SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. ĐỀ TÀI:
MỘT VÀI BIỆN PHÁP CHUẨN BỊ TÂM THẾ CHO TRẺ VÀO LỚP 1
Người viết: Nguyễn Thị Lợi
Đơn vị: Trường Mẫu giáo Đại Hưng
II. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Bác Hồ của chúng ta đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”
Quả đúng vậy trẻ em trông như một búp non nếu được chăm sóc chu đáo thì
chắc chắn chồi non sẽ phát triển tốt. Cũng như con người nếu được chăm sóc có sự
đầu tư ngay từ nhỏ thì trẻ sẽ dần dần lớn lên và phát triển toàn diện cả về “đức, trí,
lao, thể, mỹ”.
Với lứa tuổi Mầm non, đối với trẻ mẫu giáo lớn sắp bước vào lớp 1, chuẩn
bị bước sang một bước ngoặc vô cùng quan trọng đối với trẻ, vì trẻ đang sống
trong một môi trường được sự chăm lo chu đáo của các cô giáo Mầm non giống
như người mẹ thứ hai. Chuyển sang giai đoạn hoàn toàn mới một cách đột ngột trẻ
sẽ khó thích nghi. Vì thế cô giáo Mầm non phải tạo cho trẻ một tâm thế vững vàng
để trẻ sẵn sàng bước vào lớp 1 một cách thoải mái và tự tin, nhằm giúp trẻ tiếp thu
kiến thức tốt ở bậc tiểu học.
Chính vì lý do ấy tôi đã chọn đề tài: “Một vài biện pháp chuẩn bị tâm thế cho trẻ
vào lớp 1”. Trong những năm được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn tôi đã nghiên
cứu, tìm hiểu từ đó tôi rút ra một số biện pháp cụ thể để áp dụng vào thực tế lớp
mình nhằm giúp trẻ có một tâm thế vững vàng bước vào lớp 1. Trẻ cần được chuẩn
bị tâm lý sẵn sàng đi học hay còn gọi là “độ chín mùi” một cách hoàn thiện nhất.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trong mỗi giai đoạn phát triển trẻ đều mang những đặc điểm đặc trưng Việc
chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là một sự chuyển biến mang tính nhảy
vọt có sự biến đổi cả về chất và lượng. Sự phát triển ở một giai đoạn nhất định vừa
là kết quả của giai đoạn trước đó vừa là tiền đề cho bước phát triển của giai đoạn
tiếp theo. Nếu trẻ được phát triển tốt ở giai đoạn này cũng chính là sự chuẩn bị tốt
cho giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên không phải trẻ em nào cũng dễ dàng thích nghi
vào lớp 1 không chỉ yêu cầu trẻ nhận biết thành thạo 29 chữ cái, đếm thành thạo
trong phạm vi 10 mà quan trọng hơn cả là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách. Chuẩn bị
tâm thế cho trẻ vào lớp 1, cần hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng
tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần
thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn,
đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
1. Chuẩn bị về thể lực:
Điều kiện vật chất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của người học
sinh là thể lực. Thể lực phát triển tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho những tư chất,
những yếu tố sinh học với tư cách là tiền đề vật chất của sự phát triển nhân cách có
cơ hội phát huy tác dụng. Trẻ có thể lực tốt, khỏe mạnh, tăng cân đều. da dẻ hồng
hào… tất cả các yếu tố này giúp trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động học tập và
vui chơi đạt kết quả tốt nhất.
Chuẩn bị về mặt thể lực cho trẻ không đơn thuần là sự chuẩn bị về lượng
phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể mà còn là sự chuẩn bị về chất cụ thể là
năng lực làm việc bền bỉ, dẻo dai, có khả năng chống lại sự mệt mỏi của thần kinh,
cơ bắp, độ khéo léo của bàn tay, tinh nhạy của các giác quan…Để có được các
phẩm chất đó, cô giáo cần tạo một chế độ sinh hoạt, ăn uống, nghỉ ngơi, luyện
tập…cho trẻ một cách khoa học và hợp lý cả về thời gian cũng như phù hợp với
đặc điểm phát triển riêng của từng trẻ.
Giáo viên thực hiện đúng chế độ sinh hoạt trong một ngày từ đón trẻ đến trả
trẻ: Thường xuyên tổ chức cho trẻ tập thể dục buổi sáng, tập đúng, đủ các động tác.
Cho trẻ hoạt động ngoài trời: giáo viên cần tổ chức một cách khoa học nội dung bám
sát theo từng chủ đề, cho trẻ chơi các trò chơi vận động thay đổi phù hợp độ tuổi, phù
hợp chủ đề đang thực hiện. Tổ chức tốt các hoạt động chơi và hoạt động học, cho trẻ
ngủ đúng giờ, ngủ sâu và đủ giấc.
Quan tâm đến những trẻ khó ngủ, hay nói chuyện trong giờ ngủ…
Ví dụ: Lớp tôi có cháu Minh, cháu Lâm rất khó ngủ, ở nhà phụ huynh bảo
2
ứng được nhu cầu nhận thức của trẻ ở lứa tuổi này. Điều này được thực hiện thông
qua các hoạt động học và hoạt động chơi ở trẻ.
Thông qua hoạt động khám phá khoa học dạy trẻ biết các bộ phận của cơ thể
người, tìm hiểu về động vật thực vật, một số hiện tượng tự nhiên. Khám phá về xã
hội: tìm hiểu về bản thân, gia đình, họ hàng cộng đồng, tìm hiểu về trường lớp
mầm non, tiểu học, một số nghề phổ biến trong xã hội, các danh lam thắng cảnh và
các ngày hội, ngày lễ…Các kiến thức đó được trải dài trong 10 chủ đề trong năm.
Rèn luyện các thao tác trí tuệ, kích thích những hứng thú đối với hoạt động trí
óc như ham hiểu biết, kích thích khám phá những điều mới lạ…gợi mở, khuyến khích
trẻ quan sát sự vật, hiện tượng xung quanh. Biết phát hiện, so sánh các đặc điểm riêng
biệt của các sự vật hiện tượng (các con vật, cỏ cây, hoa lá, hiện tượng thời tiết…) biết
phán đoán, suy luận qua nhiều câu đố, trò chơi, chuyện kể…giúp trẻ hiểu biết thêm
thế giới xung quanh. Rèn luyện sự tập trung chú ý, ghi nhớ có chủ định, linh hoạt
trong việc sử dụng các thao tác trí tuệ, kích thích trẻ năng động, sáng tạo, ham tìm tòi
khám phá.
Khả năng định hướng trong không gian và thời gian cũng là một biểu hiện của
sự phát triển trí tuệ. Việc xác định được vị trí không gian, thời gian của các sự vật
3
hiện tượng: mình đang ở đâu, vật ở trên dưới, trước sau, phải trái …mình đang ở thời
điểm nào của thời gian: sáng, trưa, chiều, tối bây giờ là mùa đông hay mùa thu, mùa
xuân hay mùa hè…Biết ước tính quá khứ, hiện tại và tương lai tức là biết được “bây
giờ”, “lát nữa”, “hôm qua”, “ngày mai” “năm ngoái”, “năm nay” “sang năm”…dạy
trẻ nhận biết đếm thành thạo đến 10, biết so sánh, thêm bớt tạo nhóm có số lượng 10,
phân chia 10 đối tượng thành 2 nhóm và biết kết quả các nhóm. Nhận biết các chữ số
1-10 và các số liền trước, liền sau, cung cấp cho trẻ biết số chẵn, số lẻ… được thể hiện
trong hoạt động làm quen với toán. Nhận biết và phát âm thành thạo 29 chữ cái, nhận
biết các chữ cái có trong từ, cụm từ, nhận biết các chữ cái thông qua trò chơi… thông
qua hoạt động làm quen với chữ cái. Giúp trẻ hiểu nội dung bài thơ, câu chuyện dành cho
kính trọng người lớn, đoàn kết thân ái với bạn bè, thông cảm thương xót những
người bất hạnh. Biết được vị trí của mình trong gia đình và trong xã hội (là con ai,
cháu ai, em hay anh chị của ai, là học sinh lớp nào…) và cách ứng xử phù hợp với
vai trò của mình. Giáo dục hành vi và qui tắc ứng xử xã hội trong sinh hoạt ở gia
đình, trường lớp, cộng đồng gần gũi…giáo dục trẻ biết quan tâm bảo vệ môi
4
trường. Nhận biết và thể hiện cảm xúc, tình cảm với con người, sự vật và hiện
tượng xung quanh…. Là sự chuẩn bị rất cần thiết để giúp trẻ thích nghi tốt với môi
trường học tập mới. Thông qua các hoạt động mang tính tập thể, trẻ làm quen dần
với sinh hoạt trong nhóm bạn bè, qua đó làm nảy nở trẻ những động cơ xã hội tốt
đẹp, hào hứng được đi học, được trở thành một người học sinh. Được trải nghiệm
những câu chuyện kể, các trò chơi, sử dụng những đồ dùng học tập của lớp một,
tham quan trường tiểu học..(chủ điểm trường tiểu học) giúp trẻ có những biểu
tượng chính xác về trường phổ thông về các mối quan hệ giữa bạn bè, thầy cô giáo
…Từ đó kích thích được sự háo hức đến trường học tập của trẻ Hình thành những
thói quen vệ sinh cá nhân, tính tự lập và khả năng tự phục vụ trong các công việc
sinh hoạt hàng ngày vừa sức cũng là một khía cạnh quan trọng cho trẻ trước khi
bước vào trường phổ thông.
Ví dụ: Tập trẻ có thói quen lao động tự phục vụ như: Tự rửa mặt, chải răng hàng
ngày, tự xếp bàn ghế giờ ăn, giờ học, nhặt rác trên sân trường, từ bê giường
ngủ…Khuyến khích trẻ làm những việc nhỏ giúp đỡ cô giáo như: Sắp xếp kệ đồ
chơi, quét lớp…
Ở lớp tôi có trang trí góc lễ giáo, ở đó có những hình ảnh đẹp mang tính giáo dục cao
như: Bé mời nước cho ông, bà, bé giúp đỡ ba mẹ, cụ già, biết vòng tay chào khách
đến nhà, biết nhận quà bằng hai tay…thông qua góc đó giáo dục trẻ biết kính trọng, lễ
phép với người lớn, giúp đỡ cụ già, em nhỏ, mọi người xung quanh…
Ví dụ: Vào buổi chiều tôi cùng trẻ về góc lễ giáo. Tôi hỏi trẻ qua hình ảnh:
+ Hình ảnh gì ? Con có nhận xét gì về hình ảnh này ?
Dạy trẻ làm quen chữ cái thông qua giờ học: Làm quen chữ cái, tôi tổ chức
giờ học không những đúng phương pháp mà còn phải phong phú qua các giờ học
làm quen, trò chơi với chữ cái… giúp trẻ nhận biết được 29 chữ cái trong bảng chữ
cái tiếng việt, nhận biết các chữ cái có trong từ, cụm từ. Cho trẻ làm quen với các
kiểu chữ in thường, viết thường, in hoa viết hoa để làm tiền đề cho việc bước vào
lớp một.
Không những trong giờ học làm quen với chữ cái mà thông qua các hoạt
động khác, mọi lúc mọi nơi ta cũng cần giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Do vốn từ
của trẻ chưa phong phú, trẻ chưa có khả năng hiểu nghĩa của từ, khả năng tư duy
còn hạn chế… Vì vậy tôi cho rằng một trong những hướng thiết thực cần chuẩn bị
cho trẻ mẫu giáo lớn vào lớp một là rèn luyện cho trẻ kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời
câu hỏi rõ ràng, mạch lạc. Tôi có thể rèn các kỹ năng trên thông qua giờ học: Làm
quen văn học, khám phá khoa học, làm quen với toán, trong các giờ chơi và mọi
lúc mọi nơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ: Khi trẻ trả lời không trọn câu tôi sửa trẻ kịp thời, các giờ học luôn sử dụng
các câu hỏi mở như: Theo con thì phải làm gì ? Con nghĩ như thế nào về điều đó ?
Con có suy nghĩ gì qua câu chuyện vừa nghe ?...nhằm kích thích trẻ suy nghĩ, trả
lời trọn câu, đủ ý giúp trẻ dần dần phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên, hiệu quả.
Giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông giờ chơi ở các góc: Tôi thường xuyên tổ
chức cho trẻ chơi mỗi ngày ở các góc qua đó trẻ được trò chuyện, giao lưu cùng
bạn, được giải quyết các tình huống đơn giản.
Ví dụ: Trẻ chơi ở các góc phân vai, xây dựng nghệ thuật… trẻ biết thể hiện vai cô
bán hàng, người mua hàng như: Qủa cam này bao nhiêu tiền vậy chị ?. cám ơn chị
nhé…qua đó giúp trẻ biết đặt câu hỏi, trả lời trọn câu, đủ ý. Tôi luôn tham gia chơi
cùng trẻ để nhắc nhở, động viên trẻ, đồng thời đặt ra nhiều câu hỏi giúp trẻ trả lời
để làm giàu và phát triển vốn từ cho trẻ.
Môi trường trang trí chữ viết cũng góp phần giúp trẻ nhận biết và phát triển ngôn
ngữ.
Ví dụ: Trong lớp tôi trang trí môi trường chữ rất phong phú như các cụm từ: “Bé
làm đẹp môi trường, vui khúc đồng dao, bé cùng sáng tạo, bé học điều hay, bé vui
hấp dẫn mà trẻ yêu thích. Cần tránh nôn nóng, áp đặt ép buộc trẻ học trước những
gì trẻ em được tiếp thu một cách bài bản ở trường phổ thông sau này. Bởi dễ gây ra
cho trẻ những chán nản, chủ quan, chểnh mảng dần đến tiêu diệt hứng thú học tập
ngay từ những buổi học ban đầu và gây ra không ít những khó khăn cho giáo viên
tiểu học trong việc khắc phục, uốn nắn những hậu quả sai lầm mà trẻ đã mắc phải.
Trong giờ ăn, giờ chơi giáo viên tập cho trẻ biết sử dụng những đồ dùng một
cách gọn gàng, khéo léo. Các nhà khoa học đã từng khẳng định: “Những vận động
bằng tay của trẻ càng khéo léo, càng phong phú bao nhiêu càng dễ hình thành các
thao tác trí tuệ bấy nhiêu.”
6. Thực hiện tốt các chỉ số trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi:
Như chúng ta đã biết: Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi nhằm hỗ trợ thực
hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo
dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp 1.
Vào đầu năm học tôi căn cử 120 chỉ số trong bộ chuẩn để xác định mục
tiêu giáo dục năm học. Từ mục tiêu năm, tôi phân bổ vào mục tiêu chủ đề, tuần cho
phù hợp. Có những chỉ số tôi lấy làm đề tài của bài dạy, có những chỉ số nhắc nhở,
hướng dẫn trẻ ở mọi lúc, mọi nơi để giáo dục trẻ. Các chỉ số được nhắc đến trong
10 chủ đề và thực hiện có hiệu quả từng chỉ số, nếu chỉ số nào trẻ thực hiện còn
thấp so với yêu cầu tôi đưa vào chủ đề tiếp theo để giúp trẻ thực hiện tốt. Tôi quyết
tâm tổ chức thực hiện hết 120 chỉ số và có sự nhắc nhở thường xuyên, động viên
khuyến khích kịp thời của giáo viên.
Vào đầu năm họp phụ huynh tôi đã thông qua cho phụ huynh rõ mục đích
của bộ chuẩn đối với trẻ 5 tuổi và photo bộ chuẩn gồm 5 lĩnh vực và 120 chỉ số
cho mỗi phụ huynh nghiên cứu để cùng với giáo viên thực hiện bộ chuẩn đạt
hiệu quả hơn.
Tôi nghĩ nếu chúng ta thực hiện đầy đủ các chỉ số trong bộ chuẩn và thực
hiện có hiệu quả thì ta đã chuẩn bị đầy đủ cho trẻ cả 5 lĩnh vực: thể chất, nhận
thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ, tình cảm xã hội đó là một tâm thế rất vững chắc cho trẻ
bước vào lớp một cách vững vàng và đầy tự tin.
7
lúc ở nhà.
Hàng ngày, đến giờ trả trẻ tôi luôn trao đổi với phụ huynh về tình hình của
cháu trong ngày: về sức khỏe, thói quen, ăn uống, để phụ huynh cùng với cô giáo
kịp thời có hướng giải quyết tốt.
Ở trước lớp tôi có góc phụ huynh, nhiều nội dung rất bổ ích: tuyên truyền
kiến thức về một số bệnh đang gặp, thông báo với phụ huynh những điều cần thiết,
thời gian biểu của tuần đang thực hiện. Buổi sáng phụ huynh đưa trẻ đến, buổi
chiều đón trẻ phụ huynh thường hay xem, qua đó phụ huynh có thêm một số kiến
thức, biết được tuần này, hôm nay con mình đang học gì để kết hợp cùng giáo viên
giáo dục trẻ tốt hơn.
Ví dụ: Đến trường cô luôn giáo dục trẻ có thói quen lễ phép với người lớn, đoàn
kết với bạn, ở lớp cô đã hình thành cho trẻ thói quen và kỹ năng đó nhưng nếu về
nhà phụ huynh ít quan tâm đến trẻ, trẻ nói thế nào cũng mặc kệ thì môi trường gia
đình sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến trẻ. Thói quen ở trường của trẻ sẽ dần mất đi đến
khi không còn tồn tại trong trẻ nữa. Còn nếu có sự phối hợp tốt với phụ huynh luôn
nhắc nhở, khen ngợi động viên trẻ thì sẽ phát huy hơn nữa. Trẻ
sẽ rất vui, chắc chắn sẽ duy trì và phát triển thói quen tốt cho trẻ.
8
Tôi nghĩ để giáo dục trẻ có hiệu quả tốt nhất thì phải có sự phối hợp chặt chẽ
giữa gia đình và nhà trường. Cha mẹ trẻ và cô giáo luôn có mối quan hệ thật gần
gũi. Làm thế nào để trong cảm nhận của trẻ luôn có:
“Cô và mẹ là hai cô giáo
Mẹ và cô đấy hai mẹ hiền”
VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ những nổ lực cố gắng của bản thân tôi đã nghiên cứu và áp dụng vào lớp mình.
Tôi thấy các cháu lớp tôi thực tế có nhiều chuyển biến theo chiều hướng tốt. Kết
quả thể hiện như sau:
Những biểu hiện tính tích cực nhận thức của trẻ
45%
90%
35%
90%
Đặc biệt các cháu rụt rè, nhút nhát đã trở nên tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp và
tham gia tích cực vào các hoạt động trong lớp. Vốn từ của trẻ ngày thêm phong
phú và trẻ có thể tự giải quyết một số tình huống đơn giản, phát huy óc sáng tạo
tưởng tượng của trẻ trong cuộc sống hàng ngày.
VII. KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu lý luận công tác chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lớp một và
thực tế, tôi thấy rõ hơn tầm quan trọng của việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ
thông, thấy được phải làm như thế nào để công tác chuẩn bị được tốt. Vừa phù hợp
với yêu cầu của ngành học đề ra, vừa phù hợp với tâm lý lứa tuổi, đồng thời cũng
thấy được chuẩn bị cho trẻ vào lớp một không phải là việc làm của riêng ai, của gia
đình nào mà của toàn xã hội. Việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một cần chuẩn bị một
cách toàn diện, không coi trọng mặt nào, buông lỏng mặt nào. Vì chuẩn bị tâm thế
cho trẻ vào lớp một sẽ tạo tiền đề cho việc học tập sau này của trẻ.
Vậy nhiệm vụ của giáo viên là thực hiện tốt chế độ sinh hoạt một
ngày của trẻ: tổ chức một cách có đầu tư, khoa học. Chuẩn bị tốt cho trẻ cả về 5
lĩnh vực phát triển, chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng cần thiết của hoạt động học và
giúp trẻ có một tinh thần tốt khi tham gia vào các hoạt động. Giáo viên không chỉ
là cô giáo mà còn là người bạn đồng hành, gần gũi, thân thiết với trẻ.
Nhận thức được điều đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng trực tiếp vào lớp mình
đã đạt được hiệu quả cao. Nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho trẻ
cũng như trang bị một tâm thế vững vàng cho trẻ bước vào lớp một.
9
Bé lao động tự phục vụ
Góc lễ giáo
Góc chủ điểm
Góc phụ huynh
12
X. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Tài liệu hướng dẫn cho trẻ hoạt động làm quen với Toán.
- Tập san mầm non.
13
XI. MỤC LỤC
Trang
I. TÊN Đ T I …………………………………………………………...... … .
II. Đ T V N Đ ………………………………………………………..............
III. C SỞ L L N……………………………………………………...........
IV.C SỞ TH C TI N.................................................................................... …
V. N I D NG NGHIÊN C U:
1/Chuẩn bị về thể lực:………………………………………………………. …1-2
2/ Chuẩn bị về mặt phát triển trí tuệ:…………………........................................2-3