết lập mối quan hệ với bạn cùng chơi, phát triển trò
chơi.v.v…).
Trò chơi đóng vai trò theo chủ đề bao giờ cũng có các vai, có chủ đề, có
nội dung và các mối quan hệ ( quan hệ thực và quan hệ chơi ), có hoàn cảnh
tưởng tượng. Tất cả các thành tố này liên quan mật thiết với nhau bổ sung cho
nhau. Nếu thiếu một trong hai thành tố trên thì lúc ấy không còn là trò chơi đóng
vai theo chủ đề nữa.
Trò chơi đóng vai theo chủ đề mang tính tự nguyện, tính sáng tạo, tính tự
lập cao hơn so với một số trò chơi khác.
1.5.3: Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Cấu trúc là yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố.
a. Chủ

đề và nội dung chơi
Chủ đề của trò chơi là mảng hiện thực được trẻ em phản ánh vào trong trò

chơi ( chủ đề dạy học, chủ đề gia đình,v.v…)
Nội dung là hoạt động của người lớn được trẻ em nhận thức và được tái

d. Đồ

chơi và hoàn cảnh chơi
Đồ chơi là vật thay thế cho vật thật. Có hai loại đồ chơi đó là:
+ Đồ chơi người lớn làm cho trẻ.
+ Đồ chơi do trẻ tự làm ra: Trẻ lấy vật này để thay thế cho vật khác ( lá-

tiền).
Trong bốn yêu tố trên thì chủ đề và nội dung chơi quyết định tất cả các
yếu tố sau.
Người lớn cần tôn trọng tính tự nguyện, tính tự chủ của trẻ trong khi chơi.
Giáo viên mầm non nên căn cứ vào nội dung giáo dục để thiết kế thành các trò
chơi cho trẻ, vừa để thỏa mãn nhu cầu của trẻ, vừa đảm bảo mục tiêu giáo dục,
giúp trẻ lựa chọn được chủ đề, nội dung chơi đích thực, giúp trẻ phân vai và
thiết lập các mối quan hệ trong trò chơi. Cần tạo ra những tình huống trong trò
chơi để trẻ lựa chọn thực hiện kiểu ứng xử phù hợp. Cần giúp trẻ tao ra những
mối quan hệ tinh thần tôn trọng bình đẳng của trẻ trong trò chơi.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

17

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


1.5.4: Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với trẻ mẫu giáo
Những phẩm chất tâm lý và những đặc điểm nhân cách của trẻ mẫu giáo
được phát triển mạnh mẽ nhất là trong hoạt động vui chơi.
a. Hoạt

động vui chơi ảnh hưởng mạnh tới sự hình thành tính chủ định của quá trình


chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ phải tham gia vào hai mối quan hệ : quan hệ thực
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

18

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55


và quan hệ chơi. Trẻ nhập vai vào mối quan hệ đó, từ đó tình cảm này được sinh
thành và phát triển.
f. Sự phát triển ý chí
Tính mục đích, tính tự chủ, tính kiên trì đây là các phẩm chất của ý chí
được hình thành và phát triển mạnh trong khi chơi.
Vậy đây là hoạt động chủ đạo quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ mẫu
giáo.
1.5.5: Khả năng nghe hiểu lời nói
Tính giác là cơ quan phân tích giúp cho việc hấp thu âm thanh của ngôn
ngữ. Cùng với sự phát triển của trẻ, dần dần sẽ phát triển sự chú ý lắng nghe, tri
giác âm thanh của ngôn ngữ.
Khả năng nghe hình thành sớm ở hai, ba tuần đầu, trẻ đã iết phản ứng
ngôn ngữ.
Ở mẫu giáo nhỡ, sự tri giác bằng thính giác đang phát triển mạnh mẽ khi
trẻ được tiếp xúc với môi trường xung quanh, xem vô tuyến, nghe đài truyền
thanh, nghe đĩa, v.v… Giáo viên nên tổ chức “ những phút im lặng “, “ biến
những phút này thành các bài tập”, “ ai nghe rõ hơn”, “đoán câu nói”,v.v.. Giáo
viên dạy trẻ (4-5 tuổi) hiểu được người khác nói và phân biệt các giọng nói,
giọng điệu khác nhau. Trẻ nghe và hiểu được những từ, những câu, nghe hiểu
các nội dung các lời nói. Trẻ hiểu những câu chuyện, bài hát, bài thơ phù hợp
với lứa tuổi, biết thể hiện thái độ thích hợp khi nghe.

ngựa bằng chiếc gối đó. Điều đó chứng tỏ trẻ chưa biết hướng hành động của
mình vào một chủ đề chơi nhất định. Như vậy trò chơi sẽ khó duy tri.
Bởi vậy, giáo viên cần khéo léo dẫn dắt cho trẻ biết thêm những công việc
mà người lớn thường làm để trẻ có thể chơi có định hướng mà không bị lạc đề.
Ví dụ: Đối với chủ đề “ Bệnh viện”, người lớn cần nói cho trẻ biết ở bệnh
viện có những ai (bác sĩ, cô y tá, người bệnh.v.v…) và công việc của từng người
(bác sĩ khám bệnh, tiêm thuốc, dặn dò bệnh nhân những điều cần thiết với thái
độ ân cần.v.v…) chơi như vậy hành động của trẻ sẽ được xác định rõ ràng hơn.
Đây là bước tiến đáng kể trong sự phát triển đời sống tâm lý trẻ, cần cho hoạt
động học tập và lao động sau này.
c. Biết phối hợp hành động với bạn chơi trong khi chơi
Trẻ chơi tự do sẽ dẫn đến không có những hành động liên kết trong khi
chơi. Trẻ chưa biết hợp tác với nhau hay nói đúng hơn là chưa biết chơi với
nhau, phối hợp với nhau để trò chơi thêm hấp dẫn.
d. Người lớn không bao giờ áp đặt hay dùng mệnh lệnh trong khi hướng dẫn trẻ
chơi.
Vui chơi là một hoạt động độc lập của trẻ nên khi tổ chức trò chơi đóng
vai theo chủ đề cần phát huy cao độ tính tự lực, tự chủ, khuyến khích những
sáng kiến của trẻ trong việc đóng vai, tìm vật thay thế, kích thích trí tưởng tượng
của trẻ trong việc tạo ra nhiều hoàn cảnh chơi mới mẻ.
Giáo viên nên lôi cuốn trẻ vào những trò chơi hấp dẫn, vừa sức và tốt nhất
nên cùng chơi với trẻ để làm mẫu các hành động chơi, trực tiếp tạo ra các tình
huống chơi để giúp trẻ phối hợp với nhau giữa các vai và kịp thời động viên,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

20

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55



CHƯƠNG II: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG
2.1: Thực trạng việc xây dựng nội dung và tổ chức trò chơi đóng vai
theo chủ đề ở các trường mầm non hiện nay
2.1.1: thực trạng lập kế hoạch tổ chức hướng dẫn trẻ chơi trò chơi
đóng vai theo chủ đề
2.1.2: Thực trạng về tạo môi trường cho trẻ
2.1.3: Mức độ tích lũy kinh nghiệm và làm sống lại kinh nghiệm bằng
các biện pháp khác nhau cho trẻ trong trò chơi
2.1.4: Quá trình và tổ chức hướng dẫn trò chơi
2.2: Thực trạng sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ
2.2.1: Khách thể nghiên cứu
2.2.2: Phương pháp điều tra
2.2.3: Kết quả điều tra sự phát âm của trẻ mẫu giáo nhỡ thu được
qua bảng 2 và bảng 3
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG
3.1: Cách thức tiến hành
3.2: Thời gian tiến hành thực nghiệm tác động
3.3: Giáo án thực nghiệm
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

Sinh viên: Nguyễn Thị Hằng

22

Lớp: ĐHGD Mầm non A - K55




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status