MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU:..........................................................................................2
1. Lý do chọn đề tài :........................................................................................2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:..................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu:.................................................................................3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:....................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu:...........................................................................4
II. PHẦN NỘI DUNG:.....................................................................................4
1. Cơ sở lý luận:................................................................................................4
2.Thực trạng:....................................................................................................5
2.1 Thuận lợi khó khăn:....................................................................................6
2.2 Thành công hạn chế:...................................................................................7
2.3 Mặt mạnh mặt yếu:....................................................................................7
2.4Các nguyên nhân, các yếu tố tác động: …………………………………….7
2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra:.............8
3. Giải pháp, biện pháp:..................................................................................9
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:.............................................................9
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:.............................10
3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp:.................................................15
3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp:...............................................16
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:..............16
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:.....................................................................................................................17
III. Phần kết luận, kiến nghị:........................................................................17
1. Kết luận:.......................................................................................................17
1
2. Kiến nghị:......................................................................................................19
I. PHẦN MỞ ĐẦU
trong tiếp nhận văn học. Sự tiếp nhận tác phẩm đầy đủ hoàn thiện hơn, biểu hiện
trước tiên là sự hiểu biết những câu chuyện cổ tích, bài thơ, những đoạn văn xuôi
hay và sự làm giàu tình cảm qua quá trình tích lũy hình tượng nghệ thuật.
Đối với trẻ mẫu giáo lớn thì sự quan tâm tới tác phẩm văn học sẽ giúp trẻ
hiểu được nội dung tác phẩm, các nhân vật trong tác phẩm trở nên gần gũi dễ hiểu
hơn. Sự cảm thông với nhân vật, sự lo lắng cho số phận của nhân vật của trẻ đã
mang đặc điểm cá tính hơn. Sự hồi hộp, lo lắng này của trẻ em đã nếm trải ngay
cả trong sự kiện đời sống hàng ngày.
Thông qua việc trẻ kể chuyện sáng tạo giúp trẻ phát triển năng lực tư duy, óc
tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quý cái đẹp, hướng tới cái đẹp. Khi trẻ kể chuyện,
ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng mạch lạc, vốn từ phong phú. Trẻ
biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó bằng chính
ngôn ngữ của trẻ.
Là giáo viên dạy trẻ mầm non 5 6 tuổi tôi đã nhận thức rõ được tầm quan
trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đặc biệt là thông qua hoạt động kể
chuyện sáng tạo. Từ đó tôi đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra " Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 6 tuổi thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện
sáng tạo tại trường mầm non Hoa Cúc". Hy vọng với đề tài nghiên cứu này tôi sẽ
tìm ra giải pháp tốt nhất trong việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Giáo dục trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng
tạo nhằm giúp trẻ tích lũy và mở rộng vốn từ phong phú, đa dạng, giúp trẻ diễn
đạt rõ ràng, mạch lạc, là điều kiện tốt để trẻ học đọc sau này.
Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp thích trò chuyện với những người xung
quanh, thích đưa ra những câu hỏi và trả lời rõ ràng, mạch lạc
Giáo viên có kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức dạy trẻ kể chuyện sáng tạo
3. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp sư phạm nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
3
Phát âm rõ ràng mạch lạc
23/34
67,6 %
Tích cực tham gia vào hoạt động môn
làm quen văn học
24/34
70,6 %
Hứng thú tham gia kể chuyện sáng tạo
13/34
38,2 %
Biết thể hiện ngôn ngữ hoàn cảnh (kể
chuyện sáng tạo)
9/34
26,5 %
Khả năng diễn xuất hoạt cảnh, đóng
kịch
sống với xã hội và thiên nhiên, các mối quan hệ qua lại của con người. Những câu
từ diễn tả tính cách của nhân vật đã giúp trẻ nhận thức được tính rõ ràng, chính xác
của từ ngữ trong tác phẩm văn học.
Ở trường mầm non phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ hết sức quan
trọng. Giáo viên cần phải khơi dậy ở trẻ tình yêu đối với từ ngữ nghệ thuật thông
qua cách đọc kể diễn cảm, cao hơn nữa là biết dùng ngôn ngữ của mình để kể
chuyện sáng tạo. Đây là một nhiệm vụ rất phức tạp, yêu cầu khi kể chuyện sáng
tạo trẻ phải tự nghĩ ra một nội dung câu chuyện, tạo ra cấu trúc logic được thể
hiện trong hình thức nói tương ứng (lời nói kết hợp với sử dụng đồ dùng trực
quan).
Để thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi trẻ phải có vốn từ phong phú, các kỹ
năng tổng hợp, kỹ năng truyền đạt ý nghĩ của mình một cách chính xác, tập trung
5
chú ý và nói biểu cảm. Những kỹ năng này trẻ lĩnh hội được trong quá trình nhận
thức có hệ thống bằng con đường luyện tập thường xuyên hàng ngày.
2. Thực trạng
Ban đầu khi chưa thực hiện nghiên cứu đề tài trẻ của tôi mặc dù đã nói rõ
ràng nhưng ngôn ngữ của trẻ vẫn còn nhiều hạn chế, trong câu nói của trẻ chưa có
tư duy nhiều, chưa thật sự sáng tạo. Trẻ chưa hứng thú trong việc kể chuyện sáng
tạo. Giáo viên ít cho trẻ kể chuyện sáng tạo
2.1. Thuận lợi và khó khăn
* Thuận lợi
Được sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu trường mầm non Hoa Cúc về
chuyên môn xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
mầm non, tạo mọi điều kiện giúp tôi thực hiện tốt chương trình mầm non mới,
đầu tư về cơ sở vật chất đầy đủ. Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên môn
và các đợt chuyên đề văn học, hội thi đồ dùng đồ chơi cho chị em đồng nghiệp
học tập và rút kinh nghiệm.
còn có nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó khả năng cảm nhận các tác phẩm truyện kể của giáo viên còn
hạn chế giọng đọc và cách phối hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, minh họa chưa bộc
lộ cảm xúc hấp dẫn cuốn hút trẻ, phương pháp lồng ghép tích hợp chưa linh hoạt
sáng tạo, kết quả trên trẻ chưa cao, trẻ chưa thực sự say mê, hào hứng, sử dụng đồ
dùng dạy học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý, hiệu quả
trên tiết học chưa cao.
2.2. Thành công và hạn chế
* Thành công
Ngôn ngữ của trẻ tăng dần, trong giờ học kể chuyện sáng tạo trẻ có hứng thú
tham gia vào hoạt động. Giáo viên có khả năng thu hút trẻ tham gia vào hoạt động
kể chuyện sáng tạo để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
* Hạn chế
Trẻ chưa thật sự hứng thú kể chuyện sáng tạo chính vì vậy ngôn ngữ của trẻ
chưa phong phú, chưa mạch lạc. Giáo viên chưa có sáng tạo trong việc chuyển thể
từ chuyện kể sang kịch bản sân khấu, không tạo ra được tính kịch sự kiện, lời
thoại còn dài dòng khó hiểu.
7
2.3: Mặt mạnh mặt yếu
* Mặt mạnh
Trẻ thích tham gia vào hoạt động kể chuyện sáng tạo, giáo viên biết khắc
phục khó khăn của nhà trường, lên chương trình đầy đủ, phù hợp với trẻ và chủ đề
trẻ đang học.
* Mặt yếu
Nhiều trẻ chưa mạnh dạn, chưa có ý tưởng để kể chuyện sáng tạo, chưa dám
kể chuyện theo ý của mình nên việc phát triển ngôn ngữ còn yếu
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
Môi trường lớp học chưa trang trí phù hợp, chưa lôi cuốn được trẻ vào tham
trẻ làm hư hỏng đồ dùng, cho trẻ kể được sử dụng các nhân vật để kể lại câu
chuyện còn những trẻ còn lại chỉ ngồi lắng nghe và quan sát. Qua một thời gian
nghiên cứu tôi thấy nên dạy trẻ mầm non 5 6 tuổi cách sử dụng nhân vật phù hợp
với ngôn ngữ lời kể sáng tạo. Để làm được điều này giáo viên cần dành thời gian
làm đồ dùng đồ chơi là các nhân vật trong các câu chuyện, đồ dùng đồ chơi phải
phong phú và đa dạng nhiều hình thức. Cho tất cả các trẻ đều được sử dụng các
nhân vật, được đội mũ các nhân vật đóng kịch không những trong giờ học mà trong
giờ đón trẻ, trả trẻ cô cũng có thể cho trẻ tiếp xúc làm quen đặc biệt là những trẻ
rụt rè, nhút nhát.
Khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo tôi chưa lồng ghép các môn học khác vào nên
chưa tạo được không khí mới lạ trong câu chuyện. Vì vậy cần phải lồng ghép các
môn học khác như âm nhạc, câu đố, ca dao… vào khi kể chuyện sáng tạo là rất cần
thiết giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên
Trước đây công tác tuyên truyền phụ huynh tôi thường tuyên truyền cách chăm
sóc sức khỏe, cách dạy con học toán, chữ cái, v.v…còn việc tuyên truyền cho phụ
huynh phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất ít và chưa cụ thể rõ ràng. Nếu trẻ được
phát triển ngôn ngữ thông qua kể chuyện sáng tạo ở lớp rồi về nhà được phụ
huynh rèn luyện nữa thì ngôn ngữ của trẻ sẽ phát triển rất mạnh. Mà ngôn ngữ là
một trong năm lĩnh vực giúp trẻ phát triển toàn diện.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Tôi chọn các giải pháp này dựa vào đặc điểm phát triển của trẻ lớp tôi đang
chủ nhiệm, dựa vào điều kiện thực tế về môi trường, đồ dùng đồ chơi, nhận thức
9
của phụ huynh trẻ. Tôi nhận thấy các giải pháp này là cần thiết, vì mỗi giải pháp
đều góp phần giúp cho trẻ phát triển ngôn ngữ. Khi tạo môi trường hoạt động phù
hợp, đẹp mắt sẽ tạo cho trẻ sự hứng thú từ đó trẻ sẽ hứng thú tham gia vào hoạt
động kể chuyện sáng tạo. Sử dụng biện pháp khảo sát thực tế đầu năm giúp cho
Từ đó trẻ biết vận dụng những kiến thức đó vào kể chuyện sáng tạo một
cách dễ dàng. Ngoài việc tạo những bức tranh nhân vật ở góc văn học, những tập
truyện tranh chữ to tôi còn đi sâu làm một số đồ dùng trực quan cho trẻ hoạt động
như: một số con rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân và tận dụng những truyện
tranh cũ, những sản phẩm vẽ của trẻ, cắt dán bôi bìa cứng cho trẻ ghép tranh kể
chuyện sáng tạo hoặc cắt rời các con vật cho trẻ tự chọn các con vật đó để kể
chuyện sáng tạo theo ý tưởng của mình.
Qua cách nghĩ và làm như vậy tôi đã tạo ra một góc văn học với đầy đủ chủng
loại về đồ dùng trực quan đa dạng phong phú, đã giúp trẻ hứng thú tham gia vào
hoạt động và trẻ có thể nảy ra nhiều ý tưởng hay khi trẻ kể chuyện sáng tạo.
Tạo môi trường cho trẻ kể chuyện sáng tạo là một việc làm vô cùng quan
trọng bởi nó là chỗ dựa, là cơ sở vững chắc cho trẻ kể chuyện sáng tạo. Đòi hỏi cô
giáo phải biết tạo cảm xúc cho trẻ bằng các con vật ngộ nghĩnh, đáng yêu, đồng
thời cũng phải biết hướng lái, gợi mở cho trẻ có cảm xúc tích cực khi tham gia
hoạt động kể chuyện sáng tạo.
Qua nội dung các bức tranh, các nhân vật, các con rối trẻ được xem và nói lên
nhận xét của mình về các đồ dùng đó.
Như vậy ngôn ngữ của trẻ sẽ được phát triển một cách phong phú và đa dạng
hơn.
* Biện pháp 2: Dạy trẻ mầm non 5 6 tuổi cách sử dụng nhân vật phù hợp
với ngôn ngữ lời kể sáng tạo.
Không những tạo môi trường hoạt động với đầy đủ các loại đồ dùng trực
quan đa dạng phong phú, thu hút sự hứng thú tham gia kể chuyện sáng tạo của trẻ
thì chúng ta còn phải dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ lời kể
sáng tạo.
Giờ đón, trả trẻ hay giờ chơi hàng ngày tôi thường đọc kể cho trẻ nghe những
câu chuyện truyện tranh mà tôi sưu tầm. Đây là hình thức cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học, là cơ sở cho trẻ có kiến thức vững vàng khi thực hiện kể chuyện
sáng tạo. Với cách làm quen như vậy trẻ biết đánh giá, nhận xét về đặc điểm tính
hoa hồng ), cô sử dụng rối kể 1 lần. Đàm thoại với trẻ về câu chuyện của cô (tên
nhân vật, đặc điểm nhân vật, đặt tên cho câu chuyện).
12
Bước 3: Trẻ đi chọn đồ dùng trực quan mà trẻ yêu thích. Trẻ kể chuyện sáng
tạo theo nhóm, cá nhân. Cô cho trẻ đánh giá và nhận xét câu chuyện của bạn kể.
Theo dõi cách sử dụng đồ dùng trực quan của trẻ để cô góp ý nhận xét.
Qua cách làm này, bước đầu tôi đã thành công trong việc thực hiện dạy trẻ kể
chuyện sáng tạo, giúp trẻ linh hoạt sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với nghe,
tay sử dụng”.
Sau đây là một số câu chuyện của trẻ khi thực hiện kể chuyện sáng tạo:
Câu chuyện “Bé làm bác sĩ ” cháu Bảo Ngọc với đồ dùng là một con búp bê và
các dụng cụ khám chữa bệnh được cháu thể hiện như sau:
Hôm nay em bé chíp (cháu đặt tên cho con búp bê) của tôi bị ốm. Ôi chắc là
bị sốt rồi, tôi phải mau mau khám bệnh cho em chíp mới được. Nhưng mà phải đo
nhiệt kế cái đã xem em sốt mấy độ rồi nào. Em ngoan nhé! Chị sẽ khám cho em rồi
em sẽ mau lành bệnh thôi. Em chíp sốt 40 độ luôn, nhưng nhờ có bác sĩ tôi đây, em
đã hạ sốt lại rồi.
Câu chuyện “Cáo, Thỏ, Gà trống ” của cháu Gia Bảo, Đức Kiên và Thúy
Ngân. Đồ dùng là con cáo, thỏ và gà từ sản phẩm làm bằng rối tay, câu chuyện
được các bé thể hiện như sau:
+ Bạn thỏ ơi cho tôi ở nhờ nhà bạn nhé.
+ Ừ, bạn cứ vào nhà tớ chơi đi.
+ Ha ha ha... cút đi thỏ, đây sẽ là nhà của tao.
+ Hu hu hu…Có ai giúp tôi không? Cáo lấy mất nhà tôi rồi.
+ Bạn thỏ, bạn bị làm sao thế? Được rồi tôi sẽ giúp bạn lấy lại nhà.
+ Ôi cảm ơn bạn nhiều lắm...
+ Cáo kia, hãy mau trả lại nhà cho thỏ đi!.........
“ Chú khỉ con”, “đố biết con gì”,…giúp trẻ khi kể chuyện về con vật nào trẻ có thể
hát về các con vật đó phù hợp với nội dung câu chuyện.
Trò chơi là hình thức chuyển tiếp giữa các lần kể hay thay cho phần củng cố
câu chuyện mà các tiết dạy thường áp dụng. Tôi cho trẻ chơi một số trò chơi ở
dạng động như trò chơi: Bắt chước tiếng kêu con vật, mèo và chim sẻ, gà gáy vịt
kêu, trời nắng trời mưa, cáo và thỏ…
Việc tích hợp các môn học khác, các trò chơi vào cho trẻ kể chuyện sáng tạo
là việc cung cấp thêm một số kiến thức bổ trợ cho câu chuyện sinh động hơn.
14
Việc tích hợp các môn học khác giáo viên phải linh hoạt, lựa chọn nội dung
sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, giúp trẻ tham gia vào hoạt động một
cách tích cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh mẽ nhất.
* Biện pháp 4: Bồi dưỡng cho những cháu yếu.
Để chất lượng Giáo dục nâng lên bản thân tôi luôn tìm ra những biện pháp tối
ưu để bồi dưỡng giúp đỡ trẻ yếu, những trẻ cá biệt. Tôi không những cho những
trẻ khá giỏi tham gia kể chuyện sáng tạo mà còn khuyến khích, gây ấn tượng cho
những trẻ yếu cũng được tham gia kể chuyện sáng tạo. Đoạn nào trẻ kể được tôi
dùng hình thức khen trẻ để trẻ được tự tin hơn. Lúc đầu có thể trẻ kể được ít
nhưng dần dần trẻ sẽ tiến bộ hơn, thích học môn học này.
Ngoài ra tôi còn có kế hoạch bồi dưỡng, dạy mọi lúc, mọi nơi và thường
xuyên trao đổi trực tiếp với phụ huynh với nhiều hình thức. Với các trẻ này tôi
thường xuyên quan tâm, chú ý hơn thường xuyên động viên khuyến khích trẻ nhất
là trong các giờ học.
Đối với những trẻ cá biệt tôi thường xuyên trò chuyện, gần gủi để tạo niềm
tin cho trẻ, động viên trẻ cùng làm với bạn. Những lời động viên kịp thời có tác
dụng rất nhiều khuyến khích trẻ hứng thú tham gia các giờ học sau.
* Biện pháp 5: Tuyên truyền kết hợp với phụ huynh.
Trẻ mẫu giáo dễ hứng thú nhưng cũng nhanh chán, dễ nhớ nhưng cũng nhanh
Các biện pháp này có mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ nhau giúp cho trẻ phát triển
ngôn ngữ tốt nhất thông qua hoạt động kể chuyện sáng tạo. Trước hết là tạo môi
trường hoạt động cho trẻ kể chuyện sáng tạo. Tiếp đến là khảo sát thực tế học
sinh đầu năm. Sau đó dạy trẻ cách sử dụng nhân vật phù hợp với ngôn ngữ lời kể
sáng tạo. Kết hợp lồng ghép các môn học khác khi dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Cuối cùng là tuyên truyền kết hợp với phụ huynh để có biện pháp giáo dục trẻ phát
triển ngôn ngữ một cách tốt nhất.
3.5 Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Kết quả cụ thể mà tôi đã thực hiện trong thời gian qua như sau:
Nội dung
Kể diễn cảm
16
Khi đã áp dụng
hình thức đổi mới
Tỉ lệ
30/34
88,2 %
Phát triển ngôn ngữ, diễn đạt tốt
31/34
91,2 %
79,4 %
Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu là giúp giáo viên mầm non có thêm
một số kinh nghiệm và biện pháp để phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động kể
chuyện sáng tạo
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
Sau khi thực hiện các biện pháp tôi đã thu được một số kết quả sau:
* Về bản thân:
Tôi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm qua cách dạy trẻ kể chuyện sáng tạo,
sưu tầm được nhiều truyện tranh, học thuộc nhiều truyện ngoài chương trình.
Tạo được môi trường cho trẻ hoạt động tốt ở các góc, đặc biệt là góc văn
học.
Tôi đã tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có, dễ tìm để tạo ra nhiều loại rối
phong phú, đa dạng, sử dụng có hiệu quả trong việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo.
Các tiết dạy kể chuyện sáng tạo của trường tôi tham gia và các hội thi đều
được xếp loại giỏi.
* Kết quả trên trẻ:
Qua các tiết học trẻ rất hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập, ngôn
ngữ của trẻ trở nên mạch lạc hơn so với trước đây.
17
Trẻ hoạt động không bị áp đặt để phát huy năng lực bản thân, được trao đổi,
được nhận xét nên trẻ trở nên năng động hơn.
* Đối với phụ huynh:
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Đã nhiệt tình đóng góp hỗ trợ kinh phí và nhiều nguyên vật liệu để tạo góc
Phối hợp tuyên truyền với phụ huynh ở nhà cho trẻ xem băng đĩa các loại
truyện thiếu nhi có ý nghĩa giáo dục nhằm gây cảm xúc và kích thích sự sáng tạo
đối với trẻ. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua các hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng
tạo là một việc làm thiết thực nhất trong chương trình đổi mới hiện nay, đòi hỏi cô
giáo phải có sự sáng tạo linh hoạt khi dạy trẻ, phải có sự kiên trì rèn luyện giữa cô
và trẻ thì sẽ đem lại kết quả cao.
Bằng những kiến thức và kinh nghiệm vốn có, hãy dốc hết tâm sức của mình
để “ Tất cả vì trẻ thơ ”. Như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói:
“Trẻ thơ như búp trên cành
Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
Đúng như vậy, trẻ ở tuổi mầm non thật đáng yêu, tâm hồn trẻ thơ ngây, hồn
nhiên như tờ giấy trắng. Mọi hoạt động học tập và vui chơi trong quá trình chăm
sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non đều đem lại cho trẻ những điều kỳ lạ, thần
tiên.
2. Kiến nghị:
* Đối với nhà trường
Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn để trao
đổi, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn.
Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, mặc dù được sự quan tâm giúp
đỡ của ban giám hiệu trường mầm non Hoa Cúc, của các chị em đồng nghiệp.
Nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ của các cấp, sự đóng góp ý kiến của ban lãnh đạo cấp trên và các bạn
đồng nghiệp để sáng kiến ngày càng tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Buôn Trấp, ngày 20 tháng 3 năm 2016
Người viết
19
Phan Trọng Ngọ. Do NXB giáo
dục phát hành
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho Trung tâm nghiên cứu giáo dục
trẻ .
Mầm non.
Phát triển ngôn ngữ chọn lọc .
Đặng Thu Quỳnh
Chương trình chăm sóc giáo dục trẻ từ Trần Thị Trọng
56 tuổi
Bồi dưỡng thường xuyên
Phạm Thị Sửu
21