BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Giáng Hương
BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SO SÁNH CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Bùi Thị Giáng Hương
BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SO SÁNH CỦA TRẺ
MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN
VỚI MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG
MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non )
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công
trình nào.
Tác giả
Bùi Thị Giáng Hương
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 5
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 6
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................. 6
5. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................................... 6
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 6
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 7
8. Đóng góp mới của đề tài ................................................................................................. 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SO
SÁNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI ................................................................. 9
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................................... 9
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài ........................................................................... 9
1.1.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam .............................................................................. 11
1.2. Cơ sở lý luận về biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi
3.1.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp ................................................................................. 71
3.1.2. Nguyên tắc xây dựng biện pháp ........................................................................... 71
3.1.3. Một số biện pháp cụ thể ........................................................................................ 72
3.2. Thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi
trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ................................................ 84
3.2.1 Tổ chức thử nghiệm ............................................................................................... 84
3.2.2. Tiến hành thử nghiệm ........................................................................................... 84
3.2.3. Kết quả thử nghiệm ............................................................................................... 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 110
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 115
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại văn hào L.N. Tônxtôi cũng đã từng nói: “Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ có sau này
khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu”. Giáo dục cần nhận thấy vai
trò to lớn trong việc định hướng cho trẻ phát triển đúng đắn từ thời thơ ấu. Để định hướng
cho trẻ có nhiều cơ hội phát triển, trải nghiệm… để trở thành những con người năng động,
sáng tạo, có khả năng giải quyết những tình huống phức tạp trong hiện tại và trong tương
lai, chúng ta cần chú ý đến vấn đề giáo dục trí tuệ cho trẻ.
Sự phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo là sự biến đổi về chất trong hoạt động nhận thức,
mà biểu hiện rõ ở sự phát triển các quá trình nhận thức, hình thành, phát triển khả năng nhận
thức nhằm nâng cao dần mức độ nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh, về bản thân.
Giáo dục trí tuệ phải được rèn luyện ngay từ khi trẻ còn bé, nó sẽ trở thành thói quen, thành
nhu cầu được nhận thức, được khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh. Một đứa trẻ không
có sự tích cực, chủ động, tự lập trong nhận thức sẽ khó mà tiếp cận được với những kiến
3.3. Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 56 tuổi trong HĐLQVMTXQ.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục ở trường mầm non.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 5-6 tuổi trong HĐLQVMTXQ.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Thực trạng sử dụng biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong
hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay còn hạn chế, nguyên nhân do GVMN chưa đánh giá đúng khả năng so
sánh của trẻ, chưa tìm ra được các biện pháp nâng cao khả năng so sánh cho trẻ phù hợp với
yêu cầu của HĐLQVMTXQ. Nếu GVMN tìm ra và vận dụng một số biện pháp tác động
như sơ đồ hóa tiến trình so sánh, đa dạng hóa phương tiện so sánh và đa dạng hóa đối tượng
so sánh thì khả năng so sánh của trẻ MG 5-6 tuổi sẽ được nâng cao.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu khả năng so sánh của trẻ MG 5-6 tuổi và biện pháp nâng cao khả
năng so sánh của trẻ ở chủ điểm Thế giới động vật, thế giới thực vật và thế giới đồ vật trong
HĐLQVMTXQ.
6
- Đề tài nghiên cứu khả năng so sánh của trẻ MG 5-6 tuổi ở việc tìm ra đặc điểm giống và
khác nhau giữa các đối tượng so sánh.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên nhóm khách thể: trường Mầm non 10, Quận 3 và trường
mầm non Rạng Đông 10, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.
lí trường Mầm non.
7.2.4.Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
* Mục đích
- Phát hiện thực trạng khả năng so sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi ở 3 chủ điểm: Thế giới
động vật, thế giới thực vật và thế giới đồ vật.
- Tìm hiểu các biện pháp nâng cao khả năng so sánh cho trẻ MG 5 – 6 tuổi trong các kế
hoạch GD của GVMN trong 3 chủ điểm: Thế giới động vật, thế giới thực vật và thế giới đồ
vật.
*Cách tiến hành
- Nghiên cứu kế hoạch tổ chức các HĐLQVMTXQ của GVMN.
- Phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ sau khi thực hiện 3 bài tập khảo sát.
7.2.5. Phương pháp thống kê toán học
* Mục đích: Xử lý các dữ kiện thu được phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá
trình nghiên cứu.
*Cách tiến hành: Đề tài sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để tính điểm trung bình,
tần số, tỉ lệ %, độ lệch chuẩn (std), kiểm nghiệm t, mức ý nghĩa (sig), hệ số tin cậy.
8. Đóng góp mới của đề tài
- Đề tài góp phần xác định một số vấn đề lý luận về biện pháp nâng cao khả năng so sánh
của trẻ MG 5-6 tuổi.
- Đề tài chỉ ra được thực trạng biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 5-6 tuổi
ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số biện pháp nâng
cao khả năng so sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi.
8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KHẢ
NĂNG SO SÁNH CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
bản), rồi đến so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa” [44, tr.29]
-
Các tác giả A.M. Lêusina, B.B. Đanilôva khi nghiên cứu về so sánh của trẻ mầm
non đã nghiên cứu các biện pháp hình thành kỹ năng so sánh số lượng trên cơ sở thiết
lập tương ứng 1:1 cho trẻ mẫu giáo ở lứa tuổi khác nhau [20]
- Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy: Ở tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ đang phát
triển mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là tư duy của trẻ thể
hiện bước đầu sự chuyển từ kiểu tư duy trực quan hành động sang kiểu tư duy trực quan
hình tượng và chuyển sang kiểu tư duy khái niệm hay còn gọi là tư duy ngôn ngữ, tuy
nhiên, lúc này tư duy của trẻ còn mang nặng tính cụ thể và trực quan. Sự phát triển tư
duy của trẻ phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của các thao tác tư duy, các phương thức
mà trẻ lĩnh hội các biểu tượng và khái niệm đầu tiên về các sự vật và hiện tượng xung
quanh.
Để giúp trẻ tích lũy được khối lượng kiến thức và nắm được các thao tác tư duy, trong đó
có thao tác so sánh, theo các nhà giáo dục việc giáo dục trí tuệ cho trẻ là rất cần thiết.
-
“Nội dung giáo dục trí tuệ trong sư phạm mẫu giáo được hiểu là hình thành cho trẻ một
khối lượng kiến thức nhất định về đồ vật và các hiện tượng xung quanh (về đời sống xã hội, về
thế giới tự nhiên, động vật, thực vật v.v.) và các phương pháp hoạt động tư duy – tức là kỹ năng
quan sát, phân tích, so sánh, làm những tổng hợp đơn giản.” [44, tr.15]
- Tác giả A.A.Liublinxkaia đã nhận định “Để phán đoán, rút ra kết luận, so sánh và khái
quát cần phải nắm vững không chỉ mỗi thao tác riêng biệt mà còn phải nắm vững phương pháp
chung của hoạt động trí tuệ” [ 30, tr.40]. Vì vậy N.D.Điatsencô, A.I.Lipkina, U.V.Uliencôva
cho rằng “Khi tổ chức giảng dạy chuyên biệt có thể cải thiện việc thực hiện các thao tác tư duy
riêng biệt như so sánh, phân loại, khái quát hóa lẫn tiến trình chung của quá trình tư duy” [30,
tr.42].
1.1.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về so sánh của trẻ mẫu giáo.
- Năm 1996, Nguyễn Quang Uẩn trong Tâm lí học đại cương nêu: “So sánh là quá trình
dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự
bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức”. [58]
- Ngô Công Hoàn đề cập đến thao tác so sánh của trẻ mầm non. Trẻ nhà trẻ từ 24 - 36
tháng đã biết “So sánh bánh này to hơn bánh kia, quả táo này to hơn quả táo kia” đến mẫu
giáo bé “thao tác so sánh từ vật có khối lượng to, nhỏ khác nhau (trẻ chọn táo, cam, chuối,
trẻ thích quả to hơn quả bé” [22, tr.80]. Đối với trẻ mẫu giáo nhỡ, thao tác so sánh phát triển
ở mức cao hơn “nhờ có sự tích lũy nhiều biểu tượng về sự vật, hiện tượng, con người, … và
mối quan hệ giữa chúng dưới dạng hình ảnh mà trẻ tiến hành các thao tác tư duy với các
nhiệm vụ đơn giản (tuy nhiên sự lắp ghép so sánh còn khập khiễng theo lối duy kỉ)”. Đối
11
với trẻ MG 5-6 tuổi “về một số thao tác trí tuệ, cần tập cho trẻ như so sánh, phân tích các chi
tiết, thuộc tính, những sự vật hiện tượng, giống nhau, khác nhau, năm nội dung (màu sắc,
hình dạng, kích thước, chữ cái) được trẻ phân tích, so sánh có kết quả tốt hơn nếu trẻ được
học ở trường mầm non. [22, tr.138]
- Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết nhận thấy “Cuối tuổi ấu nhi, trên cơ sở tư duy trực quan
hành động phát triển mạnh, bắt đầu có sự xuất hiện một số hành động tư duy được thực hiện
trong óc, không cần những phép thử bên ngoài” [54, tr.192]. Và đến “cuối tuổi mẫu giáo, trẻ
lĩnh hội được các chuẩn. Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu
muôn vẻ những dạng cơ bản của thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh
thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xung quanh các chuẩn đó. [54, tr.327]
- Vũ Thị Nho quan niệm trẻ nhà trẻ biết so sánh nhờ “đối chiếu những thuộc tính bên
ngoài của đồ vật, trẻ có thể nhận ra người thân trong ảnh, và các đồ vật vẽ trong tranh một
cách khá chính xác, nghĩa là trẻ đồng nhất dấu hiệu của các đối tượng thất với biểu tượng,
hình ảnh của chúng [36, tr.55]. Trẻ mẫu giáo đã phát triển kiểu tư duy trực quan hình tượng.
Đến cuối tuổi MG lớn, ngôn ngữ thường đi trước hành động tựa như việc trẻ vạch kế hoạch
Nhìn chung, các tác giả này đều có một mối quan tâm chung đó là đi sâu nghiên cứu
khả năng so sánh của trẻ MN để từ đó đưa ra các phương pháp, biện pháp GD để phát triển
khả năng so sánh của trẻ. Mỗi tác giả đều xác định cho mình một cách tiếp cận khác nhau,
có tác giả tập trung đi sâu việc nghiên cứu phát triển khả năng so sánh cho trẻ bằng cách sử
dụng trò chơi, nghiên cứu phương pháp quan sát để phát triển khả năng so sánh. Tuy nhiên
những nghiên cứu này tập trung xoay quanh việc phát triển khả năng so sánh cho trẻ trong
thông qua hoạt động làm quen với toán, việc nâng cao khả năng so sánh của trẻ ở
HĐLQVMTXQ vẫn còn bỏ ngỏ. Do đó, đề tài nghiên cứu “Biện pháp nâng cao khả năng so
sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh ở một số
trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” mà chúng tôi chọn là hoàn toàn hợp lí và cần
thiết, từ đó góp một phần nhỏ vào việc nâng cao khả năng so sánh cho trẻ ở trường MN hiện
nay.
1.2. Cơ sở lý luận về biện pháp nâng cao khả năng so sánh của trẻ MG 5 – 6 tuổi
trong hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
1.2.1. Khái niệm công cụ
1.2.1.1. Khả năng
- Trong triết học Mác – Lênin có đề cập phạm trù khả năng được dùng để chỉ những gì
hiện chưa có, nhưng sẽ có, sẽ tới khi có các điều kiện tương ứng. Khả năng là "cái hiện chưa
có" nhưng bản thân khả năng với tư cách "cái chưa có" đó lại tồn tại. Tức là các sự vật được
nói tới trong khả năng chưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng để xuất hiện sự vật đó thì tồn
tại. Mọi khả năng đều là khả năng thực tế, nghĩa là đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra.
13
Khả năng trong những điều kiện thích hợp sẽ thành hiện thực và từ trong hiện thực do sự
vận động nội tại của nó, sẽ sinh ra khả năng mới, khả năng mới này lại trở thành hiện thực
khi có điều kiện thích hợp. [8]
Như vậy, theo cách hiểu của triết học, khả năng và hiện thực là 2 phạm trù khác nhau
nhưng không thể tách rời nhau mà chuyển hóa cho nhau. Nếu tách chúng ra thì thì trong
đem lại hiệu suất hoạt động chắc chắn cho cá nhân, nghĩa là đảm bảo cho cá nhân thực hiện
có kết quả hoạt động, nó mang tính bền vững.
1.2.1.2. So sánh
Theo X. L. Rubinstein: “Hạt nhân của hoạt động trí tuệ là các thao tác tư duy: phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…” [44].Chính vì thế, so sánh là một trong những khả
năng quan trọng thường xuyên diễn ra trong quá trình hoạt động trí tuệ của con người. Bởi
lẽ, để nhận biết được cái này giống hay khác với cái kia thì trong đầu óc của con người diễn
ra quá trình so sánh.Vậy hiểu so sánh là gì, chúng ta tìm hiểu một số khái niệm cơ bản như
sau:
- Daparôgiét xem so sánh là đối chiếu các sự vật trong ý nghĩ, tìm ra chỗ giống nhau và
khác nhau giữa chúng. [11]
- So sánh là đối chiếu, xem xét coi cái bên nào hơn, bên nào kém. [31]
- So sánh là nhìn cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự
hơn kém. [42]
- Theo Vũ Dũng: “So sánh – Một trong những thao tác của tư duy làm chức năng đối
chiếu các đối tượng để phát hiện ra những nét khác nhau giữa chúng”. [12]
- A.A. Liublinxkaia nhận định “Thao tác tư duy đầu tiên là so sánh. Nó đòi hỏi sự phân
tích có mục đích mỗi một đối tượng đem so sánh, đòi hỏi sự xác định cái khác nhau và giống
nhau của các dấu hiệu của chúng.” [30, tr.19]
- So sánh – một trong những thao tác tư duy làm chức năng đối chiếu các đối tượng để
phát hiện ra những nét khác nhau giữa chúng. [3]
- Grant Evans coi so sánh là “một cách nhận thức”, “không chỉ để hiểu những sự khác
biệt.., mà còn để thấy sự tương đồng”. [14, tr. 31]
- Trần Ngọc Lan cho rằng: So sánh là thao tác của tư duy trong đó có thể tư duy dùng
trí óc để xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng (hoặc giữa các
thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của một số sự vật, hiện tượng). [28]
Bên cạnh đó, theo một số nhà tâm lí học như: Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần
Ngọc Thủy và Nguyễn Quang Uẩn thì: “So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự
giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không
bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức” [41] hoặc “So sánh là sự xác định sự giống nhau
định [37] thì biện pháp là cách làm cụ thể để tiến hành giải quyết một nhiệm vụ nào đó
hướng tới thực hiện mục đích đặt ra. Trong quá trình dạy học biện pháp được nhắc đến
trong mối liên hệ với phương pháp dạy học, trong đó biện pháp dạy học là những yếu tố bộ
phận hợp thành phương pháp dạy học.
“Biện pháp theo quan niệm hiện đại còn là kỹ thuật sử dụng phương tiện phục vụ cho
phương pháp, là yếu tố hỗ trợ cho phương pháp đạt tới kết quả cao”. [37, tr.48]
Tóm lại, biện pháp là cách làm cụ thể để tiến hành giải quyết một nhiệm vụ cụ thể
16
trong một hoạt động nào đó nhằm đạt được một mục đích nhất định. Biện pháp là một phạm
trù mang tính biện chứng nhưng không phải bất biến mà nó có sự thay đổi phù hợp với tình
huống, hoàn cảnh và nhu cầu thực tiễn. Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả giải quyết công việc, đạt được mục đích đề ra.
1.2.1.5. Hoạt động làm quen với môi trường xung quanh
Hoạt động
Bất kì một sự vật hiện tượng nào cũng luôn vận động. Bằng vận động và thông qua vận
động mà sự vật hiện tượng luôn tồn tại và thể hiện đặc tính của nó. Bởi vậy, vận động là
thuộc tính vốn có, là phương thức tồn tại của sự vật, hiện tượng. Ở con người, thuộc tính đó,
phương thức đó chính là hoạt động.
Khi nói về khái niệm hoạt động thì mỗi nhà nghiên cứu lại có cách định nghĩa khác
nhau [ 8]:
- Dưới góc độ sinh học, người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh cơ
bắp của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu của
mình.
- Dưới góc độ triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và khách thể.
Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan. Ở góc độ này,
hoạt động được xem là quá trình trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực “chủ thể khách thể”.
- Dưới góc độ tâm lí học, xuất phát từ quan niệm cho rằng cuộc sống của con người, là
chuỗi những hoạt động giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là
Môi trường là một khái niệm gắn liền với sự sống bao gồm những thực thể và hiện tượng
trong
tự
nhiên
bảo
đảm
cho
sự
phát
sinh
và
phát
triển
của
sự
sống.