Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một thành tựu lớn nhất của con người, nó là phương tiện
quan trọng nhất giúp con người biểu đạt được những sở thích, mong muốn,
cảm xúc, tình cảm, nguyện vọng … của mình. Một đứa trẻ bắt đầu phát triển
ngôn từ những hành động như: khóc, cười, đòi mẹ bế. Cho nên việc chậm
phát triển kỹ năng ngôn ngữ có thể là nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến
trẻ cũng như thiếu hụt khả năng truyền tải thông tin sau này. Đặc biệt là đối
với trẻ dân tộc thiểu số việc phát triển ngôn ngữ sẽ giúp trẻ tự tin trong giao
tiếp và thu nhận thông tin kiến thức. Có nhiều cách biểu đạt ngôn ngữ nhưng
thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học thì việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ sẽ là con đường ngắn nhất và nhanh nhất bởi lẽ: “Tác phẩm văn
học nhựa sống tâm hồn trẻ thơ”. Các tác phẩm văn học là một món ăn tinh
thần không thể thiếu đối với trẻ thơ đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo. Nó đem
lại cho trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh. Qua những tác phẩm văn học
thế giới tràn đầy âm thanh màu sắc, đã dần được hiện lên trong trí tưởng
tượng về cuộc sống gần gũi quen thuộc của trẻ. Ngôn ngữ chính là phương
tiện hữu hiệu nhất để phát triển trí tuệ giúp cho việc tiếp thu kiến thức học
tập tốt ở lớp trên và các cấp học sau này. Đó là nền tảng để hiểu về thế giới
văn học và tiếp nhận nhiều tri thức mới. Vì vậy cho trẻ hoạt động làm quen
với tác phẩm văn học là một trong những nội dung quan trọng cho trẻ mầm
non. Trẻ mầm non khi làm quen với tác phẩm văn học dưới hình thức học
bằng chơi chơi mà học. Qua đó trẻ mầm non phát triển toàn diện về năm
mặt
Hiện nay, ngôn ngữ sử dụng trong hệ thống giáo dục quốc dân của
nước ta là tiếng Việt. Do đó việc chuẩn bị ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ mầm
non ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề vô cùng quan trọng. Trong
1 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
* Mục tiêu
2 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
Hình thành và phát triển khả năng nghe, nói, đọc, kể tiếng Việt.
Hiểu và sử dụng được các từ, câu phù hợp ngữ cảnh trong giao tiếp
hằng ngày.
Hình thành khả năng tự tin khi giao tiếp và có hứng thú khi tham gia
hoạt động bàng tiếng Việt.
Hình thành nhân cách cho trẻ có lối sống văn minh, lịch sự
* Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài đặt ra nhằm cung cấp, xây dựng một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 45 tuổi dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm
quen với tác phẩm văn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Mầm non,
hòa nhập trẻ dân tộc thiểu số
3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số.
4. Giới hạn đề tài
Khuôn khổ nghiên cứu: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại lớp
chồi 3 trường mầm non Cư Pang.
Đối tượng khảo sát: Trẻ 4 5 tuổi lớp chồi 3 trường Mầm non Cư
Pang.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số
giai đoạn 2016 2020, định hướng 2025 với mục tiêu: Tập trung tăng cường
tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học người dân tộc thiểu số,
4 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
bảo đảm các em có kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt để hoàn
thành chương trình giáo dục mầm non và chương trình giáo dục tiểu học; tạo
tiền đề để học tập, lĩnh hội tri thức của các cấp học tiếp theo; góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững các dân tộc thiểu số, đóng
góp vào sự tiến bộ, phát triển của đất nước.
Thực hiện công văn số 56/ KH BGDĐT về việc triển khai chuyên đề
“Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 2020 với
mục tiêu: Xây dựng trường mầm non đảm bảo yêu cầu về môi trường giáo
dục (GD), công tác quản lí, chỉ đạo, hoạt động chăm sóc, giáo dục (CSGD)
theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
Theo sách “Hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân
tộc thiểu số trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non (mẫu giáo nhỡ
45 tuổi) nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Về mặt cơ bản đối với trẻ mẫu
giáo dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai. Trẻ mẫu giáo dân tộc
thiểu số khi học tiếng Việt có một số đặc điểm sau: Trẻ mẫu giáo dân tộc
thiểu số bắt đầu học tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ. Môi
trường giao tiếp tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về
mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường mầm non). Việc học
tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ
thứ nhất và sự giao thoa giữa ngôn ngữ mẹ đẻ với tiếng Việt. Sự khác biệt
văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới
Đối với trẻ dân tộc Kinh: 1 trẻ
Nội dung
Nghe hiểu nội dung tác
phẩm văn học.
Nói mạch lạc, rõ ràng, nói
đủ câu
Tự tin khi giao tiếp
Xếp loại
Số trẻ đạt
trẻ chưa đạt
1/1
0/1
100%
0%
1/1
0/1
100%
0%
1/1
Nghe hiểu nội dung tác
7/28
21/28
phẩm văn học.
25%
75%
Nói mạch lạc, rõ ràng, nói
6/28
22/28
đủ câu
21%
79%
Tự tin khi giao tiếp
5/8
24/28
Hạn chế: Đồ dùng đồ chơi tuy đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng
cho một số hoạt động, đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học.
Trẻ lớp chồi 3 97% con em dân tộc thiểu số, phần lớn các cháu chưa
qua lớp mầm nên việc tiếp xúc với ngôn ngữ tiếng Việt còn gặp nhiều khó
khăn, đa số trẻ còn sử dụng ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp trong các
hoạt động học tập và vui chơi ở trên lớp.
Đời sống kinh tế của một số phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn đa số
là làm nông trên 30% là hộ nghèo nên sự quan tâm về chăm sóc giáo dục trẻ
chưa cao.
Nguyên nhân chủ quan:
Ưu điểm: Được sự quan tâm sát xao của ban giám hiệu nhà trường.
Toàn thể giáo viên có chuyên môn về công tác giảng dạy, luôn học hỏi, trao
dồi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Giáo viên luôn nhiệt tình, đổi
mới trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đã tuyên truyền có hiệu quả của
việc đưa trẻ đến trường.
Trẻ hứng thú tham gia tích cực các hoạt động trong ngày. Có nề nếp tốt
ngoan ngoãn, lễ phép.
Hạn chế: Phụ huynh chưa thấy được sự cần thiết của việc trẻ đến
trường, chưa có kiến thức và kĩ năng về chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là về
mặt phát triển ngôn ngữ ở nhà không giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt mà
giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Đa số đời sống kinh tế của các hộ gia đình
còn gặp nhiều khó khăn thường xuyên phải đi làm rẫy nên không có điều
kiện quan tâm đến con em mình.
Trong thực tế chăm sóc và giáo dục trẻ, mặc dù trường đã chú ý, quan
tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ đồng bào dân tộc thiểu số nhưng
8 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
trẻ tập luyện nhiều hơn. Với những trẻ ở mức độ đạt tốt, khá tôi đưa ra
những bài tập phức tạp hơn tùy vào năng lực của từng trẻ. Mỗi ngày tôi sẽ
đánh giá theo mức độ đạt, chưa đạt ghi vào nhật kí giáo viên và tổng hợp cuối
chủ đề.
Kỹ năng nghe và quan sát: Khi đàm thoại, giao tiếp với trẻ dân tộc
thiểu số tôi dùng những lời nói nhẹ nhàng, gần gũi với cuộc sống hàng ngày
của trẻ giúp trẻ dễ hiểu và trả lời chính xác. Thường xuyên trao đổi gần gũi
với trẻ về cuộc sống hàng ngày của trẻ. Đặt nhiều câu hỏi chú trọng là
những câu hỏi gợi mở như: Trong câu chuyện“Gấu con chia quà”, tôi đưa ra
lời gấu mẹ dặn gấu con khi đi chợ mua quà “Con ra chợ mua hoa quả. Nhớ
đếm cho đủ người trong nhà kẻo mua thiếu đấy” hỏi trẻ: Tiếng gọi dặn này
của ai? Trong câu chuyện gì? Vì sao con biết? Đưa ra những câu hỏi về so
sánh như “Gấu mẹ và gấu con giống nhau và khác nhau ở điểm gì?” khi trẻ
trả lời còn lúng túng thì giáo viên gợi ý cho trẻ. Phân loại câu hỏi theo năng
lực của trẻ. Trẻ phát âm sai thì rèn cho trẻ phát âm đúng.
Phát triển kĩ năng nghe và quan sát cho trẻ bằng cách cho trẻ nghe một
câu chuyện, bài thơ trên tivi (chỉ có lời, không có hình hoặc chỉ có hình mà
không có lời) đưa ra câu hỏi củng cố nội dung của câu chuyện. Rồi tiến hành
cho trẻ kể lại tác phẩm văn học.
Ví dụ: Khi cho trẻ xem câu chuyện cáo, thỏ và gà trống thì lúc thì tôi
cho trẻ quan sát video không có tiếng, khi thì tôi cho một trẻ kể chuyện diễn
cảm tốt nhất cho trẻ nghe để trẻ có thể tập trung vào nghe và quan sát và đặt
ra những câu hỏi: Câu chuyện có tên là gì? Trong câu chuyện có những nhân
vật nào? Vì sao cáo xin đi ở nhờ nhà thỏ?...
Sau khi khảo sát như vậy và nghi chép cụ thể những trẻ chỉ được ở
mức “đạt” hoặc “chưa đạt” tôi lại tiến hành xây dựng kế hoạch bồi dưỡng
không, nói tắt, diễn đạt ý đầy đủ.
Ví dụ: Câu chuyện “Kiến con đi ô tô” cô hỏi trẻ: “Qua câu truyện con
yêu quý và học tập ai” thì trẻ sẽ trả lời “Kiến con, dê con” như vậy vẫn chưa
đủ câu, để giúp trẻ nói đủ câu tôi lại hỏi ngược lại lần nữa: “Ai yêu quý và
học tập kiến con và dê con nhỉ?” lúc này trẻ sẽ có câu trả lời đầy đủ đó là:
“con yêu quý và học tập kiến con và dê con ạ”.
Cho trẻ đọc thơ, kể chuyện dưới nhiều hình thức mà trẻ thích theo mô
hình, tranh, diễn cảm....luyện tập dưới nhiều hình thức tổ, nhóm, cá nhân.
Động viên trẻ tham gia đóng kịch để trẻ có kĩ năng nhớ và thể hiện lại câu
chuyện một cách sinh động theo ý tưởng của trẻ, từ đó giúp trẻ sắp xếp câu
từ một cách phù hợp, trẻ có thể hóa thân vào nhân vật và có những trải
nghiệm thú vị khi hóa thân vào những nhân vật khác nhau.
Hình ảnh đóng kịch: Cô bé choàng khăn đỏ
Nhờ có kỹ năng quan sát, nghe, nói, đọc trẻ sẽ biết thể hiện có hiệu
quả tác phẩm văn học. Đây cũng chính là những bước để tôi nắm bắt được
đặc điểm ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số trong lớp xem có gì khác biệt
hơn so với trẻ người kinh từ đó tôi đưa ra kế hoạch, phương pháp, nội dung
phát triển cho trẻ dân tộc thiểu số.
12 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
* Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị môi trường cho trẻ hoạt
động
Để xây dựng kế hoạch hoạt động đúng với sự phát triển của trẻ mẫu
giáo 4 5 tuổi. Tôi luôn luôn tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu về giáo dục mầm
non như: Chương trình giáo dục mầm non, tài liệu hướng dẫn xây dựng môi
gọn, dễ hiểu. Và cuối chủ đề tổng hợp xem đã đạt được so với kết quả đã
đưa ra ở đầu chủ đề hay chưa và tìm ra nguyên nhân để có biện pháp thay đổi
phù hợp với chủ đề sau.
Sau khi xây dựng kế hoạch tôi tiến hành cùng trẻ xây dựng môi trường
trong và ngoài lớp học theo hướng xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm
trùn tâm căn cứ vào tiêu chí: Các khu vực trong nhà trường được quy hoạch
theo hướng tận dụng các không gian để cho trẻ hoạt động phù hợp, linh hoạt,
phong phú, các góc hoạt động trong lớp và ngoài lớp mang tính mở, tạo điều
kiện cho trẻ dễ dàng lựa chọn và sử dụng sự vật, đồ vật, đồ chơi để thực
hành, trải nghiệm.
Môi trường trong lớp học: Tôi chú trọng trang trí theo hình thức động
nhiều hơn tĩnh trẻ tự thao tác ngay trên các góc và tự trang trí những sản
phẩm mà cô và trẻ thực hiện trên lớp. Ví dụ: Góc học tập trẻ có thể lấy thẻ lô
tô và cắm vào ô có chữ số tương ứng. Trên góc học tập rèn kĩ năng đếm, nhận
biết chữ số cho trẻ. Lấy mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ đồng bào dân tộc
thiểu số tôi chú trọng ở góc phân vai tạo ra những nhân vật đẹp giúp trẻ nhập
vai vào các ngành nghề trong xã hội như: bác sĩ, bán hàng, y tá... ở các góc này
trẻ có thể dùng những ngôn ngữ ngoài đời thường phản ánh xã hội thu nhỏ
theo ý của trẻ.
14 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
16 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
mảng tường ngoài lớp học thì vẽ các nhân vật tái hiện lại các câu chuyện
như: Nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Sự tích quả dưa hấu, tấm cám...Những
câu chuyện không những tạo ra mĩ quan đẹp mắt mà ở đó trẻ sẽ cùng nhau trò
chuyện về các nhân vật và nội dung của câu chuyện đó.
Tạo môi trường giao tiếp bằng ngôn ngữ cho trẻ: Ở các góc trang trí
ngoài trang trí hình ảnh tôi còn tạo môi trường ngôn ngữ cho trẻ bằng cách
gắn thêm các từ ở dưới tranh. Qua đó rèn kĩ năng phát âm cho trẻ, phát triển
vốn từ cho trẻ.
17 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
Góc bé học chủ đề: Các hiện tượng thiên nhiên
* Biện pháp 3: Linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động có chủ đích môn
làm quen văn học.
Hoạt động có chủ đích là hình thức cơ bản giáo viên là người gợi mở
giúp trẻ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách có hệ thống khi cho trẻ
làm quen với tác phẩm văn học.
Hoạt động trọng tâm: Đối với tiết thơ tôi cho trẻ đọc dưới nhiều hình
thức đọc diễn cảm, đọc theo tranh, đọc theo mô hình...tiết kể chuyện thì cho
trẻ chuyện sáng tạo, kể chuyện với rối, đóng kịch...Dựa vào kết quả quan sát
trên trẻ tôi đưa ra yêu cầu phù hợp với thực tế của trẻ trẻ ở mức “chưa đạt”
thì đọc thuộc bài thơ, câu chuyện, trẻ khá đọc thơ, kể chuyện theo tranh, mô
hình, trẻ tốt đóng kịch, kể chuyện sáng tạo. Những trẻ không kể được thì cho
trẻ kể từng đoạn, cho trẻ kể chuyện theo ý tưởng của trẻ , giáo viên là người
khơi gợi, giúp đỡ trẻ. Khi trẻ phát âm sai thì cô sửa sai cho trẻ.
19 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
Hình ảnh trẻ đọc thơ theo tranh và mô hình
Trong hoạt động có chủ đích tôi lồng ghép tăng cường tiếng Việt cho
trẻ dân tộc thiểu số để rèn kỹ năng phát âm cho cả lớp và những trẻ còn yếu.
Chú ý lồng ghép tích hợp nhẹ nhàng, không gây nhàm chán cho trẻ. Mời
những trẻ chưa đạt phát âm lại từ cần tăng cường
Ví dụ: Câu chuyện “Mây đen, mây trắng” để tăng cường từ mây đen,
mây trắng cho trẻ khi trẻ kể chuyện theo tranh minh họa có hình ảnh trực
quan mây đen, mây trắng tôi sẽ chỉ trực tiếp vào tranh cho trẻ đọc. Cho cả lớp
cùng phát âm, gọi một số trẻ phát âm ngọng, mất dấu phát âm lại. Trẻ vừa
phát triển vốn từ, vừa nhận biết hình dạng, màu sắc về mây đen, mây trắng.
Sử dụng trò chơi gây hứng thú cho trẻ nhằm củng cố bài thơ, câu
chuyện với nhiều trò chơi khác nhau mang tính học bằng chơi, chơi mà học
Ví dụ: Tiết thơ “Bé và mẹ” thì tôi sẽ tổ chức cho trẻ chơi trò “Ai nhanh
hơn” cho 3 tổ thi đua vượt qua chướng ngại vật và sắp xếp tranh đúng nội
“mưa”. Ở hoạt động tạo hình “Vẽ hoa mùa xuân” thì tôi cũng sẽ dẫn dắt bàng
câu đố “ Hoa gì nhỏ nhỏ. Cánh màu hồng tươi. Hễ thấy hoa cười. Đúng là tết
đến”.
Hoạt động góc : Góc phân vai tôi cho trẻ đóng kịch một tác phẩm văn
học ví dụ như truyện “ Gấu con chia quà” chủ đề gia đình cho trẻ đóng vai
gấu mẹ, gấu con.Tôi hướng dẫn trẻ biết nhập vai chơi, thể hiện được nội
dung ở góc chơi của mình lời lẽ của gấu mẹ phải như thế nào? Phải điềm
đảm từ tốn, gấu con phải ngoan ngoãn biết nghe lời mẹ, biết đi mua hàng và
chia quà cho các bạn như thế nào cho đúng... trẻ biết liên kết các góc chơi
với nhau.
21 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
Góc nghệ thuật, tổ chức hướng dẫn cho trẻ nặn, vẽ, cắt , xé, dán, tô
màu các nhân vật trong tác phẩm: gấu mẹ, gấu con. Múa hát đọc thơ, kể
chuyện về những bài hát những bài hát về chủ đề, ca ngợi về tình cảm:
“cháu yêu bà” “cả nhà thương nhau” “ Lấy tăm cho bà” “ Quạt nan”
Góc xây dựng tôi tổ chức cho trẻ xây dựng ngôi nhà của gấu
Góc thư viện học tập, cho trẻ xem tranh ảnh về câu truyện, hình ảnh
các nhân vật truyện, lô tô về theo chủ đề
Hình ảnh : Bé xem tranh truyện
Trong giờ ăn, tôi nói về tên món ăn, dinh dưỡng trong món ăn, cho trẻ
đọc tên các món ăn. Trước khi cho trẻ ăn tôi sẽ đọc câu đố về rau củ quả đố
trẻ như “ Củ gì nho nhỏ. Con thỏ thích ăn?” Cho trẻ trả lời và nói về tác
dụng khi ăn củ cà rốt. Giờ ngủ, trước khi trẻ ngủ tôi có thể kể chuyện cho
trẻ nghe hoặc hát những bài hát ru mang âm hưởng nhẹ nhàng đưa trẻ vào
23 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
tác phẩm văn học tại lớp Chồi 3 trường MN Cư Pang
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với bài thơ “ Rong và cá” ở lớp, thì tôi trao
đổi với phụ huynh là hôm nay trên lớp bé được học bài thơ đó và gợi ý cho
phụ huynh cho trẻ về nhà đọc lại cho cả nhà nghe.
Tuyền truyền với phụ huynh khi ở nhà thì thường xuyên trao đổi thông
tin và giao tiếp với trẻ bằng tiếng Việt. Và giải thích cho trẻ từ này tiếng ê đê
là nói như thế này nhưng tiếng Việt là nói một cách khác. Như vậy trẻ sẽ học
tiếng Việt qua từng ngày. Hay là phụ huynh có thể phiên âm những bài thơ,
câu chuyện ra tiếng Việt cho trẻ đọc.
Trên lớp có một bảng tuyên truyền treo ở nơi dễ thấy nhất thường
thường là cửa ra vào lớp. Bảng tuyên truyền ghi đầy đủ nội dung học trong
tuần, theo dõi sức khỏe từng giai đoạn. Ở góc tuyên truyền phụ huynh theo
dõi các hoạt động trên lớp để có thể ôn luyện thêm cho trẻ ở nhà.
Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm giới thiệu các loại sách phù hợp
với trẻ 4 5 tuổi tới phụ huynh để phụ huynh có thể dễ dàng tìm mua. Giờ
đón trẻ và trả trẻ trao đổi một số tồn tại của trẻ: cách phát âm, kỹ năng giao
tiếp… để phụ huynh nắm được. Từ đó phụ huynh kết hợp với giáo viên để
hướng dẫn, giúp đỡ trẻ.
24 Người thực hiện: Phạm Thị Hải Yến
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động làm quen với
̃ ̉
̉ ược tinh chinh xac, khoa h
́
́
́
ọc giưa cac giai phap va biên
̃ ́
̉
́ ̀ ̣
phap.
́
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu, phạm
vi và hiệu quả ứng dụng
Qua một thời gian tôi sử dụng các biện pháp trên áp dụng cho các cháu
ở lớp chồi 3, tôi thấy có sự chuyển biến một cách rõ rệt và kết quả có sự
chênh lệch giữa tỉ lệ trước khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài
như sau:
Nội dung
khảo sát
Trước khi áp dụng đề
tài
Số trẻ đạt
trẻ chưa
đạt
Sau khi áp dụng
đề tài