DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
SGK: sách giáo khoa
PP: phương pháp
PPDH: phương pháp dạy học
PPDHTC: phương pháp dạy học tích cực
HS: học sinh
GV: giáo viên
HSTH: học sinh tiểu học
VBVH: văn bản văn học
NCGD: nghiên cứu giáo dục
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
CHƢƠNG 3: ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU BÀI THƠ “TRE VIỆT NAM” TIẾNG VIỆT 4
36
3.1. Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong đọc - hiểu bài thơ
“Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy 36
3.1.1. Phương pháp luyện đọc theo mẫu 36
3.1.2. Phương pháp đọc diễn cảm 36
3.1.3. Phương pháp giao tiếp (PP đàm thoại) 37
3.1.4. Phương pháp dạy học nêu vấn đề 37
3.1.5. Phương pháp thảo luận nhóm 38
3.2. Thiết kế mẫu bài thơ “Tre Việt Nam” (SGK TV4 tập 1, tr41) 38
3.2.1. Thuyết minh về thiết kế giáo án “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy Tiếng
Việt lớp 4 38
3.2.2. Thiết kế giáo án mẫu (phần phụ lục 1) 40
Tiểu kết chương 3 40
C. PHẦN KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Với quá trình triển khai thay đổi chương trình và gách giáo khoa
(SGK) Tiếng Việt tiểu học, việc ứng dụng phương pháp dạy học tích cực lấy hoc
sinh là trung tâm nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể người học
trong giờ học Tiếng Việt đã mang tới những triển vọng khả quan. Bước chuyển
của quá trình dạy học Tiếng Việt theo quan điểm tích cực đã tạo ra những thay
đổi quan trọng về nhận thức và hành động tại các trường tiểu học. Thế nên học
1.3. Trong phân môn Tập đọc, tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp quê hương, đất
nước là một kiểu loại văn bản chính. Có thể nói, đây là loại văn bản “khó đọc”
nhất trong tất cả các kiểu loại văn bản bởi đặc trưng nắm bắt thế giới môt cách
đặc biệt, bởi kiểu cấu trúc theo một logic, đúng hơn là theo logic cảm xúc. Cũng
không ít người cho rằng việc đọc và thưởng thức những tác phẩm ca ngợi quê
hương, đất nước nói chung, thơ ca ngợi về quê hương đất nước là lĩnh vực của
những gì thiêng liêng, huyền bí chỉ những cá nhân mang phẩm chất “thiên phú”
mới có thể bước chân vào. Không cực đoan như thế nhưng số đông cho rằng tác
phẩm ca ngợi quê hương, đất nước “khó đọc”, “kén” người đọc hơn nhưng tác
phẩm tự sự hay trữ tình. Học sinh (HS) trong nhà trường cũng vậy, thơ đối với
các em có vẻ ngắn hơn, dễ thuộc hơn tác phẩm tự sự nhưng cảm nhận, lý giải,
phân tích, bình giá những vẻ đẹp của nó thì bội phần khó khăn thử thách.
Chương trình và sách giáo khoa mới được xây dựng theo hướng tăng cường
khả năng hoạt động của người học. Vì vậy, việc ứng dụng các phương pháp day
học tích cực để dạy học Tiếng Việt nói chung, thơ ở Tiểu Học nói riêng là một
hình thức góp phần tạo điều kiện giúp HS phát huy vai trò chủ động, năng động
sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kỳ hội nhập khu vực và
thế giới của đất nước.
1.4. Ở huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La, do hoàn cảnh và điều kiện thực tế
ở một điạ phương vùng xâu, vùng xa phía tây bắc của Đất Nước, việc đổi mới
quan điểm dạy học Tiếng Việt nói riêng theo tinh thần phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học còn gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Bản thân
chúng tôi cũng muốn tìm hiểu và góp phần vào việc cải thiện tình hình dạy học
Tiếng Việt tại Trường Tiểu Học Thị Trấn Thuận Châu - Sơn La.
3
Với các lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng phương pháp dạy
học tích cực trong đọc - hiểu bài thơ Tre Việt Nam cho học sinh lớp 4 Trường
Tiểu học thị trấn Thuận Châu - Sơn La”. Trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu đổi
mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học cho chính mình sau này, sau
liệu, giáo trình như:
Chuyên luận: Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu Học (NXB GD, 2006)
đã nêu: Về bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp,
đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai các phương pháp trên cơ sở khai
thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số
phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học [2. tr10]. Từ đó đưa ra các phương pháp dạy tập đọc như: Phương
pháp phân tích mẫu, phương pháp trực quan, phương pháp thực hành giao tiếp
[2. tr43]. Nhằm giúp cho quá trình dạy học tập đọc và đổi mới phương pháp dạy
học tập đọc đạt kết quả cao.
Chuyên luận: Dạy học tích cực và cách tiếp cận trong dạy học tiểu học
(Phó Đức Hòa, NXBĐHSP, 2011) cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học
tích cực để vận dụng vào dạy học phân môn Tập đọc đạt kết quả cao như: thảo
luận nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, động não là những phương pháp
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Giáo trình: Phương pháp dạy học tiếng iệt ở tiểu học (Lê Phương Nga- Đặng
Kim Nga, NXB GD, NXB ĐHSP, 2007), đã đưa ra các phương pháp phát huy tính
cực chủ động của HS như: Phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp luyện
theo mẫu, phương pháp giao tiếp và quy trình dạy phân môn Tập đọc.
Ngoài ra, không thể bỏ qua một nguồn tài liệu tham khảo quý báu đó là các
sáng kiến kinh nghiệm về dạy học Tiếng Việt theo hướng ứng dụng các phương
pháp dạy học tích cực được đúc kết từ phong trào thi đua “dạy tốt học tốt” trong
nhà trường thời gian qua. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở lí luận và định
hướng quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài: Ứng dụng phương pháp dạy học
tích cực trong đọc – hiểu bài thơ “Tre Việt Nam” cho học sinh lớp 4 Trường
Tiểu học Thị Trấn Thuận Châu – Sơn La”.
5
6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức lý luận về các phương pháp dạy học tích cực và
việc ứng dụng các phương pháp đó trong giờ đọc – hiểu văn bản tác phẩm.
Tìm hiểu tình hình thực hiện dạy học Tiếng Việt trên cơ sở áp dụng các
phương pháp dạy học tích cực trong dạy tập đọc tại Trường Tiểu học Thị Trấn
Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Xây dựng một số biện pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa hiệu quả
giảng dạy trong giờ đọc – hiểu bài thơ “Tre Việt Nam” (Tiếng Việt – lớp 4),
cũng như trong các văn bản tác phẩm thơ ca ngợi quê hương, đất nước trong
chương trình Tiếng Việt ở tiểu học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Các tài liệu về thơ ca ngợi quê hương, đất nước, con người hiện đại, tài liệu
về phương pháp giáo dục học, các tài liệu về chương trình, sách giáo khoa, việc
đổi mới phương pháp dạy học trong những năm gần đây…được chúng tôi tập
trung nghiên cứu, làm tiền đề cho việc thực hiện đề tài và quá trình dạy học thơ
ca ngợi về quê hương, đất nước, con người Việt Nam hiện đại.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Tham gia dự giờ, quan sát, tìm hiểu nắm bắt tình hình dạy học thơ ca ngợi
quê hương, đất nước, con người Việt Nam ở trường tiểu học, bao gồm các hoạt
động như dạy học, chất lượng dạy học các phương pháp dạy học, từ đó rút ra
những nhận định về thực trạng cũng như phương hướng phát triển dạy học thơ
ca ngợi quê hương, đất nước, con người ở trường tiểu học hiện nay.
7.3. Thiết kế mẫu
Soạn giáo án bài thơ “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy nhằm ứng dụng các
biện pháp đã đề xuất.
8. Đóng góp của khóa luận
8.1. Về lí luận
8
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Phƣơng pháp tích cực
1.1.1.1. Phương pháp là một phạm trù hết sức quan trọng, nó tồn tại gắn bó
với mọi hoạt động của con người. A.N Krưlốp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
phương pháp: “Đối với con tàu khoa học. Phương pháp vừa là chiếc la bàn, vừa
là chiếc bánh lái, nó chỉ phương hướng và cách thức hoạt động”. Về phương
diện triết học, phương pháp được hiểu là cách thức, con đường, phương tiện để
đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định.
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích nhất
định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định.
Trên cơ sở phương pháp chung, người ta đã xây dựng khái niệm phương
pháp dạy học. Theo các nhà giáo dục học trên thế giới và các nhà giáo dục học
Việt Nam, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về phương
pháp dạy học như:
1.1.1.2. PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các
nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học.
PPDH là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và
trò (trong đó, thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực, chủ động)
nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học.
PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phố hợp thong nhất
dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục
người dạy luôn động não, tích cực tổ chức các hoạt động, đưa người học vào các
tình huống sư phạm khác nhau và để tự các em giải quyết những tình huống đó.
Trong việc đổi mới PPDH phải luôn có sự hợp tác của người dạy và người
học, sự phối hợp hoạt động dạy và hoạt động học. Theo quan điểm này,
PPDHTC đề cập đến Dạy và Học tích cực. Như vậy, thuật ngữ này hàm chứa cả
phương pháp dạy và phương pháp học.
PPDHTC là một xu thế đổi mới PPDH trong các loại hình nhà trường hiện
nay. Ở đây, người học được chiếm lĩnh tri thức thông qua các hoạt động dưới
10
vai trò tổ chức, chỉ đạo, định hướng của người dạy. Nó đi ngược lại với xu thế
dạy học truyền thống lâu nay: Thầy đọc – Trò chép; hay nói cách khác, người
học bị động trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo.
a. Đặc điểm của phương pháp dạy học tích cực
- PPDHTC là hệ thống phương pháp trong đó có phương pháp tự học là
trung tâm chỉ đạo, có tác dụng gắn bó các phương pháp khác thành một hệ thống
nhất toàn vẹn.
- PPDHTC có tác dụng tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học.
Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức
giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết cần
giải quyết bằng được mâu thuẫn đó. Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh
hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui của sự nhận
thức sáng tạo.
- PPDHTC có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học mà trong đó tư duy
sáng tạo vừa là phương tiện vừa là mục đích của quá trình dạy học.
- PPDHTC có yêu cầu cao đối với người dạy và người học.
- PPDH tích cực giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhớ lâu, đảm bảo sự cá
thể hóa, tập trung vào người học.
- PPDHTCcó thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở
nhiều mức độ khác nhau.
Chúng ta thử tưởng tượng xem, từ 2 đến 3 năm, lượng thông tin khoa học
công nghệ tăng lên hai lần, còn 3 – 4 năm, thông tin khoa học xã hội tăng hai
lần. Như vậy, khoảng ba năm, thông tin về khoa học nói chung tăng gấp hai lần.
Không phải ngẩu nhiên, xu hướng một số nước tiên tiến trên thế giới giảm bậc
đào tạo đại học xuống còn ba năm hoặc hơn một chút (thời gian đào tạo tại một
số trường đại học ở Vương quốc Anh là ba năm). Những người được đào tạo –
sản phẩm của giáo dục sẽ đáp ứng phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học là tạo cho người học động cơ
hứng thú học tập, rèn kĩ năng, thói quen ý chí tự học để từ đó khơi dậy nội lực
vốn có trong mỗi người, chất lượng và hiệu quả học tập sẽ được nâng cao.
12
c3. Dưới góc độ lí thuyết của lí luận dạy học, nguyên tắc đảm bảo tính vừa
sức chung và tính vừa sức riêng luôn được thực hiện trong quá trình dạy học.
Theo nguyên tắc dạy học này, tri thức truyền tải phải nằm trong vùng ngưỡng
phát triển trí tuệ của người học, tức không quá thấp và không quá cao. Trong khi
đó trình độ nhận thức trong một lớp là không đồng đều cũng như tư duy luôn có
sự khác biệt, do vậy khi áp dung PPDHTC tính đến sự phân hóa về cường độ,
tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập với các bài học được thiết kế thành một
chuỗi các thao tác độc lập.
Các bài tập, các tình huống được thiết kế trong bài học phải tuân theo
nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức chung và riêng. Tính vừa sức chung đối với số
đông người học (đại trà), còn tính vùa sức riêng đối với cá nhân học sinh.
Áp dụng PPDHTC ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn. Việc
sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu
cầu cá thể hóa hoạt động học tập của người học.
Tuy vậy, trong quá trình dạy học, hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, hoạt
động sáng tạo và thái độ cũng như chuẩn mực hành vi đều được hình thành bằng
các hoạt động độc lập, cá nhân. Giảng đường và lớp học là môi trường giao tiếp
sư phạm, giao tiếp giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau, tạo
nghĩa giáo dục trong đánh giá bị giảm sút đáng kể.
Theo lí thuyết của PPDHTC, người dạy tổ chức hướng dẫn cho người học
phát triển các kĩ năng tự đánh giá; tự điều chỉnh hoạt động học. Ở đây, người
dạy cần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia tương tác, đánh giá
lẫn nhau. Tự đánh giá đúng bản thân để từ đó điều chỉnh hành vi, hoạt động của
mình là yếu tố cần thiết trong cuộc sồng. Phẩm chất này của mỗi người sẽ dần
được hình thành thông qua việc dạy và học tích cực trong nhà trường.
Theo định hướng của PPDHTC, nhằm đào tạo những con người năng động,
sáng tạo, dễ hòa nhập và thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra – đánh
giá không dừng lại ở mức độ, yêu cầu tái hiện các tri thức đã học (tư duy tái hiện
là tư duy mang tính thụ động, không tích cực) mà phải kích thích tài năng tìn
kiếm của người học các thách thức thông qua các bài toán nhận thức, những tình
huống có vấn đề, những yêu cầu mang tính sáng tạo điển hình…
14
Ngày nay, với sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại cũng như các
phương thức đánh giá mới đang ngày được cập nhật và sử dụng, nhà sư phạm có
nhiều lựa chọn các cách đánh giá khác nhau nhằm mang lại thông tin phản hồi
tích cực từ phía người học. Có thể kể tên một trong các cách đánh giá mới hiện
nay mà chúng tôi đang nghiên cứu và thực nghiệm triển khai, đó là việc đánh giá
kết quả học tập của người học bằng trắc nghiệm khách quan có sử dụng các
phần mềm công cụ.
Có thể nói, từ PPDH truyền thống, mang tính thụ động, áp đặt tri thức với
người học chuyển dịch sang PPDH tích cực mang tính chủ động, độc lập và sáng
tạo của người học là cuộc cách mạng và một bước tiến dài trong lịch sử giáo dục
nước nhà. Nó hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi mạnh mẽ của xã hội, nhằm
giúp đào tạo các sản phẩm của giáo dục (tri thức con người) thích ứng được với
hoàn cảnh và cuộc sống của xã hội hiện hành.
1.1.2. Đọc – hiểu
1.1.2.1. Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí
duy, ghi nhớ. Sau đó sử dụng cơ quan phát âm để phát ra thành tiếng nhằm
hướng tới một đối tượng nghe nào đó.
- Đọc thầm: tức là hoạt động đọc sử dụng thị giác để tác động lên văn
bản từ trên xuống dươi, từ trái qua phải, đồng thời sử dụng trí óc để phân tích, tư
duy, ghi nhớ.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc ở tiểu học
1.2.1.1. Cơ sở tâm lí với việc dạy học tập đọc
Dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh dựa trên cơ sở tâm lí
học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt động
chủ động và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức. Theo X.L Rubinstêin
(1902-1960) “con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân dành được
bằng lao động của mình”, học sinh tiểu học (HSTH) sẽ thông hiểu và ghi nhớ
những gì đã trải qua trong quá trình hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách
này hay cách khác, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi đứng trước một
khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề.
16
Khi bước lên lớp 4, phân môn Tập đọc với yêu cầu đọc - hiểu cao hơn. Do
đó, HS sẽ gặp không ít khó khăn khi học tập vì vậy đổi mới phương pháp dạy
học phù hợp với tâm lí học sinh là điều rất cần thiết nhằm mang lại kết quả cao
trong dạy và học phân môn Tập đọc.
1.2.1.2. Cơ sở giáo dục tiểu học với việc dạy học tập đọc
Theo điều 23 - Luật GD năm 1998: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là
giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các
kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ
từ, câu, chữ, hiểu nội dung rồi đọc đúng ngữ điệu, nhịp điệu, diễn cảm, cảm
nhận được ý nghĩa tình cảm, có cảm xúc, biết tư duy, tưởng tượng, hình thành ý
thức tốt đẹp trong tâm hồn và có hành động đẹp, nghĩa là học sinh biết chuẩn
ngôn ngữ và hiểu biết cảm thụ văn học. Đây là một nghệ thuật, nghệ thuật trong
lao động dạy học sáng tạo của người thầy tiểu học. Dạy tập đọc sẽ càng tinh tế,
càng sáng tạo, càng hiệu quả khi ta nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu
của ngôn ngữ văn học. Đây là cơ sở quan trọng để đổi mới, ứng dụng những
phương pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả cao trong dạy học.
Cơ sở của dạy học phân môn Tập đọc lớp 4 đó chính là việc đọc đúng chính
âm, trọng âm, ngữ điệu và đọc diễn cảm văn bản đọc. Đây cũng chính là cở sở
để ứng dụng phương pháp dạy học tích cực đạt hiệu quả cao.
1.2.2. Đặc điểm phân môn Tập đọc lớp 4
1.2.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu của phân môn Tập đọc lớp 4
a. Mục tiêu
Củng cố, phát triển kỹ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành từ lớp 1,
2, 3; tăng cường tốc độ đọc, biết đọc lướt để chọn thông tin nhanh; bước đầu
biết đọc diễn cảm.
Phát triển kỹ năng đọc - hiểu lên mức cao hơn: Nắm và vận dụng được một
số khái niệm như đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách… để hiểu ý nghĩa của
bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong các bài văn, thơ.
18
Ngoài ra dạy tập đọc là giáo dục học sinh lòng ham đọc sách. Thông qua
việc dạy tập đọc, làm cho học sinh thích đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi
ích cho các em trong cả cuộc đời. Phân môn Tập đọc giúp các em có vốn kiến
thức về ngôn ngữ, đời sống kiến thức văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy,
giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ.
b. Nhiệm vụ
Hình thành năng lực đọc cho học sinh.
Giáo dục lòng ham đọc sách, phương pháp làm việc với sách cho học sinh.
ánh mắt diễn tả bài đọc và hướng tới người nghe.
Muốn đọc diễn cảm phải nắm được kĩ thuật đọc đúng đồng thời phải hiểu,
cảm thụ được văn bản đọc và biết hướng tới người nghe để giọng đọc trở nên
truyền cảm.
b. Đọc thầm – tiếp nhận văn bản
Đọc thầm là hình thức đọc không thành tiếng, người đọc dùng mắt để nhận
biết văn bản và vận dụng năng lực tư duy để chuyển trực tiếp từ kí tự sang nghĩa
để hiểu.
Đọc thầm có ưu thế là nhanh hơn đọc thành tiếng và là hình thức đọc tốt
nhất để tiếp nhận, thông hiểu nội dung văn bản do không phải chú ý đến việc
phát âm mà chỉ tập trung hiểu điều mình đọc.
c. Các hoạt động dạy và học tập đọc
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
a, Kiểm tra bài cũ
- GV nêu câu hỏi kiểm tra việc đọc
thành tiếng và hiểu nội dung bài đã
học.
b, Bài mới
Bước 1: Vào bài
- GV dùng tranh ảnh, câu hỏi hoặc
giới thiệu gây tò mò, hứng thú cho
HS tìm tòi lời giải đáp.
Bước 2: Đọc mẫu
- HS trả lời.
+ HS đọc diễn cảm
+ HS đọc thuộc lòng
- HS đọc và trả lời.
- HS nêu nội dung bài học. - HS đọc và nêu nội dung bài học
- HS lắng nghe.
1.2.3. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay
Phương pháp dạy học tích cực là hệ thống phương pháp dạy học nhằm phát
huy cao độ tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình học tập, vấn đề
này đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử
phát triển của giáo dục và nhà trường, tư tưởng về dạy học tích cực đã được các
nhà giáo dục, nhà nghiên cứu, nhà lãnh đạo bàn đến từ rất lâu:
Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được đặt ra trong
nghành giáo dục từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Thời kì này trong các trường
sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Những lần cải cách giáo dục tiếp theo, phát huy tính tích cực là một trong những
phương hướng cải cách nhằm đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo,
làm chủ bản thân và đất nước.
21
Tại nghị quyết IV của ban chấp hành TW khóa VII đã chỉ rõ: Đổi mới
phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học… Áp dụng các phương
pháp giáo dục hiên đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề.
Phạm Văn Đồng trong bài: “một phương pháp cực kỳ quý báu” đăng trên
tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học” [2,10]. Người dạy có
vai trò quan trọng trong đổi mới PPDH là người hưỡng dẫn, điều khiển, chỉ đạo
các em còn người học đóng vai trò là trung tâm của quá trình dạy học. Do đó,
các em tự tìm tòi, khám phá, giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh tri thức trên cơ sở
hưỡng dẫn điều khiển của GV.Vì vậy, giờ học mới đạt được kết quả cao phát
huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập.
Tiểu kết chƣơng 1
Nói đến PPDH là nói đến một bộ phận quan trong trong cấu trúc của quá
trình dạy học. Tuy không phải là lần đầu tiên xuất hiện trong lí luận dạy học
nhưng thuật ngữ PPDH tích cực đã và đang là vấn đề nóng được các nhà nghiên
cứu giáo dục quan tâm, bàn luận.
Từ đó người ta đã khái quát và chỉ ra được, PPDH tích cực là một thuật ngữ
rút gọn để chỉ các PP, nhằm phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động độc lập của
người học, dưới vai trò tổ chức điều khiển của giáo viên.
Dựa trên những cơ sở lí luận đã cho thấy đổi mới PPDH nhằm phát huy tính
tích cực là một vấn đề vô cùng quan trọng trong công tác giáo dục. Nó ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục, nhân cách người học, nó làm cho
người học năng động trong học tập, sáng tạo, độc lập trong nhận thức, trong
tư suy, Với giáo viên cần phải nhận thức đúng định hướng về đổi mới PPDH,
trong thực tiễn muốn đổi mới PPDH có hiệu quả thì cả người dạy và người
học phải tích cực, chủ động trong mọi hoạt đông dạy và học. Bên cạnh đó, cơ
sở vật chất, phương tiện dạy học cần phải phù hợp, sự ủng hộ của các cấp
quản lý cũng là nhân tố góp phần quan trọng mang lại hiệu quả trong quá
trình đổi mới PPDH hiện nay.
Muốn hướng dẫn HS đọc - hiểu có hiệu quả, GV cần nắm được những đặc
điểm tâm lí của người học; có những hiểu biết về các PPDH tích cực, quy trình