Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 5
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 7
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu ........................................................ 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................. 7
5. Giả thuyết khoa học ................................................................................. 7
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 8
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 8
8. Những đóng góp của đề tài ..................................................................... 9
NỘI DUNG .................................................................................................... 10
CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TRI
GIÁC THỊ GIÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
LQVMTXQ Ở TRƢỜNG MẦM NON ......................................................... 10
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề TGTG của trẻ. ............................................... 10
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài .......................................................... 10
1.1.2.Các nghiên cứu về ở Việt Nam. ............................................................ 14
1.2. Lý luận về tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi. ........................................... 16
1.2.1. Khái niềm về tri giác thị giác ............................................................... 16
1.2.2. Đặc điểm tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi. .......................................... 18
1.2.3. Vai trò phát triển tri giác thị giác cho trẻ 5-6 tuổi. ............................. 22
1.3.Lý luận về hoạt động làm quen MTXQ ở trƣờng mầm non. ................... 24
1.3.1.Khái niệm về hoạt động LQMTXQ ở trường mầm non. ....................... 24
1.3.2.Đặc điểm làm quen MTXQ của trẻ 5-6 tuổi .......................................... 25
1.4.Ảnh hƣởng của hoạt động LQMTXQ đối với sự phát triển của trẻ ......... 27
1.5. Phát triển tri giác thị giác cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động LQMTXQ ở
trƣờng mầm non. ............................................................................................ 29
1.5.1.Vai trò của hoạt động LQMTXQ đối với sự phát triển tri giác thị giác
2.5.1.5. So sánh khả năng tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi theo vùng miền . 48
2.5.2. Thực trạng biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác của trẻ qua
hoạt động LQMTXQ ....................................................................................... 51
2.5.2.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của tri giác thị giác .................. 51
2
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
2.5.2.2. Ý kiến của giáo viên về mức độ phát triển của tri giác thị giác ...... 51
2.5.2.3 . Quan điểm của giáo viên về những nguyên nhân ảnh hưởng đến khả
năng tri giác thị giác của trẻ .......................................................................... 53
2.5.2.4 . Thực trạng việc giáo viên sử dụng hoạt động cho trẻ LQMTXQ để
phát triển tri giác thị giác cho trẻ ở trong trường mầm non ......................... 54
2.5.2.5. Thực trạng về biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động LQVMTXQ ở trường mầm non. .......................................... 55
Tiểu kết chương 2: .......................................................................................... 58
CHƢƠNG III: XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TRI GIÁC
THỊ GIÁC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG
LQVMTXQ Ở TRƢỜNG MẦM NON VÀ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM ........... 59
3.1. Xây dựng một số biện pháp nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho
trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động LQMTXQ ............................................................ 59
3.1.1. Cơ sở xây dựng biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động LQMTXQ ở trường mầm non ................ 59
3.1.1.1. Đặc điểm của hoạt động LQMTXQ ở trường mầm non .................... 59
3.1.1.2. Dựa vào đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ em ......................... 61
3.1.1.3. Dựa vào đặc điểm nhận biết về MTXQ của trẻ ............................... 62
3.1.1.4. Dựa vào các quy luật của tri giác: ................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
4
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới quanh ta không ngừng vận động và phát triển, các sự vật hiện
tƣợng trong thế giới luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tuy
nhiên, mỗi thứ trong cái thế giới đó vẫn luôn là nó với đầy đủ những đặc
trƣng của riêng mình. Nhìn nhận đúng với những gì vốn có của sự vật hiện
tƣợng xem nhƣ là điều kiện để con ngƣời tiếp nhận, thích ứng và cải tạo thế
giới này. Quá trình nhận thức cảm tính đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động của con ngƣời. Trong đó, tri giác có ý nghĩa vô cùng to lớn. Quá trình tri
giác cho chúng ta có đƣợc nhiều hơn những gì mà tổng các giác quan đem
lại. Trẻ em lứa tuổi mầm non sở hữu một cơ thể với cấu trúc và chức năng rất
đặc biệt. Ở giai đoạn này, trẻ luôn có khát vọng đƣợc khám phá, tìm hiểu, và
chiếm lĩnh mọi thứ xung quanh. Và điều này, chính là cơ hội hấp dẫn cho các
nhà sƣ phạm nghiên cứu và vạch ra đƣợc những con đƣờng để phát triển khả
năng tri giác cho trẻ.
K.Mac đã khẳng định:“ Lồng trong con mắt là những nhà lý luận”, điều
này nhấn mạnh hơn vai trò của tri giác và đặc biệt là tri giác thị giác.
Từ buổi bình minh của loài ngƣời trên trái đất con ngƣời đã có mối quan
hệ mật thiết với môi trƣờng xung quanh. Cho đến ngày nay, dù xã hội loài
ngƣời đã có những đƣợc thành tựu khoa học rực rỡ trên nhiều lĩnh vực, song
mối quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng không bị phá vỡ mà ngày càng
Phát triển tri giác thị giác còn giúp trẻ tự tin hơn, nhanh chóng hơn khi giải
quyết các nhiệm vụ học tập ở trƣờng tiểu học sau này.
Nội dung phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đã đƣợc
chƣơng trình GDMN mới quan tâm và thực hiện lồng ghép trong nhiều hoạt
động ở trƣờng mầm non. Tuy nhiên, hoạt động LQMTXQ là một trong
những hoạt động chứa nhiều tiềm năng lớn trong việc phát triển khả năng tri
giác thị giác cho trẻ thế những trên thực tế giáo viên không khai thác hết
những tiềm năng đó cũng nhƣ chƣa tận dụng tốt những cách thức tối ƣu để
phát triển khả năng này.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề
tài: “Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông
qua hoạt động làm quen với môi trường xung quanh”.
6
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi mong muốn xây dựng một số biện
pháp nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
hoạt động làm quen với môi trƣờng xung quanh nhằm giúp trẻ hoàn thiện hơn
quá trình nhận thức cảm tính, đồng thời giúp trẻ thuận lợi hơn khi đến trƣờng
phổ thông .
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
trong hoạt động làm quen với môi trƣờng xung quanh ở trƣờng mầm non.
3.2. Khách thể nghiên cứu
với môi trƣờng xung quanh, trên cơ sở đó xây dựng một số biện pháp nhằm
phát triển tri giác thị giác của trẻ 5-6 tuổi.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát biểu hiện khả năng tri giác thi giác của trẻ trong hoạt động
khám phá môi trƣờng xung quanh. Quan sát và đánh giá những biện pháp mà
giáo viên sử dụng trong quá trình tổ chức làm quen môi trƣờng xung quanh
nhằm phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ cũng nhƣ quan sát tất cả quá
trình tổ chức hoạt động cho trẻ làm quen môi trƣờng xung quanh ở trƣờng
mầm non.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên nhằm phát hiện thực trạng sử dụng biện pháp
phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ trong hoạt động làm quen với môi
trƣờng xung quanh. Trao đổi với giáo viên để nắm đƣợc đặc điểm phát triển
tâm lý (trong đó chú trọng đến khả năng tri giác thị giác) của trẻ.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng anket (phiếu hỏi)
Sử dụng một hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin có liên quan đến đề
tài nghiên cứu. Đối tƣợng điều tra là những giáo viên đã và đang dạy trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi ở trƣờng mầm non Hoạ Mi- Thành Phố Hồ Chí Minh và trƣờng
mầm non Sơn Ca- Tỉnh Bình thuận.
8
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.2.5.1.Thực nghiệm phát hiện
Tổ chức khảo sát khả năng tri giác thị giác của trẻ
đƣợc các thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng xung quanh. Nó tạo nên cơ sở định
hƣớng cho các hoạt động của con ngƣời trong hiện thực xung quanh. Đồng
thời nó cũng giúp con ngƣời điều chỉnh đƣợc hành vi phù hợp với các thuộc
tính của sự vật, hiện tƣợng trong mối quan hệ khách quan của vật thể. Chính
vì tri giác thị giác có ý nghĩa quan trọng với đời sống của con ngƣời và đặc
biệt là đối với trẻ mầm non. Cho nên có rất nhiều công trình cả trên thế giới
và Việt Nam đã nghiên cứu về vấn đề này.
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Theo J. Piagiet ( nhà tâm lý học Thụy sĩ) cho rằng các cấu trúc giác động
là nguồn gốc của những thao tác tƣ duy sau này. Trí tuệ của con ngƣời bắt đầu từ
hành động biến đổi các đối tƣợng xung quanh sao cho tƣơng ứng với hiện thực.
Để hiểu sự phát triển của trẻ em, cần phải xem xét sự tiến hóa của các tri giác
của nó, sau khi nhắc lại cấu trúc và các sơ đồ cảm giác vận động. Tri giác là một
trƣờng hợp riêng của những hoạt động giác động. Nhƣng tính chất riêng biệt của
tri giác là ở chỗ nó cho thấy rõ mặt hình tƣợng của nhận thức về các hiện thực,
còn hành động nói chung ( và đây là hành động cảm giác – vận động) về căn bản
có tính thao tác và làm biến đổi cái hiện thực. Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu
do đó phải xác định vai trò của tri giác trong sự tiến hóa trí tuệ của trẻ em, đặt
trong mối quan hệ với vai trò của hành động và của các thao tác bắt nguồn từ
hành động trong tiến trình nhập tâm và cấu trúc sau này.
10
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
Nhà tâm lý học Liên xô L.X. Vƣgốtxky xuất phát từ quan điểm hệ
thống. Ông cho rằng: Những cấu trúc cảm xúc là sản phẩm của sự phát triển,
các cấu trúc này nằm trong nhân của mối liên hệ trung gian trong não và đƣợc
động làm quen với môi trường xung quanh
cảm giác với toàn bộ các thuộc tính và bộ phận khác nhau của sự vật hoặc
hiện tượng đó”[Tr 115,Tâm lý học tập 1, Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội
1974]. Qua đó ta thấy tri giác phát sinh do sự tác động trực tiếp của các sự vật
vào các cơ quan cảm giác. Tri giác không những phản ánh thuộc tính riêng lẻ
của sự vât mà còn phản ánh những thuộc tính khác nhau của trong mối quan
hệ tổng thể của chúng. Do sự kết hợp và ảnh hƣởng qua lại của các cảm giác
khác nhau, nên chúng ta nhận biết đƣợc những thuộc tính không gian, thời
gian, độ lớn, hình dạng, độ xa, độ nhanh và hƣớng chuyển động của sự vật.
Tri giác bao giờ cũng đƣợc bổ xung và dựa vào những tri thức, kinh nghiệm
đã có. Tri giác còn phụ thuộc vào đặc điểm của chủ thể tri giác. Tri giác phát
sinh trên cơ sở hành động thực tiễn của con ngƣời và sự lĩnh hội kinh nghiệm
xã hội của họ. Do sự phát triển của xã hội, tri giác ngày càng trở nên đầy đủ
và nhiều mặt hơn, ngày càng phản ánh các thuộc tính và quan hệ muôn màu,
muôn vẻ của sự vật đúng đắn hơn và do đó ngày càng định hƣớng đúng đắn
hơn cho con ngƣời trong thế giới bên ngoài.
Theo giáo sƣ N.Đ. Lê-vi-tôp tác giả của cuốn “ Tâm lý học trẻ em và
tâm lý học sư phạm” thì tri giác của trẻ 2-3 tuổi có liên hệ mật thiết với hành
động thực tế. Quá trình tri giác của trẻ ở lứa tuổi này có tính chất đứt đoạn và
chƣa biết tổ chức tri giác theo một nhiệm vụ đề ra, còn trẻ em ở thời kỳ trƣớc
tuổi đi học có thể tri giác theo kế hoạch nhất định. Cũng trong cuốn sách này
tác giả đã nhấn mạnh ý nghĩa của sự tác động lẫn nhau giữa hệ thống tín hiệu
thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai trong quá trình nhận thức cảm tính. Nếu
tri giác sự vật mà không động não có thể dẫn đến tình trạng “ thấy cây mà
không thấy rừng”, làm cho cả quá trình tri giác trở nên hời hợt. Khi phán đoán
về sự vật mà mình tri giác chƣa thật đầy đủ và chính xác sẽ dẫn đến những giả
định sai lầm, tùy tiện. Nhƣ vậy, tác giả đã cho thấy vai trò của quan trọng của
những kinh nghiệm cũ , và ngôn ngữ trong quá trình tri giác.
của con người về sự vật hoặc hiện tượng trong toàn bộ khi chúng tác động
trực tiếp lên bộ máy cảm giác”. [ tr212, A.A Luibinkaia, tâm lý học trẻ em
tập 1, Sở giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh]. Tri giác chính là sự tổng hòa các
cảm giác, nhƣng tri giác lớn hơn tổng số những cảm giác nhận đƣợc từ cùng
13
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
một đối tƣợng. Nhƣ vậy, cơ chế của quá trình tri giác phức tạp hơn nhiều so
với cảm giác. Sự tri giác sự vật nhƣ là đối tƣợng phức tạp đòi hỏi chức năng
phân tích tổng hợp của võ não.
1.1.2.Các nghiên cứu về ở Việt Nam.
Các nhà tâm lý học Việt Nam đã vận dụng và phát triển các thành tựu
nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới trong công tác giáo dục nhằm
phát triển các hoạt động nhận thức cho ngƣời học.
Tri giác là nguồn tƣ liệu dồi dào để thực hiện các hoạt động nhận thức
cấp cao tiếp theo. Ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề tri giác. Điển hình nhƣ luận án thạc sỹ của Nguyễn Thị Kế “ Nghiên cứu
một số biểu hiện tri giác không gian của trẻ tuổi mẫu giáo”, Luận án phó tiến
sĩ của Lê Thanh Thủy “Ảnh hưởng của tri giác tới tưởng tượng sáng tạo
trong hoạt động vẽ của trẻ 5-6 tuổi”… Những công trình nghiên cứu này đã
đóng góp phần nào vào kho tang lý luận của tâm lý học cũng nhƣ mang lại giá
trị ứng dụng thực tiễn cao.
Tâm lý học ứng dụng trong mọi mặt của đời sống của con ngƣời. Chất
lƣợng hoạt động của con ngƣời phần lớn phụ thuộc vào quá trình nhận thức.vì
vậy mà các nhà tâm lý – giáo dục đã không ngừng nghiên cứu nắm vững
những đặc điểm, quy luật, những yêu cầu về phẩm chất các quá trình nhận
nhận qua võng mạc của mắt, bước đầu là một quá trình vật lý, cũng như trong
máy ảnh; từ võng mạc những tín hiệu chuyển lên một trong khu thần kinh dưới
võ não, rồi lên võ não: đây là quá trình sinh lý đến võ não lại kết hợp với nhiều
cảm giác và ký ức, cảm xúc thành tri giác, đó là quá trình tâm lý. Tri giác là
kết quả của một quá trình kiến tạo phức tạp. trong quá trình ấy, sự phối hợp
giữa cảm giác và vận động rất quan trọng. Con người chủ động thăm dò môi
trường để tiếp nhận và xử lý nhiều thông tin, tri giác là một yếu tố giúp vào sự
thích nghi” [tr 295,Theo từ điển tâm lý học- Nguyễn Khắc Viện]
Qua những định nghĩa ở trên về tri giác có thể tóm lại nhƣ sau:
- Não bộ của con ngƣời nhận nhiệm vụ phản ánh sự vật, hiện tƣợng
khách quan với toàn bộ các thuộc tính của chúng một cách trọn vẹn. sự phản
ánh đối tƣợng một cách trọn vẹn và trực tiếp đó gọi là tri giác.
- Tri giác có một quá trình diễn biến phức tạp và có mối quan hệ với các
yếu tố khác. Tri giác bao gồm quá trình xử lý, liên kết các trung khu thần
15
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
kinh tƣơng trên võ não để xây dựng nên một hình ảnh trọn vẹn, đồng thời kết
hợp với chính hoạt động của cơ thể, với cảm cúc, kinh nghiệm. Vậy tri giác
vừa là sản phẩm của quá trình sinh lý, vừa là sản phẩm của quá trình tâm lý.
- Con ngƣời phải tri giác từ những đối tƣợng của thế giới khách quan
thông qua quá trình vận động của chính cơ thể mình. Những hình ảnh thu
đƣợc từ quá trình tri giác giúp chúng ta có đƣợc những biểu tƣợng chân thực
về thế giới xung quanh, mặc khác còn chúng con ngƣời thích nghi với môi
trƣờng bên ngoài. Đó là điều kiện quan trọng để chúng ta thích ứng và cải tạo
thế giới này.
Hoạt động tri giác của con ngƣời đƣợc hình thành ngay từ lúc bé,
nhƣng hành động tri giác này còn hết sức nghèo nàn và không hoàn chỉnh.
Lúc này, trẻ chỉ hiểu đƣợc những thuộc tính mà đồ vật trực tiếp bày ra. Khi
trẻ lên ba chính nhu cầu hoạt động với đồ vật đã mở ra nhiều bƣớc chuyển về
mặt tâm lý. Hành động tri giác của trẻ đƣợc thiết lập trên cơ sở vận động,
khám phá thế giới đồ vật xung quanh trẻ. Khoảng 4-5 tuổi trẻ đã biết thiết lập
mối tƣơng quan của sự vật hiện tƣợng trong môi trƣờng xung quanh bằng thị
giác của mình.
Quá trình hoạt động tích cực của trẻ đã củng cố hơn cho sự chính xác
của hành động tri giác thị giác. Sự chính xác của tri giác thị giác góp phần lớn
vào khả năng và năng lực hành động thực tiễn của trẻ. Giúp trẻ tiếp nhận đúng
những dấu hiệu đặc trƣng, cơ bản của sự vật trong thế giới xung quanh mình,
đồng thời làm tiền đề tâm lý cho việc học ở lớp một.
Tóm lại, tri giác thị giác là loại tri giác sử dụng cơ quan thị giác để tiếp
nhận thông tin từ thế giới bên ngoài. Tri giác thị giác giúp con ngƣời lĩnh hội
đƣợc những thuộc tính của sự vật xung quanh. Có thể nói, thông qua tri giác
thị giác mà chúng ta có những biểu tƣợng về hình dạng, kích thƣớc, màu
sắc,vị trí, và tính chất của sự vật, hiện tƣợng. Nhƣ vậy, những thông tin từ sự
thụ cảm này của cơ quan thị giác đã đóng vai trò quan trọng đối với sự thích
ứng của chủ thể tri giác đối với môi trƣờng xung quanh.
Tri giác thị giác là sản phẩm của quá trình tâm sinh lý phức hợp. Trong
đó, để có đƣợc sản phẩm tri giác thị giác trƣớc hết chủ thể phải sử dụng chính
cơ thể của mình để nhận thức chính mình và sự vật hiện tƣợng xung quanh.
17
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
giác tinh vi và đầy đủ dần. Chẳng hạn nhƣ trẻ đã biết nhìn trƣớc bằng mắt để
chọn các đối tƣợng thích hợp theo một tƣơng quan nhất định rồi sau đó mới tổ
chức hành động thiết lập các tƣơng quan cho đúng. Hành động tri giác đƣợc
hình thành ở giai đoạn này. Ngoài việc trẻ biết thiết lập đồ vật phù hợp với
hình dạng, màu sắc, độ lớn theo tƣơng quan nhất định thì trẻ cũng nhận ra
đƣợc vị trí, phƣơng hƣớng và trình tự sắp xếp của đồ vật.
Tri giác thị giác của trẻ dƣới 3 tuổi chủ yếu tập trung vào hình dạng và
màu sắc của đối tƣợng. “ Những đối tượng rực rở, đẹp đẽ đặc biệt thu hút trẻ
từ một đến ba tuổi” [ A.A Liublinxkaia, tr 215 , Tâm lý học trẻ em tập 1]. Và
các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ lên ba tuổi hoàn toàn có thể
tiếp nhận đƣợc những biểu tƣợng của năm hình ( tròn, bầu dục, vuông, chữ
nhật, tam giác) và tám màu ( đỏ, da cam, vàng, lục, xanh, tím, trắng và đen)[
tr118, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non].
Suốt giai đoạn ấu nhi hành động bằng mắt đƣợc phát triển mạnh mẽ.
Trẻ đã biết so sánh đối chiếu thuộc tính của các đối tƣợng bằng mắt. Trẻ dùng
mắt để định hƣớng hành động chứ không còn ƣớm thử nữa. Hành động định
hƣớng bằng mắt giúp trẻ lĩnh hội đƣợc biểu tƣợng về các đối tƣợng. Các biểu
tƣợng này đƣợc trẻ tích lũy và ghi lại thành kinh nghiệm của mình. Sau đó trẻ
sử dụng kinh nghiệm này vào cuộc sống để đối chiếu với các vật khác trong
tri giác. Chẳn hạn, khi tri giác hình tròn thì trẻ thấy giống quả cam, giống
bánh xe, hay giống quả bóng…
Đến lƣa tuổi mẫu giáo tất cả các loại tri giác của trẻ sự phát triển mạnh.
“ Tri giác của trẻ 5-6 tuổi khác biệt rõ rệt về mặt chất lượng so với tri giác
của trẻ ở độ tuổi nhỏ hơn. Sự khác biệt đó thể hiện ở mức độ phong phú của
các kiểu, loại tri giác, ở mức độ chủ định của quá trình tri giác, ở độ nhạy
Nhƣ nghiên cứu ở trên, hoạt động với đồ vật của trẻ ấu nhi đã giúp trẻ
nhận thức đƣợc hình dáng, kích thƣớc của đối tƣợng. Bằng chứng là trẻ xòe
cử động tay sao cho tƣơng ứng với độ lớn của vật, hoặc trẻ cố gắng với tay
dài ngắn sao cho ứng với khoảng cách giữa trẻ và đồ vật. Đến giai đoạn 5-6
tuổi, tri giác về kích thƣớc của trẻ đã thành thục. Trẻ đã phân biệt đƣợc kích
thƣớc to, nhỏ của các vật và sắp xếp chúng một cách chính xác theo yêu cầu
nhỏ dần hoặc to dần. Trẻ có thể dễ dàng phân biệt đƣợc đối tƣợng lớn khỏi
20
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
đối tƣợng nhỏ. Nhƣ vậy, có thể thấy trẻ đã có khả năng phân biệt đƣợc kích
thƣớc to, nhỏ của vật mà rất ít khi bị nhầm lẫn khái niệm này.
Tri giác không gian của trẻ đƣợc hình thành do quá trình trẻ tác động tích
cực lên đối tƣợng. Những thực nghiệm của N.LPhigurin, M.P. Đennhisova,
T.I.Đanhiusepxkaia, A.A. Prexman…chỉ ra rằng lúc 2 tuổi , trẻ nhận biết độ
xa và địa thế đối tƣợng dựa vào cảm giác cơ cùng với cảm giác thị giác.Đến
ba bốn tuổi chƣc năng của bộ máy phân tích vận động là chủ đạo. Chỉ sau
năm sáu tuổi, trẻ có thể định hƣớng về khoảng cách dựa vào tri giác thị giác.
Tuy nhiên, phƣơng hƣớng và vị trí của các đối tƣợng là những thuộc tính
tƣơng đối khó xác định đối với trẻ. Khả năng tri giác không gian của trẻ còn
non nớt và gặp rất nhiều trở ngại. Giai đoạn mẫu giáo là giai đoạn đầu tiên trẻ
làm quen với hƣớng và vị trí của các đối tƣợng trong không gian. Những
nghiên cứu của A. Ia Kôlotna, Ph.N. Seminakin, A.E. kôzureva,
K.N.Kornhinlop đã chỉ ra rằng: “chừng nào trẻ chưa nắm vững sự gọi tên
không gian, trẻ trong thực tế có thể định hướng có kết quả chỉ trong hoàn
cảnh quen thuộc” [A.A Liublinxkaia, tr 229 , Tâm lý học trẻ em tập 1]. Có
khó khăn trong các hoạt động của mình.
1.2.3. Vai trò phát triển tri giác thị giác cho trẻ 5-6 tuổi.
Mục tiêu của bậc học giáo dục mầm non là cần cho trẻ lĩnh hội những
biểu tƣợng sơ đẳng về môi trƣờng xung quanh, hình thành cơ sở tình cảm đạo
đức ban đầu cho trẻ, và chuẩn bị cho trẻ vào trƣờng phổ thông. Theo quan
điểm của các nhà khoa học giáo dục mầm non trên thế giới, trong khu vực và
ở nƣớc ta việc hình thành cho trẻ những biểu tƣợng ban đầu về thế giới xung
quanh, phát triển và hoàn thiện dần các quá trình tâm lý nhận thức có ý nghĩa
lớn cho việc chuẩn bị về tâm lý cũng nhƣ tâm thế cho trẻ mẫu giáo chuẩn bị
vào lơp một.
Bƣớc vào lớp một là một bƣớc ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Ở trƣờng
mầm non vui chơi là hoạt động chủ yếu thì lên lớp một hoạt động học tập là
hoạt động chủ đạo. Sự thay đổi về hoạt động chủ đạo này buộc trẻ phải hoạt
động trí tuệ nghiêm túc. Mọi hoạt động ở trƣờng phổ thông mang tính bắt
buộc vì thế đòi hỏi trẻ phải cố gắng nhiều cả về thể xác lẫn trí tuệ.
Để thích nghi tốt ở trƣờng phổ thông, thì ngay ở độ tuổi mẫu giáo trẻ
phải đƣợc chuẩn bị một số phẩm chất tâm lý cần thiết cho việc học tập. Việc
22
Đề tài: Biện pháp phát triển tri giác thị giác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt
động làm quen với môi trường xung quanh
phát triển tri giác thị giác cho trẻ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vào lớp một
trẻ không chỉ làm quen với các chữ viết hay con số mà còn đòi hỏi trẻ phải
đọc, phải viết, phải hiểu và ứng dụng đƣợc nó.Tri giác thị giác chuẩn sẽ giúp
trẻ nhận biết và phân biệt chính xác các thông tin của đối tƣợng.
Tri giác thị giác là khả năng diễn giải những gì trẻ thấy đê sử dụng thông
tin đó một cách phù hợp. Sự diễn giải thông tin của mắt đúng với sự vật, hiện
tƣợng trong môi trƣờng xung quanh cho trẻ. Tri giác thị giác chính xác cho
phép trẻ xác định đúng vị trí, thứ tự của một vật. Ví dụ nhƣ trẻ ngồi ở bàn thứ
mấy trong lớp, đứng ở vị trí nào trong tổ. Hoặc trong tập hợp chữ thì chữ nào
sẽ đứng trƣớc chữ nào để tạo thành từ có nghĩa…Nhƣ vậy việc phát triển tri
giác nhìn để giúp trẻ nhận biết đúng thứ tự sắp xếp của các sự vật, hiện tƣợng
trong môi trƣờng xung quanh sẽ giúp cho trẻ không bị nhầm lẫn trong hoạt
động học tập, cũng nhƣ trong chế độ sinh hoạt của trẻ ở trƣờng phổ thông. Để
nhận biết, phân biệt chính xác những đối tƣợng trong môi trƣờng xung quanh
Tóm lại, việc rèn luyện, phát triển khả năng tri giác thị giác cho trẻ mẫu
giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển toàn diện
của trẻ. Thiết nghĩ, để tri giác trị giác chính xác đứa trẻ ngoài việc nổ lực quan
sát ra thì trẻ còn phải huy động sự tập trung chú ý, sự nổ lực khám phá. Và
đây cũng là phẩm chất tâm lý cần thiết tạo tiền đề tâm thế sẵn sàng cho việc
học tập sau này của trẻ. Tri giác thị giác giúp trẻ có những biểu tƣợng chính
xác về thế giới khách quan để thích nghi tốt với môi trƣờng sống và học tập,
đặc biệt là đối với việc học đọc, học viết, và khả năng tính toán ở trƣờng phổ
thông. Vì vậy, khả năng tri giác thị giác tốt là một yếu tố quan trọng để đảm
bảo kết quả học tập của trẻ. Nó còn là điều kiện đảm bảo về mặt tâm lý để
chuẩn bị cho trẻ vào lớp một.
1.3.Lý luận về hoạt động làm quen MTXQ ở trƣờng mầm non.
1.3.1.Khái niệm về hoạt động LQMTXQ ở trường mầm non.
Thuật ngữ MTXQ xuất hiện cùng lúc với sự ra đời sinh quyển của trái
đất. MTXQ đó là tất cả những gì bao quanh cuộc sống con ngƣời, là tất cả
những gì con ngƣời đang nhận thức và tìm kiếm trong tƣơng lại. Quá trình
hình thành, biến đổi và phát triển không ngừng của MTXQ ta có vô vàn
những điều kỳ thú mà con ngƣời phải hiểu, phải “nhìn” để sống cùng với môi
trƣờng đó.
24
thân mình, về vị trí của mình trong gia đình và xã hội. Đặc biệt là trẻ luôn
25