MỤC LỤC
A - PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Mục đích nghiên cứu 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Phạm vi nghiên cứu 6
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 6
7. Giả thuyết khoa học 7
8. Đóng góp của đề tài 7
9. Cấu trúc của khóa luận 7
B - PHẦN NỘI DUNG 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.1. Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học tập đọc 8
1.1.1.Khái niệm đọc 8
1.1.2. Chính âm 9
1.1.3. Trọng âm 9
1.1.4. Ngữ điệu 9
1.1.5. Đọc diễn cảm 10
1.1.6. Văn bản 10
1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2 11
1.2.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc 11
1.2.2. Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc 12
1.2.3. Cơ sở ngôn ngữ học và văn học của việc dạy học 13
1.3. Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2 17
1.3.1. Mục tiêu 17
1.3.2. Nhiệm vụ 18
1.4. Những vấn đề đổi mới phƣơng phƣơng pháp giáo dục tiểu học hiện nay 20
Tiểu kết chƣơng 1 21
2 Đề xuất 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
1
A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là
công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy. Ngôn ngữ còn
là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.
Ngôn ngữ là phƣơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngƣời.
Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Bởi vì Tiếng Việt là
phƣơng tiện để học sinh giao tiếp và học tập. Chƣơng trình tiểu học mới nói
chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu
học là:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
(Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trƣờng hoạt động của
lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của
tƣ duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội. Tự nhiên và con ngƣời, về văn hóa văn học của Việt
Nam và nƣớc ngoài.
- Bồi dƣỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con ngƣời Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của day đọc ở tiểu học
Tập đọc là một phân môn cụ thể hóa các mục tiêu của môn Tiếng Việt.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng
lực đọc đƣợc tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lƣợng của
thức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh.
Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định đƣợc rõ ràng, chƣơng trình SGK
tƣơng đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thƣờng xuyên nâng cao chất
lƣợng dạy học thì phƣơng pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng.
Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinh
làm trung tâm”. Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
3
Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phƣơng pháp dạy học tập đọc nói
riêng, là một việc làm rất cần thiết và thƣờng xuyên để nâng cao chất lƣợng học
tập đọc. Tạo cho học sinh nắm đƣợc các kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của môn
học đúng, để hiểu đƣợc nội dung đƣợc đọc. Còn vận dụng các phƣơng pháp phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lí trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trƣờng ở
vùng miền núi là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phƣơng
pháp dạy theo quan điểm giao tiếp.
1.4.Thực trạng dạy đọc ở trường tiểu học hiện nay
Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh
chƣa đọc đƣợc nhƣ ta mong muốn, đọc chƣa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các
em chƣa hiểu đƣợc nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng
với nội dung biểu cảm của tác giả.
Học sinh chƣa hiểu cách nói văn chƣơng, vốn lí luận chƣa có các em
thƣờng ngắt giọng giữa từ ghép, các em chƣa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng,
chỗ nào cần hạ giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc của các em còn đều đều
chƣa toát lên đƣợc nội dung câu hỏi. Khi đọc các câu hội thoại các em chƣa
phân biệt đƣợc giọng của nhân vật, giọng của tác giả.
Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bƣớc khi dạy tập đọc theo chƣơng
trình mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách
thiết kế bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phƣơng.
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nhƣ thế nào, làm thế nào để
tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nƣớc trên thế giới. Tác giả cho rằng :
việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tƣ
duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc,
viết ); phải hƣớng tới sự giao tiếp và sử dụng phƣơng pháp giao tiếp. Bên cạnh
đó, các tác giả cũng đƣa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy
tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng nhƣ nhƣợc điểm cần khắc phục của những loại
chƣơng trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trƣớc đó. Đó chính là cơ sở khoa
học và thực tiễn của việc xây dựng chƣơng trình mới, đổi mới phƣơng pháp dạy
học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng.
5
Giáo trình “Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” – tài liệu đào
tạo GV – 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển GV Tiểu học đã tổ
chức biên soạn các modun đào tạo, bồi dƣỡng GV nhằm nâng cao năng lực
chuyên môn – nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phƣơng pháp dạy
học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chƣơng trình, SGK tiểu
học mới. Điểm mới ở các tài liệu này là đƣa ra nhiều phƣơng pháp dạy học mới
nhƣ sử dụng băng hình, phƣơng pháp giao tiếp… nhằm tích cực hóa hoạt động
học tập.
Nhìn chung các tác giả đều đã cập nhật tới những vấn đề dạy học chung
nhất của dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chƣơng trình mới cũng nhƣ
đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học của từng phân môn,
trong đó có phân môn Tập đọc. Tuy nhiên các tác giả chƣa đề cập vấn đề rèn
luyện kĩ năng đọc đúng cho HS tiểu học ở vùng cao cũng nhƣ HS chƣa có kĩ
năng đọc văn bản, Đọc văn bản Tiếng Việt chƣa lƣu loát.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả là những định hƣớng quan
trọng làm cơ sở lí luận để cho ngƣời tôi nghiên cứu thực hiện đề tài: “ Rèn kĩ
năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận
Châu – Sơn La”.
3. Mục đích nghiên cứu
Đọc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề đổi mới phƣơng pháp
dạy học nói chung và phƣơng pháp dạy tiếng Việt nói riêng trong đó có phƣơng
pháp dạy tập đọc.
Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu nhằm rút ra đƣợc những vấn đề cần thiết để
sử dụng cho thực hiện đề tài, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu đề tài, đƣa
đề tài vào áp dụng phù hợp với thực tế.
Bên cạnh đọc các tài liệu trên còn nghiên cứu thêm SGK, sách giáo viên
từ lớp 1, 2 của chƣơng trình mới.
Trên cơ sở nghiên cứu SGK để nắm bắt đƣợc chƣơng trình các môn, mối
quan hệ giữa các môn học đối với SGK còn tập nghiên cứu sâu vào phân môn
Tập đọc.
7
6.2. Phƣơng pháp điều tra khảo sát
- Điều tra thực trạng dạy học ở Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu –
Sơn La.
- Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài “ Bóp nát quả cam”
- Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2.
7. Giả thuyết khoa học
Hiện nay học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
còn hạn chế về việc đọc văn bản Tiếng Việt nếu giáo viên có biện pháp phù hợp
trong quy trình hƣớng dẫn học sinh đọc một cách khoa học thì sẽ góp phần khắc
phục những khó khăn đó. Các biện pháp đề xuất trong khóa luận đƣợc nghiệm
thu hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói giúp học sinh lớp 2 luyện đọc tốt hơn.
8. Đóng góp của đề tài
Về lí luận: Nghiên cứu đƣợc những vấn đề lí luận về vai trò của phân môn
Tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng; Khẳng định những cơ sở khoa
học của việc dạy học tập đọc. Đề xuất những biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc văn
đúng đọc hay.[7, trang 7]
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hóa khoa học
tƣ tƣởng tình cảm của các thế hệ trƣớc và của cả những ngƣời đƣơng thời phần
lớn đã đƣợc ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngƣời không thể
tiếp thu nền văn minh của loài ngƣời, không thể sống một cuộc sống bình
thƣờng có hạnh phúc với đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc
con ngƣời đã nhận đƣợc khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây con ngƣời biết
tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên xã hội tƣ duy,
biết đọc con ngƣời sẽ có khả năng chế ngự một phƣơng tiện văn hóa cơ bản giúp
họ giao tiếp đƣợc với thế giới bên trong của ngƣời khác, thông hiểu tƣ tƣởng,
tình cảm của ngƣời khác đặc biệt khi đọc các tác phẩm văn chƣơng, con ngƣời
không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ƣớc
mơ tốt đẹp đƣợc khơi dậy năng lực hành động, sức sáng tạo cũng nhƣ bồi dƣỡng
tâm hồn. Không biết đọc con ngƣời sẽ không có điều kiện hƣởng thụ sự giáo dục
mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành đƣợc nhân cách một cách toàn
diện. Đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin đang bùng nổ thì biết đọc ngày
càng quan trọng vì nó sẽ giúp ngƣời ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là
học, học nữa, học mãi, đọc để tựu học học cả đời
9
Vì những lí do trên, dạy đọc có một ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở
thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi ngƣời đi học. Đầu tiên là trẻ phải
học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc chiếm lĩnh đƣợc một ngôn ngôn ngữ để
dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập. Nó tạo điều kiện để
học sinh có khả năng có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một
khả năng không thể thiếu đƣợc của con ngƣời thời đại văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng nhƣ tƣ duy của ngƣời đọc. Việc dạy đọc sẽ giúp cho học sinh hiểu biết hơn
bồi dƣỡng ở các em lòng yêu cái thiện, cái đẹp dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách lôgic cũng nhƣ biết tƣ duy có hình ảnh. Nhƣ vậy đọc có một ý nghĩa to lớn
học không yêu cầu HS có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu HS có ý thức
đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả đã gửi gắm
trong văn bản đƣợc đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu, cảm thụ của
ngƣời đọc đối với tác phẩm. Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bài văn, bài thơ
và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm. Vì vậy để đọc diễn cảm, trƣớc hết phải
xác định nội dung, nghĩa lí của bài đọc, sắc thái tình cảm, cảm xúc, giọng điệu
chung của bài. Đây là nhiệm vụ của quá trình đọc hiểu. Kết thúc quá trình đọc
hiểu, HS phải xác định đƣợc cảm xúc của bài, ví dụ cần đọc với giong: vui,
buồn, tự hào, thiết tha, trang nghiêm, sâu lắng, ngợi ca, vui tƣơi, nhẹ nhàng,
trầm hùng, mạnh mẽ, tâm tình. Xác định giọng điệu chung của một bài đọc cũng
nhƣ xác định đƣợc cảm xúc chung của một bài hát mà ngƣời nhạc sĩ thƣờng chỉ
dẫn trên đầu mỗi bản nhạc. [ 7, trang 17]
1.1.6. Văn bản
Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thƣờng bao
gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn
vẹn về nội dung, đƣợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích
giao tiếp nhất định. [7, trang 20]
Chƣơng trình tập đọc lớp 2 đã sử dụng những văn bản nhiều thể loại khác
nhau, có thể gọi chung là nhóm Các văn bản nghệ thuật ( truyện, thơ…) nhóm
Các văn bản khác ( khoa học, hành chính, báo chí) phản ánh nhiều lĩnh vực đời
sống khác nhau. 11
1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2
1.2.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc
Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm
bản chất kĩ năng đọc. Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của việc
dạy đọc.
Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin
em đọc thì các em sẽ có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do
đó hiểu những gì đƣợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc.
Mục đích này chỉ có thể đạt đƣợc thông qua con đƣờng luyện giao tiếp
có ý thức. một phƣơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục
tiêu đạt tới sự chiếm lĩnh ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và
đọc thầm.
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bƣớc sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các khối đoạn
+ Hiểu nghĩa đƣợc cả bài
Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu đƣợc những câu
điều mình học. Hầu nhƣ toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt
chữ, đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chƣa đủ thì giờ và sức lực để nhận biết.
Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu
và nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp hình thành năng
lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.
1.2.2. Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc
Phƣơng pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở giáo dục học. Giáo dục học
cung cấp cho phƣơng pháp dạy học tập đọc những hiểu biết về mục tiêu giáo
dục nói chung. Mục đích của giáo dục là phát triển tâm hồn và thể chất của học
sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tham gia vào cuộc sống Phân môn Tập đọc
chính là sự cụ thể hóa mục tiêu của khoa học giáo dục, nó hiện thực hóa mục
tiêu nhiệm vụ giáo dục học đề ra: phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hình
thành thói quen khoa học, giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh.
13
Phƣơng pháp dạy học Tập đọc phải vận dụng các nguyên tắc cơ bản của
giáo dục nhƣ: nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn với lí
thuyết, nguyên tắc gắn với thực hành, nguyên tắc trực quan…
Phƣơng pháp dạy học Tập đọc chọn ở giáo dục học những hình thức tổ
Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng Việt nhƣ các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu đƣợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(trƣờng độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cƣờng độ và trƣờng độ).
Những hiểu biết về lí thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho
học sinh là cơ sở để GV hƣớng dẫn học sinh đọc văn bản theo thể loại.Việc dạy
học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để phân tích, đánh
giá một văn bản nói chung cũng nhƣ lý thuyết để phân tích đánh giá các tác
phẩm văn chƣơng nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải dựa
trên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và tính
thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng,
các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chƣơng dùng làm
ngữ liêu đọc ở Tiểu học.
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh,
một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử… là khác nhau. Việc hƣớng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề
tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể
hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phƣơng
tiện, biện pháp tu từ.
Khi luyện đọc cho học sinh GV cần quan tâm tới hình thức đọc thành tiếng.
Giáo viên hƣớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi đọc cần ngồi
ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nằm trong khoảng từ 30-35cm, cổ và
đầu thẳng, phải hít sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp khi đƣợc cô giáo gọi
đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin không hấp tấp đọc ngay.
Trƣớc khi nói về việc rèn đọc đúng cần nói về tiêu chí cƣờng độ và tƣ thế
khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc
thành tiếng ngƣời đọc đóng một lúc hai vai: Một vai – và mặt này thƣờng đƣợc
nhấn mạnh – là ngƣời tiếp nhận thông tin, bằng chữ viết, vai thứ hai là ngƣời
15
trung gian để truyền thông tin, đƣa văn bản tới ngƣời nghe. Khi giữ vai thứ hai
16
nắng oi. Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ
là / ngọn gió của con suốt đời.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn
ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở
cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm,
với câu ccauf khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến
khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu.
Nhƣ vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
Trình tự luyện đọc đúng : Trƣớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để
ngăn ngừa các lỗi khi đọc. Tùy từng đối tƣợng học sinh, giáo viên xác định các
lỗi phát âm mà học sinh địa phƣơng hoặc học sinh dân tộc thiểu số dễ mắc phải
để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trƣớc.
Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh,
cuối cùng cho các em đọc cá nhân thành tiếng, từ khó này, với những câu mà
giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu. Cũng tiến hành nhƣ vậy,
cuối cùng mới luyện đọc cả bài.
Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là
việc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng.
Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đƣợc đọc.
Khi đọc cho ngƣời khác nghe thì ngƣời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhƣng
để cho ngƣời nghe hiểu kịp thời. Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liến
thoắng. Tốc độ chấp nhận đƣợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc
độ của lời nói.
Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh làm chủ
tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định. Đơn vị để
đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách
giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự
kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài
có tiếng cho trƣớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định đọc tốc độ nhƣ
Phân môn Tập đọc lớp 2, là môn học rất quan trọng. Vì đây là cơ sở ban
đầu giúp các em rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu văn bản …Từ
18
đó giúp các em hiểu biết về thiên nhiên xã hội, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt…
Góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh.
- Mục tiểu của phân môn Tập đọc lớp 2 về chuẩn kiến thức kĩ năng
chƣơng trình Tiểu học mới là:
+ Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, đoạn đối thoại hoặc một bài văn
ngắn.
+ Hiểu đƣợc ý chính của đoạn.
+ Biết dựng mục lục SGK khi đọc.
+ Thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK.
1.3.2. Nhiệm vụ
a1. Rèn kỹ năng đọc
tập đọc là môn thực hành tiếng việt. dạy tập đọc chính là dạy một kĩ năng.
Cần coi trọng việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh, cần chú ý đến cả hai hình thức
đọc chủ yếu dạy ở tiểu học: đọc thành tiếng và đọc thầm.
- Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát ra âm thanh (tiếng). hình thức đọc
này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của ngƣời mới tập đọc là: muốn đọc
hiểu cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác: miệng đọc, mắt nhìn
tai nghe nhƣ vậy mới dễ dàng nhớ nội dụng.
Đọc thành tiếng có các mức độ sau:
Đọc đúng: phát âm chính xác các tiếng… cần điều tra lỗi phát âm của học
sinh từng vùng để có biện pháp sửa chữa thích hợp.
Đọc rõ ràng, rành mạch: đọc rõ tiếng, từ, cụm từ, ngắt nghỉ đúng chỗ,
đúng dấu câu, cƣờng độ vừa phải, (không đọc to quá hoặc quá nhỏ, tốc độ vừa
phải không ê a ngắc ngứ, không liến thoắng).
Đọc lưu loát: đọc với tốc độ nhanh. Phát âm rõ ràng, rành mạch không bị
vấp váp, biết ngừng nghỉ đúng dấu câu. Phải luyện tập dần dần, từ đọc đúng tiến
cho mình một cuộc sống trí tuệ và phát triển.
a4. Giáo dục thẩm mĩ, giáo dục tình cảm, phát triển tư duy
Giáo dục thẩm mĩ: thực chất của việc giáo dục thẩm mĩ là gì nếu không
phải là cho các em biết cảm thụ cái hay cái đẹp của ngôn ngữ văn học, hình
tƣợng của văn học qua mỗi bài tập đọc.
20
Dạy học tập đọc có khả năng hƣớng học sinh tới cái đẹp, biết rung cảm
trƣớc vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tƣợng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của mỗi
nhân vật…
Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn
học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc. nó đã đƣợc hình
tƣợng hóa, điển hình hóa cao độ. Nó là cuộc sống song thông qua lăng kính chủ
quan của các tác giả nên ngời sáng lên và giàu chất thơ, thơ mộng. phải giúp học
sinh cảm nhận đƣợc vẻ đẹp của tác phẩm, để từ đó rung cảm với tác phẩm văn
học để có thể đọc đƣợc hay.
Giáo dục tình cảm: thông qua con đƣờng giáo dục thẩm mĩ việc giáo dục
sẽ đạt hiệu quả cao. Đó là con đƣờng nghệ thuật đến với cuộc đời.
Văn học có sức mạnh lớn, nó giáo dục con ngƣời không phải bằng triết lí
khô khan mà bằng những hình tƣợng, văn học sống động. Từ sự rung động nội
tâm, bài tập đọc đã mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình
yêu đối với cuộc sống và con ngƣời, tình yêu gia đinh, yêu bạn bè, yêu quê
hƣơng sứ sở…
Phát triển tư duy: Mỗi bài tập đọc giúp các em nhận thức thêm một mảng
nhỏ của cuộc sống: nhận thức của các em phát triển, tầm hiểu biết của các em
đƣợc mở rộng, ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú, từ đó tƣ duy các em
phát triển. Dạy tập đọc và học thuộc lòng góp phần phát triển tƣ duy hình tƣợng
bên cạnh việc phát triển tƣ duy lôgic. Những bài tập đọc hay, có giá trị thẩm mĩ
cao sẽ có tác dụng ghi dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời mỗi con ngƣời.
1.4. Những vấn đề đổi mới phƣơng phƣơng pháp giáo dục tiểu học
Những hiểu biết về quá trình tâm lí ở con ngƣời nói chung và ở trẻ em lứa tuổi
tiểu học nói riêng sẽ giúp giáo viên lựa chọn các phƣơng pháp dạy học để giảng
dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS; Những hiểu biết về quan điểm dạy học
hiện đại, về bản chất của ngôn ngữ, của tiếng Việt có vai trò quan trọng trong
việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phƣơng pháp dạy học tiếng Việt nói
chung và phân môn Tập đọc nói riêng ở tiểu học. Đây là điều kiện quan trọng để
hình thành kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt.
Việc xác định đúng những khó khăn mà học sinh gặp sẽ giúp GV có biện
pháp giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc văn bản tiếng việt, cũng nhƣ các biện
pháp đổi mới trong dạy – học tập đọc nói chung nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học tập đọc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của gia đình, nhà trƣờng, nghành
giáo dục nói riêng và xã hội nói chung.
22
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của
học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La
2.1.1. Mục đích khảo sát
Từ những định hƣớng đổi mới trên, chúng tôi khảo sát về vấn đề rèn
luyện kĩ năng đọc văn bản tiếng việt cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn
Thuận Châu, để tìm hiểu xem đã áp dụng chƣơng trình SGK mới hay chƣa. Và
đã sử dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực vào giảng dạy trong phân môn
Tập đọc hay chƣa. Từ đó tìm hiểu những khó khăn của GV gặp phải trong việc
rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt trong phân môn Tập đọc lớp 2.
Mặt khác tôi đi tìm hiểu những khó khăn về tâm lí trong quá trình học tập
khi làm quen với phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc sử dụng trong phân môn
Tập đọc và tiếp thu tri thức trong quá trình học tập, trong đọc các văn bản Viếng
Việt có gặp những khó khăn gì? Từ đó đƣa ra những phƣơng pháp dạy học trong
phân môn tập Tập đọc lớp 2 phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em và
Phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp
Phƣơng pháp quan sát
Phƣơng pháp thống kê…
2.2. Kết quả khảo sát
2.2.1. Chƣơng trình phân môn tập đọc lớp 2
Bảng 1: Nội dung chủ điểm trong chƣơng trình tập đọc lớp 2
Số tiết / tuần
Stt
Hệ thống chủ điểm (15 chủ điểm)
3 tiết / tuần
1
Em là học sinh
2
Bạn bè
3
Trƣờng học
4
Thầy cô
5
Cha mẹ
6
Anh em
7
Ông bà
8
Bạn trong nhà
9
Bốn mùa
10
Chim chóc