A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọ đề tài:
Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta đã
nói “Non sông Việt Nam có được vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được
sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ vào công học
tập của các cháu”. Trẻ em là những mầm non tương lai của đất nước, đất nước
có giàu mạnh, phồn vinh là nhờ vào những thế hệ mầm non tương lai này.
Trường mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đối với
trẻ mầm non nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng trẻ rất nhạy cảm với nghệ thuật
ngôn ngữ. Âm điệu hình tượng của các bài hát ru đồng giao, dân ca đi vào tâm
hồn tuổi thơ, những câu chuyện cổ tích thần thoại đặc biệt hấp dẫn trẻ. Khi trẻ
được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ văn học qua các bài ca giao, đồng
giao, các câu chuyện kể, bài thơ qua giao tiếp hàng ngày ở trường mầm non. Sẽ
giúp trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp
trong hành vi, trong cuộc sống. Từ đó giúp trẻ thêm yêu quê hương, yêu đất
nước. Bằng hình thức văn học mở ra cho trẻ cuộc sống xã hội và thiên nhiên, các
quan hệ qua lại của con người, những hình tượng đó giúp trẻ nhận thức rõ ràng,
chính xác của từ ngữ, làm tăng vốn từ, câu, nói rõ ràng, chính xác
2. Mục đích nghiên cứu:
Với những ý nghĩa rất quan trọng như trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài “Một
số biện pháp nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6
tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non
Thị Trấn Nga Sơn” Làm đề tài nghiên cứu cho mình với mong muốn góp phần
nâng cao chất lượng cho trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua làm quen với tác
phẩm văn học.
3. Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 5 - 6 tuổi trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn.
4. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp
quan sát. Phương pháp thực hành trải nghiệm. Phương pháp trực quan.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trẻ 5 - 6 tuổi sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc, phát triển vốn từ chịu ảnh
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM.
Trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn là trường trọng điểm chất lượng cao,
lá cờ đầu của ngành học mầm non. Trường có bề dầy thành tích nhiều năm liền
được UBND Huyện, UBND Tỉnh tặng giấy khen và Bằng khen, được Bộ GD &
ĐT, Thủ tướng chính phủ tặng Bằng khen, Năm 2007 trường Vinh dự được đón
nhận Huân Chương lao động Hạng 3 và nhiều phần thưởng khác, bên cạnh đó
nhà trường có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhiệt tình yêu nghề mến trẻ, có
trình độ chuyên môn vững vàng, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc trẻ.
Trường luôn đón nhận sự quan tâm của các cấp, các ngành của Huyện và
của Thị Trấn đầu tư xây dựng một ngôi trường tương đối khang trang có đầy đủ
các phòng học và phòng chức năng, đồ dùng đồ chơi đa dạng, phong phú về
chủng loại các cháu đến trường được ăn ngủ tại trường nên thuận tiện cho việc
vui chơi, học tập. Các bậc phụ huynh luôn tin tưởng đến chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ ở Trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn.
Bản thân tôi là một giáo viên trẻ có bề dày kinh nghiệm nhiều năm liền
được BGH phân công chủ nhiệm lớp 5 - 6 tuổi là một giáo viên có tâm huyết với
nghề năng động sáng tạo, tìm tòi khám phá những điều mới lạ trong chương
trình mầm non mới mặt khác các cháu lớp tôi rất nhanh nhẹn, tự tin, hồn nhiên,
hiếu động.
Nhà trường có đầy đủ đò dùng, đồ chơi, trang thiết bị phục vụ cho hoạt
động phát triển ngôn ngữ.
2
Bên cạnh đó có hội phụ huynh luôn sát cánh cùng với nhà trường cho nên
công tác phối kết hợp giữa gia đình trẻ và cô giáo đã đạt hiệu quả cao.
Song nhìn chung mỗi cháu có một đặc điểm riêng mỗi cá tính khác nhau
%
ST
%
ST
%
1
Trẻ mạnh dạn khi
giao tiếp.
37
10
27
10
27
12
32.4
5
37
8
21.6
10
27
14
37.8
5
13.5
Hiểu được một số từ
4 đơn giản gần gũi với
trẻ .
37
10
27
9
7
18.9
Kết quả đạt được trên trẻ thấp trẻ chưa mạnh dạn trong giao tiếp, tỷ lệ trẻ
diễn đạt được mong muốn cũng như cảm xúc và hiểu được một số từ đơn giản,
diễn đạt câu từ còn hạn chế nên tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp
nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông
qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tại trường mầm non Thị Trấn
Nga Sơn” Do tôi chủ nhiệm.
3
III. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Tự học, tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng sư phạm về nội
dung giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua làm quen với tác
phẩm văn học.
Mặc dù chuyên đề cho trẻ “Phát triển ngôn ngữ ” Đã dược triển khai và tổ
chức thực hiện trong nhiều năm qua, bản thân đã nắm được bản chất của chuyên
đề và vận dụng vào hoạt động giảng dạy. Là một giáo viên đứng lớp 5 - 6 tuổi
để nâng cao chất lượng cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học cho trẻ ở lớp, tôi
đã không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng để nắm chắc nội dung, phương pháp,
sáng tạo trong khi dạy trẻ.
Tham gia các buổi hội thảo, các buổi dự giờ, thao giảng của các bạn đồng
nghiệp cũng như các trường trọng điểm trong huyện. Qua đó tôi cùng bạn bè
đồng nghiệp được tìm hiểu những kiến thức vô cùng bổ ích:
Ngoài ra tôi còn tự học tập, tự nghiên cứu qua các tài liệu, các tạp san, qua
mạng Internet về những kiến thức có liên quan
Như vậy: Qua việc được tiếp thu các chuyên đề, dự các buổi hội thảo, dự
tranh truyện chữ to, thơ chữ to, các bài ca dao, đồng dao, truyện kể sáng tạo,
truyện cổ tích, truyện dân gian Việt Nam và một số tranh ảnh, tạp chí khác phù
hợp. Khi cho trẻ xem tranh tôi hướng dẫn cho trẻ đọc từ trái sang phải, từ trên
xuống dưới, bản thân cũng tham gia đọc sách cùng trẻ, tập cho trẻ kể chuyện
theo tranh, giúp trẻ hiểu nội dung ý nghĩa của chữ viết, rèn luyện khả năng quan
sát, chú ý có chủ định của trẻ. Để trẻ có thể lĩnh hội những kiến thức đã học ,
thích khám phá những đề tài mới tôi đã tạo cho trẻ một góc thư giãn nhỏ để trẻ
có thể tự do xem tranh, ảnh, theo các nội dung câu chuyện, nghe những bài thơ,
bài hát mà tôi đã ghi âm. Qua đó trẻ cảm thấy hứng thú hơn khi tham gia các
hoạt động.
Ví dụ: Bài thơ “Cái bát xinh xinh” Tôi cũng đưa hình ảnh mẹ cha của em
bé làm nghề công nhân và mang về cho em bé cái bát xinh đẹp.
5
2.2. Môi trường ngoài lớp học.
Bên cạnh đó môi trường ngoài lớp cũng được tôi quan tâm như: Tạo môi
trường văn học và chữ viết bằng cách tận dụng những khoảng tường trống để vẽ
các nhân vật có trong các câu chuyện, các bài thơ, ca dao, đồng dao, xây dựng
vường cổ tích, Giúp trẻ cảm thấy gần gũi với các nhân vật hơn, biết yêu cái tốt,
học tập cái tốt, ghét cái xấu, lên án cái xấu. Gợi mở cho trẻ cùng nhau kể
chuyện, đọc thơ.
(Hình ảnh: Tranh vẽ tường bài thơ “Mèo đi câu cá”)
6
Hay tôi đã tham mưu với nhà trường để xây dựng “Vườn cổ tích” của bé
thiên nhiên, trẻ dễ cảm nhận được cảm xúc như đến với chính mình.
Ví dụ: Khi dạy trẻ bài Thơ: “Bắp cải xanh” tôi đưa hình ảnh cây bắp cải
Cho trẻ cảm nhận được màu xanh mát của lá sắp vòng tròn.
Tôi luôn xác định giọng đọc của mình rất cần thiết phải xác định được
giọng điệu của bài thơ, ngắt nhịp rõ ràng, biết nhấn giọng vào những từ chứa
đựng nội dung chính, có thể đọc to, đọc kéo dài ra một chút hay đọc lắng xuống
và điều đặc biệt quan trọng là cách phát âm đúng, các thanh và các âm đầu, các
vần.
Ví dụ: Bài thơ: “Hoa nở”
“Hoa cà/ Tim tím
Hoa mướp /Vàng vàng
Hoa lựu / Chói chang
Đỏ như/ Đốm lửu
Với bài thơ: “Trăng ơi từ đâu đến” đây là bài thơ hay, có tác dụng luyện
âm cho trẻ. Cần hướng dẫn cho trẻ nhấn vào các câu, các từ mang hình ảnh so
sánh “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng bay như quả bóng”, “Trăng tròn như
8
mắt cá”, biết đọc chậm rãi, biểu lộ sự băn khoăn, tự hỏi ở các câu: “Trăng ơi từ
đâu đến? Hay từ một sân chơi”
Ngoài những điều kiện trên thì khi đọc mẫu cô phải đọc diễn cảm, thể hiện
điệu bộ bài thơ, tạo được sự hứng thú của bài thơ. Để trẻ tiếp nhận bài thơ một
cách nhẹ nhàng thì việc thay đổi hình thức cũng rất quan trọng đó là việc chuyển
thể thơ ca thành bài hát quen thuộc:“Bài hạt gạo làng ta”, bài “Quà 8/3”. Sẽ
giúp trẻ tiếp nhận từ ngôn ngữ thơ ca sang ngôn ngữ âm nhạc. Đồng thời có thể
thay đổi bằng hình thức ngâm thơ.
Thơ có đặc điểm riêng, ngôn ngữ làm thơ giàu hàm súc âm hưởng, vẻ đẹp
tòi sách báo thường xuyên để nâng cao thủ thuật đọc lên cao nhằm tạo cho trẻ sự
hứng thú, cảm nhận tác phẩm và hiểu tác phẩm sâu sắc và chú ý lắng nghe.
9
Ví dụ: Khi kể câu chuyện: “Tấm cám” Tôi đã xây dựng đoạn VideoClip
có nội dung câu chuyện, kèm nhạc đệm tạo sự hứng thú của trẻ tích cực tham gia
vào hoạt động.
Ví dụ: Truyện “Ba cô gái”
- Giọng của sóc nhẹ nhàng khi nói với chị út; Đanh thép gắt gỏng khi tỏ ra
giận dữ với chị cả và chị hai. Tôi luôn giúp trẻ tái tạo nội dung truyện, nhớ lại có
hệ thống các sự việc diễn ra trong câu truyện “Ba cô gái” tôi đã sử dụng các
dạng câu hỏi phù hợp từng đối tượng trẻ. Với trẻ yếu, trung bình có thể đặt câu
hỏi:
+ Các con vừa nghe cô kể câu truyện gì? Trong câu truyện bà mẹ sinh được
bao nhiêu cô con gái? Bà mẹ thương các cô con gái như thế nào? Vì sao Chị Hai
bị Sóc biến thành nhện? Vì sao Chị Cả bị Sóc biến thành rùa? Khi nghe báo tin
mẹ bị ốm, Chị Út làm gì?...
Với những trẻ khá hơn tôi đã nâng cao mức độ, sử dụng nhiều câu hỏi mở
nhằm giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo.
+ Bà mẹ nhờ Sóc mang thư, theo con có cách nào khác báo tin cho các con
của bà không? Khi bà ốm thì bà mong muốn điều gì? Chị Cả và Chị Hai đã trả
lời như thế nào mà làm Sóc con dận giữ Biến thành nhệ và rùa? So với Chị Cả
và Chị Hai chị Út có đức tính gì tốt?
Ngoài ra tôi còn sử dụng các câu hỏi đòi hỏi trẻ phải sử dụng nhiều mẫu
câu để trả lời như: Hành động nào con biết Chị Út rất thương mẹ? Trong 3
người con, con thích chị nào nhất? Vì sao? con có thể thay đoạn kết câu chuyện
như thế nào? Con có thể đặt tên khác cho câu chuyện là gì?.
- Tại sao Chó Sói lại có thể to tiếng quát nạt Dê Trắng như thế ?
- Thái độ của Dê Đen trước con Sói hung ác ấy có giống Dê Trắng không?
Tại sao?
- Vở kịch này đã gợi lên cho chúng ta điều gì?
Khi trao đổi với trẻ về kịch bản, tôi gợi ý trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của
các nhân vật và phẩm chất, tính cách nhân vật. Trẻ tưởng tượng ra vẻ ngoài của
các nhân vật, khung cảnh của hành động và nhanh chóng có những ấn tượng như
đã xem kịch, trẻ như nhìn thấy được toàn bộ cảnh trong kịch, như thấy mình
được diễn.
Trong quá trình trẻ học lời thoại, tôi không bắt trẻ học thuộc từng câu, từng
chữ giống cô mà tôi luôn khuyến khích trẻ tự sáng tạo. Trẻ có thể thêm, bớt từ,
những câu cảm thán, nhấn giọng tùy vào cảm xúc riêng mà trẻ có được trước
hoàn cảnh đó miễn sao không làm sai lệch nội dung cơ bản của tác phẩm đồng
thời tôi gợi ý hướng dẫn trẻ thể hiện sắc thái tình cảm của các nhân vật qua ngữ
điệu giọng nói, nét mặt.
Khi trẻ nhập vai, để giúp trẻ tưởng tượng sáng tạo tốt hơn, tôi có thể cho trẻ
xem thêm một số tranh minh họa thể hiện nét mặt, dáng vẻ của nhân vật trong
tác phẩm và phân tích nội dung bức tranh đó cho trẻ hiểu.
Ví dụ: Khi đóng kịch “Ai đáng khen nhiều hơn” tôi phân vai cho cháu
đóng nhân vật: Thỏ mẹ, thỏ anh, thỏ em, gà mơ, sóc.
11
Với câu truyện “Dê con nhanh trí” Tôi làm sân khấu có màn che, rồi trang
trí cảnh phù hợp với câu truyện. Bên cạnh việc làm mô hình sân khấu thì việc
hoá trang cho trẻ đóng kịch cũng rất cần thiết. Với nhân vật “Dê con nhanh trí”
tôi cho trẻ mặc mặt nạ hình dê con, sói, dê mẹ, bao tay, giầy hình chân dê mẹ, dê
con, sói và áo quần màu sắc khác nhau phù hợp với tính cách của từng nhân vật.
Ví dụ: Khi tổ chức cho trẻ đóng kịch tác phẩm “Sự tích hoa phù dung”.
Tôi mặc trang phục có màu sắc phù hợp màu của các loài hoa,
xưa, trong một khu rừng nọ có ba anh em nhà thỏ sống với nhau, cha mẹ Thỏ đi
công tác xa. Thỏ anh thì rất là ích kỷ, không thương hai chú em”. Sau khi trẻ kể
sáng tạo theo ý của mình xong tôi gợi ý để trẻ nghĩ ra tên truyện phù hợp với nội
dung câu chuyện, trò chuyện với trẻ về nội dung câu chuyện trẻ vừa kể.
* Hoạt động ngoài trời.
Với hoạt động ngoài trời việc lồng ghép cho trẻ làm quen tác phẩm văn học
càng gây được hứng thú nhiều hơn cho trẻ thông qua hoạt động quan sát và
thông qua trò chơi. Khi cho trẻ quan sát một đối tượng nào đó tôi cho trẻ đọc
một bài thơ và đi đến nơi quan sát.
Ví dụ: Trong chủ đề “Thế giới thực vật ” khi cho trẻ quan sát cây bắp cải
tôi cho trẻ đọc bài thơ “Cây bắp cải ” rồi đàm thoại trẻ.
Hay ở chủ đề “Thế giới động vật” khi cho trẻ quan sát con gà đang ấp tôi
có thể cho trẻ đọc bài thơ “Mười quả trứng tròn”. Tôi đã cho trẻ quan sát Đoạn
Videoclip hình ảnh. Như trong bài thơ “Gà nở” Tôi đã dùng những hình ảnh
thật về quả trứng đang nở: Cho trẻ quan sát gà mẹ đang ôm ấp và bảo vệ những
chú gà con xinh xắn, sau đó đàm thoại với trẻ về nội dung.
(Hình ảnh: Minh hoạ bài thơ “Gà nở” )
Khi tổ chức chơi trò chơi cho trẻ thì các bài đồng dao trong dân gian là tác
phẩm văn học dễ lôi cuốn trẻ với các câu từ gần gũi dễ hiểu, ngắn gọn và vui
tươi. Vì vậy trò chơi dân gian là trò chơi mà tôi hay tổ chức cho trẻ chơi.
Ví dụ: Trò chơi “Lộn cầu vồng” “Dung dăng dung dẻ” “Nu na nu nống”
13
* Khi ăn trưa: Trong khi ăn trưa để giúp trẻ ăn ngon miệng và cũng là cho
trẻ tiếp xúc thêm với tác phẩm văn học tôi đọc cho trẻ nghe các bài thơ, câu
chuyện ca dao, đồng dao vui tươi nhộn nhịp nói về các thực phẩm và giáo dục
trẻ trong bữa ăn.
Ví dụ: Ở chủ đề: “Thế giới thực vật ” Tôi cho trẻ đọc bài ca dao: “Lúa
truyện. Nhờ vào việc sử dụng nghệ thuật rối trong hoạt động học mà số trẻ có
khả năng cảm thụ tác phẩm văn học đạt hiệu quả cao, đa số trẻ nhớ được nội
dung câu truyện, lời thoại của các nhân vật trong truyện và qua đó trẻ biết nhận
xét đánh giá tính cách của nhân vật trong truyện như ai là người xấu? Ai là
người tốt. Từ đó tạo cho trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc và vốn từ được tốt
hơn.
5.2. Ứng dụng công nghệ thông tin.
14
- Để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tốt khi cho trẻ hoạt động làm quen với tác
phẩm văn học, dù là thơ hay truyện. Muốn đạt kết quả cao thì việc đầu tiên tôi
phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học, đồ dùng đẹp hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của
trẻ. Trước đây tôi và các đồng nghiệp thường sử dụng tranh minh hoạ làm đồ
dùng chính trong hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Song với
hình thức mới hiện nay, thời đại ứng dụng công nghệ thông tin nên tôi đã biết
ứng dụng để vào bài giảng mang lại kết quả rất cao.
- Với bài thơ “Màu của quả” Tôi đã chụp các loại quả có trong bài thơ và
in vào đĩa VCD. Sau đó tôi trình chiếu cho trẻ xem trước khi cho trẻ đọc bài thơ
“Màu của quả”. Tôi mở cho trẻ xem vào hoạt động chiều, hoạt động đón - Trả
trẻ để trẻ được củng cố ôn luyện và đọc lại bài thơ, trẻ thuộc và nhớ nội dung bài
thơ rất nhanh. Qua đó cũng phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.
(Hình ảnh: Chụp minh hoạ cho bài thơ “Màu của quả”)
Ví dụ: Với hoạt động thơ: “Hoa Cúc vàng” Tôi xây dựng chương trình
papol có hình ảnh bông hoa cúc vàng, trên mỗi bông hoa cúc có các chữ số từ 15. Mỗi bông hoa có một số và mỗi số tương ứng với một câu hỏi theo trình tự
nội dung bài thơ. Trẻ ở các đội sẽ cử đại diện lên chọn bông hoa số bằng cách
kích chuột vào số đó. Sau khi trẻ chọn xong bông hoa sẽ nở ra một câu hỏi, cô
giáo sẽ đọc và yêu cầu trẻ phải trả lời theo nội dung của câu hỏi cô vừa đọc.
7. Phối hợp với các bậc phụ huynh trong việc kể chuyện, đọc thơ cho
trẻ nghe ở gia đình giúp trẻ phát triển ngôn ngữ.
Phối hợp với phụ huynh là một giải pháp vô cùng quan trọng, lôi cuốn sự
quan tâm của các bậc phụ huynh để họ cùng tham gia thực hiện như mua sắm
đầy đủ 100% đồ dùng học tập cho trẻ, đặc biệt là đồ dùng phục vụ cho hoạt
động làm quen với tác phẩm văn học nói riêng và các hoạt động nói chung, tạo
cơ hội để các bậc phụ huynh hiểu được công tác chăm sóc giáo dục trẻ dù vất vả
như thế nào. Từ đó thực hiện tốt lượng thông tin hai chiều để phối kết hợp chặt
chẽ bằng nhiều hình thức như:
- Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức và tầm quan
trọng của trẻ làm quen với tác phẩm văn học nhằm phát triển hiểu biết và ngôn
ngữ của trẻ. Trò chuyện, trao đổi với các bậc phụ huynh, thông qua hoạt động
đón trả trẻ hàng ngày để họ nắm bắt được tình hình sức khoẻ, khả năng nhận
thức của trẻ.
- Bồi dưỡng cho trẻ kết hợp với các bậc phụ huynh thông qua các bài thơ,
truyện tạo điều kiện cho trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ và nhận thức riêng
16
của trẻ và những tình huống kích thích trẻ để trẻ được mạnh dạn, tự tin, tích cực
trong hoạt động.
- Trong chương trình học ở các chủ đề tôi in ấn các bài thơ, câu truyện treo
ở góc trao đổi phụ huynh và gửi về nhà cho phụ huynh nhờ phụ huynh về dạy trẻ
- Tổ chức họp phụ huynh theo định kỳ để thông báo tình hình học tập và
sức khỏe của trẻ.
VI. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC VỚI BẢN THÂN ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG
* Kết quả khảo sát lần 2 cho thấy:
%
1
Trẻ mạnh dạn khi giao
tiếp.
37
15
40.5
10
27
12
32.4
0
0
2
Trẻ trả lời được các
câu hỏi đàm thoại.
27
14
37.8
0
0
Hiểu được một số từ
4 đơn giản gần gũi với
trẻ .
37
17
50
9
24.3
11
29.7
0
Trẻ tự tin khi giao tiếp với người lớn biết trả lời các câu hỏi đủ câu, biết kể lại
các câu chuyện đã được nghe. Vốn từ phong phú và đa dạng của trẻ đó là niềm
vui, niềm động viên lớn đối với tôi.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
17
Muốn giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua cho tẻ làm quen với
văn học tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ để có biện pháp giáo dục
phù hợp. Vận dụng các biện pháp giáo dục mọi lúc, mọi nơi. Chú ý đến trẻ cá
biệt, luôn tạo ra niềm tin, sự hứng thú cho trẻ.
- Đầu tư thời gian để nghiên cứu kĩ đề tài để có các phương pháp dạy học
cụ thể, phù hợp và đạt hiệu quả tốt nhất.
- Trước khi thực hiện một đề tài phải chuẩn bị chu đáo đồ dùng trực quan,
thuộc bài soạn cũng như gợi mở kiến thức cho trẻ. Thông qua các hoạt động ở
mọi lúc, mọi nơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Trong quá trình thực hiện tôi đã đúc rút lên một số kinh nghiệm sau: Để
phát triển ngôn ngữ tốt cho trẻ thì nhiệm vụ của người giáo viên là: Tạo môi
trường giao lưu ngôn ngữ tự do, thoải mái. Tạo cơ hội cho trẻ nghe âm thanh
khác nhau từ môi trường xung quanh. Chú ý lắng nghe trẻ nói, giúp đỡ, khích lệ
động viên, thu hút trẻ trò chuyện với giáo viên, với các bạn và với những người
khác. Hướng dẫn trẻ làm quen với tác phẩm văn học phù hợp với khả năng của
trẻ. Tổ chức cho trẻ hoạt động kết hợp với lời nói trong các trò chơi, bài hát,
đóng kịch. Tôn trọng khuyến khích sự sáng tạo của trẻ khi sử dụng câu, từ.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ của tôi trong việc nâng cao chất lượng phát
triển ngôn ngữ cho trẻ 5- 6 tuổi tại trường mầm non Thị Trấn Nga Sơn. Trong
quá trình thực hiện đề tài này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học, các cấp và bạn bè
2
- Đối tượng nghiên cứu
2
- Phương pháp nghiên cứu
2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
2.1: Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh ngiệm
2
2.1: Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3
2.3: Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
5
2.4: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục
18