LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Điêu Thị Tú Uyên, người đã
trực tiếp hướng dẫn em thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm cùng các thầy cô giáo Khoa
Tiểu học - Mầm non, Phòng QLKH và QHQT, Thư viện trường Đại học Tây
Bắc, Ban Giám hiệu cùng các thầy, cô giáo và các em học sinh ở Trường Tiểu
học Long Hẹ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện cho em hoàn
thành tốt khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Đinh Thu Hòa
1.1. Cơ sở lí luận 6
1.1.1. Đọc và đọc diễn cảm ở nhà trường tiểu học 6
1.1.1.1. Đọc là gì? 6
1.1.1.2. Đọc diễn cảm là gì? 6
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc đọc và đọc diễn cảm 7
1.1.1.4. Việc đọc và đọc diễn cảm trong trường tiểu học 8
1.1.1.5. Nhiệm vụ của việc dạy đọc và đọc diễn cảm đối với học sinh tiểu học
miền núi 9
1.1.2. Đặc điểm tâm lí, sinh lí có ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh lớp
4, 5 11
1.1.2.1. Đặc điểm về sinh lí có ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh lớp 4,
5 11
1.1.2.2. Đặc điểm về tâm lí có ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh lớp 4,
5 12
1.1.2.3. Những yêu cầu đặt ra đối với việc dạy đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4,
5 13
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học
miền núi 13
1.2. Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1. Khảo sát điều tra 15
1.2.1.1. Mục đích điều tra 15
1.2.1.2. Khách thể điều tra 15
1.2.1.3. Thời gian điều tra 16
1.2.1.4. Phương pháp điều tra 16
1.2.2. Phân tích kết quả điều tra 16
1.2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên trong việc dạy đọc diễn cảm cho học
sinh lớp 4, 5 16
1.2.2.2. Thực trạng nhận thức và hứng thú của học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu
học Long Hẹ trong việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm 17
1.2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, 5 Trường Tiểu
3.6. Thiết kế thể nghiệm 38
3.7. Kết quả thể nghiệm 38
3.7.1. Kết quả trước thể nghiệm 38
3.7.2. Kết quả sau thể nghiệm 39
3.8. Những kết luận rút ra từ thể nghiệm 40
TIỂU KẾT 41
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Việt Nam đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
nên rất cần những con người có tri thức, có trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến.
Yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội như giai đoạn hiện nay đòi hỏi nền
giáo dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, cải tiến lại nội dung và phương pháp
dạy học nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, chất lượng dạy và
học trong nhà trường đang là vấn đề được các nhà quản lý giáo dục đặc biệt
quan tâm. Việc đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được thực hiện có quy
mô về hình thức và chiều sâu về chất lượng nội dung tại các trường phổ thông
trên toàn quốc.
đòi hỏi các em phải thể hiện rõ năng lực đọc diễn cảm bài tập đọc. Nhưng, trên
thực tế, một bộ phận không nhỏ HS, nhất là HS dân tộc tại những trường TH
vùng sâu, vùng xa, khi thể hiện đọc bài tập đọc, các em thường mắc lỗi và chưa
đạt được yêu cầu về đọc đúng, đọc hay. Nguyên nhân trọng yếu là do các em
chưa được rèn luyện triệt để về kỹ năng đọc diễn cảm.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn tiến hành khảo sát thực
tiễn, nghiên cứu đề tài Biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5
Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La, nhằm góp phần nâng cao
chất lượng đọc diễn cảm bài tập đọc trong chương trình TV cho HS lớp 4, 5 tại
Trường Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La nói riêng, một số trường TH miền núi
nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tập đọc là phân môn thực hành có nhiệm vụ quan trọng là giúp chiếm lĩnh
tri thức, chiếm lĩnh công cụ (nghe, nói, đọc, viết), đặc biệt rèn luyện cho HSTH
năng lực đọc (đọc đúng, đọc hay tiếng Việt). Đọc là hoạt động chính của phân
môn này, một hoạt động gồm nhiều phương diện: đọc thầm, đọc lướt, đọc thành
tiếng, đọc diễn cảm. Trong đó, đọc diễn cảm là khâu đòi hỏi cao về kĩ năng nhất
ở HS. Đọc diễn cảm bài tập đọc yêu cầu HS phải đọc chính xác, rõ ràng, có ngữ
điệu đọc phù hợp với nội dung văn bản, sao cho người nghe cảm nhận đầy đủ
giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản đó. Nói cách khác, qua đọc diễn cảm,
HS phải bằng giọng đọc của mình tái hiện được văn bản ngôn từ thành hình ảnh,
âm thanh sinh động, truyền cảm, tác động đến tư tưởng, tình cảm của người
nghe. Do vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động đọc và đọc diễn cảm bài tập
đọc như đã nói trên, việc tìm các phương pháp, biện pháp dạy đọc diễn cảm cho
HSTH được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt (giáo trình đào tạo GVTH hệ Cao
đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2) của Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương
Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến đã nêu các cơ sở lí luận của việc dạy học tập
đọc ở TH và phân tích một số phương pháp dạy học tập đọc: phương pháp trực
quan, phương pháp đàm thoại, phương pháp luyện tập và phương pháp đọc theo
Sơn La. Các công trình nghiên cứu nói trên là cơ sở khoa học quý báu giúp
chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận chung về dạy học tập đọc ở bậc TH và căn cứ vào
đặc điểm tâm, sinh lí của HS lớp 4, 5, đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ
năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5 tại Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu
– Sơn La.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận chung: Tập trung tìm hiểu cơ sở lí luận của việc
dạy tập đọc và rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5.
4
- Nghiên cứu thực trạng: Khảo sát chương trình phân môn Tập đọc trong
SGK TVTH; khảo sát thực tế dạy đọc diễn cảm ở các khối lớp 4, 5 Trường Tiểu
học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn, phân tích, tổng hợp, xây dựng một số biện
pháp giúp GV rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5 tại Trường Tiểu
học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
- Thể nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng đọc diễn cảm của 80 em HS thuộc 2 khối lớp 4, 5 tại
Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
6. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và khuôn khổ nghiên cứu của đề tài có hạn, chúng
tôi chỉ lựa chọn và khảo sát các bài tập đọc có tính nghệ thuật trong chương
trình TV lớp 4, 5 theo chương trình TVTH hiện hành nhằm đề xuất biện pháp
rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho HS.
Chương 2. Biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, 5
Tác giả đề xuất một số biện pháp:
Rèn luyện kĩ năng đọc đúng cho HS; Rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho
HS; GV đọc mẫu diễn cảm; Sử dụng phương tiện kĩ thuật trong dạy đọc diễn
cảm cho HS lớp 4, 5 Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
Chương 3. Thể nghiệm sư phạm
Tác giả sử dụng các biện pháp đã đề xuất tiến hành thiết kế giáo án thể
nghiệm, dạy thể nghiệm, từ đó đánh giá tính khả thi của đề tài nghiên cứu.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đọc và đọc diễn cảm ở nhà trường tiểu học
1.1.1.1. Đọc là gì?
Trong cuốn Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy học tiếng Nga (1988), Viện sĩ
M.R.Lovop định nghĩa: “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình
chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với
hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết
thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm). Đây là một định
nghĩa rất phù hợp với dạy đọc bài tập đọc ở bậc TH. Định nghĩa này thể hiện một
quan niệm đầy đủ về đọc, xem đó là một quá trình giải mã hai bậc: chữ viết đến
âm thanh và chữ viết (âm thanh) đến nghĩa. Như vậy, đọc không chỉ là “đánh
vần”, phát âm thành tiếng theo đúng các kí hiệu chữ viết, cũng không chỉ là quá
trình nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc mà đọc chính là sự
tổng hợp của hai quá trình này.
Nói cách khác, đọc là hoạt động lĩnh hội, tiếp nhận thông tin qua các văn
bản, là hình thức giao tiếp bằng chữ viết. Đó là hoạt động dùng mắt để nhận biết
điệu đọc với các yếu tố biểu cảm khác như nét mặt, cử chỉ, ánh mắt… Tất cả
nhằm thể hiện đúng, hay giọng điệu của văn bản (giọng của tác giả, giọng của
các nhân vật), tư tưởng, thái độ của tác giả gửi gắm trong văn bản, từ đó, tác
động đến cảm xúc của người nghe.
1.1.1.3. Ý nghĩa của việc đọc và đọc diễn cảm
Đọc là hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ được sử dụng trong xã hội loài
người khi đã có chữ viết. Đọc thể hiện tính phát triển, sự văn minh của xã hội
loài người trên đường tiến hóa. Vì vậy, đọc là một hoạt động mang tính xã hội
không thể thiếu của con người. Con người ở mọi lúc, mọi nơi, đối với mọi nghề
nghiệp, mọi lĩnh vực đều có nhu cầu đọc. Hoạt động đọc giúp con người thu
nhận được lượng thông tin lớn nhất, chính xác, tiện lợi nhất mà không bị cản trở
bởi độ dài của thời gian và độ rộng của không gian. Từ đó, nâng cao vốn hiểu
biết, khả năng tư duy, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình và của xã hội.
Ngày nay trong thời đại bùng nổ thông tin, hoạt động đọc càng thể hiện vai
trò đặc biệt quan trọng của nó trong việc góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Thông qua hoạt động đọc, thế hệ sau có thể tiếp thu những kinh nghiệm, thừa
hưởng những tinh hoa do thế hệ trước để lại, đồng thời cập nhật những thành tựu
khoa học ngày một mới của nhân loại để xây dựng cuộc sống, xây dựng đất nước.
Đọc diễn cảm là một nghệ thuật của hoạt động đọc. Trong nhà trường, đọc
diễn cảm được sử dụng rộng rãi trong các giờ văn học (đối với HS phổ thông),
các giờ dạy tập đọc (đối với HSTH). Trong các giờ học này, đọc diễn cảm được
xem như một nghệ thuật đọc có tác động một cách kỳ diệu về nhiều mặt.
M.A.Rubnhikova khẳng định rằng: “Đọc diễn cảm là hình thức đầu tiên và cơ bản
của việc dạy văn học một cách trực quan và cụ thể, đối với chúng tôi, nó là một
hình thức trực quan quan trọng hơn bất kỳ một hình thức trực quan trực giác nào.
8
Chúng tôi không phủ nhận hình thức trực quan trực giác, nhưng phương pháp làm
cho khắc sâu vào nhận thức chính là lời nói, là phương pháp đọc diễn cảm lời
nói”. Việc đọc diễn cảm trong các giờ văn học giúp việc phân tích văn học trở nên
dùng giọng đọc của mình chuyển từ chữ viết sang âm thanh có vần, có điệu mà cần
phải giúp các em có khả năng chuyển tải toàn bộ văn bản viết (chủ yếu là văn bản
9
nghệ thuật) thành văn bản âm thanh sinh động, tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình
cảm, cảm xúc của người nghe. Nghĩa là, qua đọc HS phải tái hiện được thế giới
nghệ thuật của tác phẩm, thể hiện một cách sinh động hình tượng, diễn tả một cách
chân thực, chân thành, tha thiết cảm xúc của tác giả đối với thế giới hình tượng ấy.
Đây chính là biểu hiện của hình thức đọc diễn cảm. Với mục đích trên, việc dạy
cho HS đọc diễn cảm càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với GVTH.
1.1.1.5. Nhiệm vụ của việc dạy đọc và đọc diễn cảm đối với học sinh tiểu học
miền núi
a) Hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh tiểu học miền núi
Do ảnh hưởng của điều kiện, môi trường sống, do ảnh hưởng từ thói quen
nói tiếng mẹ đẻ mà HSTH miền núi (phần lớn là HS dân tộc thiểu số) thường
mắc lỗi phát âm khi nói tiếng phổ thông (tiếng Kinh) và khi đọc tiếng Việt trong
các bài tập đọc. Đây là một khó khăn rất lớn, gây ảnh hưởng đến năng lực đọc
và đọc diễn cảm của các em. Đồng thời, cũng là thực trạng đặt ra vấn đề đối với
các nhà GD: làm cách nào để hình thành, rèn luyện đạt hiệu quả nhất năng lực
đọc và đọc diễn cảm cho các em.
Như trên đã phân tích, đọc thành tiếng gồm các kĩ năng: đọc đúng, đọc
nhanh (lướt qua), đọc có ý thức (thông hiểu nội dung văn bản) và đọc diễn cảm
(đọc hay). Muốn có và thuần thục kĩ năng đọc diễn cảm thì HSTH miền núi
trước hết phải được hướng dẫn cách phát âm đúng để đọc đúng (phát âm chuẩn,
đọc lưu loát, trôi chảy, tròn vành, rõ tiếng, rõ câu, rõ lời của văn bản, biết phân
đoạn, điều chỉnh nhịp điệu, cường độ giọng đọc, ngừng nghỉ đúng chỗ); hướng
dẫn cách đọc có ý thức (thông hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản, ý đồ nghệ
thuật của tác giả thể hiện trong văn bản ấy). Quá trình dạy đọc diễn cảm phải bắt
đầu từ việc dạy cho các em thành thạo các kĩ năng đọc nói trên. Sau đó mới dần
dần hình thành, rèn luyện cho các em kĩ năng đọc diễn cảm. Tức kĩ năng sử
giúp các em có vốn kiến thức phong phú về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong
cách tiếng Việt. Từ đó, tăng cường năng lực diễn đạt tiếng Việt, sử dụng một
cách nghệ thuật tiếng Việt trong học tập, trong giao tiếp. Đồng thời, việc được
tiếp xúc với những văn bản, những tác phẩm văn học hết sức phong phú và đa
dạng thuộc các chủ điểm, chủ đề khác nhau của cuộc sống tự nhiên và xã hội
cũng giúp các em có thêm nhiều hiểu biết về con người, cuộc sống, thiên
nhiên, văn hoá, lịch sử dân tộc và thế giới, về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của
tác phẩm, cái hay, cái đẹp của nội dung tư tưởng, của hình tượng nghệ thuật,
của ngôn từ nghệ thuật… để mở rộng vốn sống của bản thân. Chính lượng tri
thức phong phú từ các bài tập đọc sẽ dần hình thành ở HS cả năng lực cảm thụ
nhạy cảm, tinh tế đối với các giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản ngôn
từ, đối với hiện thực cuộc sống.
d) Giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh tiểu học miền núi
Hoạt động đọc diễn cảm trong học tập đọc đối với HSTH miền núi nếu
được quan tâm sâu sắc và thực hiện có hiệu quả thực sự còn mang lại lợi ích về
tư tưởng, tình cảm, về năng lực thẩm mĩ cho chính đối tượng HS.
Giáo dục tình cảm và giáo dục thẩm mĩ là con đường đưa nghệ thuật đến
với cuộc đời. Từ những rung cảm đặc biệt với bài đọc thông qua đọc diễn cảm,
11
các em sẽ được thầy cô giáo định hướng và tự hình thành trong mình những tình
cảm đạo đức cao cả: tình yêu cuộc sống, yêu con người, yêu gia đình, bè bạn,
yêu quê hương đất nước, thầy cô giáo Những mối tình cảm cao đẹp, lành
mạnh ấy có sức lay động sâu xa tâm hồn trẻ thơ.
Mặt khác, chính thế giới tươi đẹp được tái hiện trong các văn bản, các tác
phẩm văn học mà các em tiếp xúc thông qua đọc và đọc diễn cảm cũng tác động
mạnh mẽ đến nhận thức về thẩm mĩ của các em. Tâm hồn trẻ thơ còn non dại
nhưng cũng rất nhạy cảm. Ngoài vẻ đẹp của miền rẻo cao quê hương các em, các
em còn biết được nhiều vẻ đẹp muôn hình vạn trạng của cuộc sống khắp nơi trên
đất nước mình, trên trái đất này. Các em sẽ hiểu được thế nào là cái đẹp, cái thiện,
với tấn số khác nhau này sẽ cộng hưởng với các khoang phát âm (khoang mũi,
khoang miệng, khoang yết hầu). Sự khác biệt giữa các khoang phát âm ở mỗi
người tạo nên những âm sắc khác nhau mà người ta thường gọi là giọng nói
khác nhau.
Giai đoạn đầu TH, các em được học các chữ ghi âm, âm vần mới. Dưới sự
hướng dẫn của GV, các em được phân tích các chữ cái và tập đọc theo từng âm.
Nếu như bộ máy phát âm của các em không hoàn chỉnh hoặc hoạt động phát âm
của các em phát ra các âm chưa tròn vành, rõ chữ sẽ ảnh hưởng đến khả năng
đọc và đọc diễn cảm của các em ở cuối bậc TH. Vì vậy, GV phải nắm được
điểm cơ bản về bộ máy phát âm và cơ chế phát âm của con người để có biện
pháp rèn luyện khả năng phát âm chuẩn cho HS, nhất là HS dân tộc thiểu số
ngay từ ngày đầu đi học.
1.1.2.2. Đặc điểm về tâm lí có ảnh hưởng đến đọc diễn cảm của học sinh
lớp 4, 5
Giai đoạn đầu, ở bậc học TH, trẻ thường có những biểu hiện tâm lí hứng
thú với việc đến trường. So với trẻ mầm non, HSTH cũng đã có khả năng điều
khiển hoạt động tâm lí của bản thân, biết tuân theo nội quy của nhà trường TH
và đặc biệt là thực hiện tốt những yêu cầu của GV như: chăm chú nghe cô giảng,
không chạy nhảy tự do, tập trung chú ý vào các hoạt động học tập khác trong tiết
học. Đây là điều kiện thuận lợi để GV tiến hành một giờ dạy TV đạt kết quả cao.
Trong một giờ Học vần, Tập đọc HS tập trung chú ý sẽ tiếp thu được những kiến
thức về âm, vần; rèn luyện được kĩ năng phát âm, đọc một cách thành thạo. Đây
là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc rèn kĩ năng đọc và đọc diễn cảm
của HS lớp 4, 5. Bên cạnh đó cũng vẫn có những HS có cảm giác lo lắng hoặc
sợ khi đến trường, do áp lực học tập, do tập quán sống, điều kiện môi trường học
tập, nhất là đối với các em HS là người dân tộc thiểu số, học ở những trường
vùng cao như Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La. Những điều
này sẽ làm cho hứng thú học tập của các em bị hạn chế. GVTH cần lưu ý để xây
dựng những biện pháp kích thích hứng thú học tập, đem lại niềm vui đến trường,
niềm vui học tập cho các em.
tập khả năng đọc diễn cảm của bản thân để làm mẫu tốt cho HS. Thực hiện được
những yêu cầu trên GV đang giảng dạy tại các lớp 4, 5 mới có thể nâng cao
được chất lượng dạy đọc diễn cảm cho HS.
1.1.3. Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy đọc diễn cảm cho học sinh tiểu học
miền núi
Hoạt động đọc và đọc diễn cảm tiếng Việt của HSTH nói chung được
hình thành và thực hiện dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học. Nói một
cách cụ thể, nó liên quan mật thiết đến một số vấn đề của ngôn ngữ học như
yếu tố âm vị, âm tiết tiếng Việt, vấn đề chính âm, phương ngữ, chính tả, chữ
viết, ngữ điệu (thuộc phần Ngữ âm học); nghĩa của từ, cấu tạo của từ (thuộc
phần Từ vựng học); cấu tạo của câu, đoạn, văn bản, các phép liên kết, dấu câu
… (thuộc phần Ngữ pháp học).
14
Trước hết, người đọc cần dựa vào hiểu biết về hệ thống âm vị tiếng Việt,
gồm: các đơn vị đoạn tính (âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối) và siêu đoạn
tính (thanh điệu). Hiểu biết về hệ thống âm vị giúp học sinh phân biệt được các
âm, phân biệt được phần âm và phần vần, cách đọc chính xác các âm theo quy
tắc nhất định (ví dụ đọc từ truyện khác với chuyện, ra khác với da, sao khác
với xao…).
Thứ hai, người đọc cần hiểu biết về âm tiết tiếng Việt (đối với HSTH,
GV còn dùng khái niệm tiếng), gồm: cấu tạo của âm tiết (được hình thành từ
sự kết hợp các âm vị đoạn tính và âm vị siêu đoạn tính), các loại âm tiết. Việc
xác định được cấu tạo và phân loại được âm tiết làm cơ sở cho việc đọc đúng
các tiếng (ví dụ: phải đọc là thuyền chứ không phải là thuền), đọc đúng ngữ
điệu các tiếng.
Vấn đề ngữ điệu trong đọc diễn cảm tiếng Việt hết sức quan trọng, là nhân
tố cốt lõi làm nên thành công của đọc diễn cảm. Ngữ điệu tiếng Việt bao gồm
các yếu tố: cường độ (độ mạnh yếu của âm thanh giọng đọc), trường độ (độ
ngắn, dài của âm thanh giọng đọc), âm sắc (các sắc thái riêng đa dạng của từng
Thứ năm, người đọc cần chú ý đến vấn đề phong cách học, thể hiện trong
các loại văn bản được đưa vào phân môn Tập đọc. Mỗi loại văn bản đều có
những đặc trưng riêng đòi hỏi cách đọc phù hợp. Ví dụ đọc một bài thơ khác với
đọc một bài văn xuôi, đọc một tác phẩm trữ tình khác với đọc một văn bản chính
luận, văn bản nhật dụng (giới thiệu, thuyết minh về một danh nhân) hay văn bản
khoa học thường thức.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát điều tra
1.2.1.1. Mục đích điều tra
Quá trình điều tra nhằm tìm hiểu:
- Thực trạng nhận thức của GV đang trực tiếp giảng dạy tại hai nhóm lớp 4,
5, Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La về tầm quan trọng của việc
rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho HS.
- Các biện pháp đã được giáo viên sử dụng để rèn kĩ đọc diễn cảm cho HS
lớp 4, 5, Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
- Mức độ hứng thú và khả năng đọc diễn cảm của HS lớp 4, 5, Trường Tiểu
học Long Hẹ - Thuận Châu - Sơn La.
1.2.1.2. Khách thể điều tra
- 4 GV đang giảng dạy tại hai nhóm lớp 4, 5, Trường Tiểu học Long Hẹ -
Thuận Châu - Sơn La.
- 80 HS thuộc hai nhóm lớp 4, 5, Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu
– Sơn La, cụ thể:
+ Lớp 4: lớp 4A1 có 20 HS, lớp 4A2 có 20 HS.
+ Lớp 5: lớp 5A1 có 20 HS, lớp 5A2 có 20 HS. 16
1.2.1.3. Thời gian điều tra
Từ tháng 1/2013 đến hết tháng 2/2013.
1.2.1.4. Phương pháp điều tra
17
* Đối với câu hỏi 4: “Để nâng cao hiệu quả đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5,
thầy (cô) đã sử dụng những biện pháp nào?”, có 1/4 GV (chiếm 25%) đã sử
dụng biện pháp đọc mẫu, 2/4 GV (chiếm 75%) sử dụng kết hợp các biện pháp
đọc mẫu, biện pháp thực hành đọc diễn cảm. Như vậy, có thể thấy, một số GV
đã nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm cho
HS nhưng vẫn chưa chú trọng và chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc thiết kế các
biện pháp rèn kĩ năng cho các em.
1.2.2.2. Thực trạng nhận thức và hứng thú của học sinh lớp 4, 5 Trường
Tiểu học Long Hẹ trong việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm
Khảo sát về vấn đề này, chúng tôi tìm hiểu ý kiến của khoảng 30 HS đại
diện đang học tập tại hai nhóm lớp 4, 5 của Trường Tiểu học Long Hẹ -
Thuận Châu – Sơn La. Qua tổng hợp ý kiến trao đổi chúng tôi nhận được kết
quả như sau:
* Đối với câu hỏi 1: “Trong giờ học Tập đọc, em có thích đọc đúng, đọc
hay các bài tập đọc không?”, khoảng hơn 40% HS trả lời thích, còn lại các em
không quan tâm đến việc đọc đúng, đọc hay bài tập đọc.
* Đối với câu hỏi 2: “Em có thường xuyên luyện đọc và đọc diễn cảm ở
nhà không?”, khoảng hơn 30% HS trả lời thỉnh thoảng mới luyện đọc diễn cảm
ở nhà, số còn lại không bao giờ luyện đọc diễn cảm ở nhà.
* Đối với câu hỏi 3: “Trong các thể loại: thơ, văn xuôi, kịch và các thể loại
khác, em thường rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm của mình đối với thể loại nào
?”, khoảng hơn 40% HS trả lời các em luyện đọc diễn cảm thơ và văn xuôi (tác
phẩm văn học), số còn lại không quan tâm.
* Đối với câu hỏi 4: “Khi luyện đọc diễn cảm các em thấy điều gì là khó
khăn nhất?”, đa số HS quan tâm đến việc đọc diễn cảm bài tập đọc cho rằng việc
xác định giọng đọc và thể hiện ngữ điệu cho bài đọc là khó nhất.
1.2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4, 5 Trường
Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La
em còn lúng túng trong việc xác định giọng đọc, thể hiện ngữ điệu khi đọc và
chưa biết sắp xếp, thời gian, kế hoạch luyện tập.
Kết quả khảo sát chung:
Tình hình thực tế cho thấy, việc rèn kĩ năng đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5
theo những biện pháp quen thuộc, truyền thống mà GV vẫn vận dụng đem lại
hiệu quả chưa cao. GV sử dụng các biện pháp đôi khi vẫn chỉ mang tính hình
thức, chưa thường xuyên về mặt thời gian, chưa thực sự đào sâu, tìm tòi, sáng
tạo về nội dung thực hiện. Những nhược điểm này sẽ làm hạn chế kết quả rèn
luyện kĩ năng đọc, đọc diễn cảm và chất lượng cảm thụ tác phẩm văn học của
HS. Ở từng thể loại văn học lại có những đặc điểm nghệ thuật riêng biệt, vận
dụng các biện pháp luyện đọc diễn cảm chưa triệt để sẽ bó hẹp khả năng tìm
hiểu, khám phá những nét đẹp, sự sáng tạo mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm.
Nhiệm vụ đặt ra là cần xây dựng nhũng biện pháp cụ thể nhằm khắc phục và
nâng cao chất lượng đọc diễn cảm cho HS dân tộc thiểu số hai nhóm lớp 4, 5 tại
Trường Tiểu học Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La.
19
TIỂU KẾT
Nội dung đọc diễn cảm trong chương trình Tập đọc hai nhóm lớp 4, 5
muốn phù hợp với HSTH nói chung, HSTH miền núi nói riêng cần lựa chọn
những biện pháp tốt, có hiệu quả. Bằng quá trình thực tiễn, chúng tôi tiến hành
tìm hiểu thực trạng nhận thức và hứng thú của thầy và trò Trường Tiểu học
Long Hẹ - Thuận Châu – Sơn La trong việc rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm,
thực trạng dạy và học đọc diễn cảm cho HS lớp 4, 5 và nhận thấy rằng thực
trạng đó chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng giáo dục hiện nay. GV còn vận
dụng những biện pháp rèn kĩ năng đọc diễn cảm quen thuộc, đơn giản, chưa có
sự sáng tạo; việc luyện tập chỉ mang tính hình thức, chưa luyện tập một cách
hiệu quả. Bên cạnh đó, HS tuy đã nhận thức được vai trò của luyện đọc diễn
cảm nhưng do điều kiện, hoàn cảnh và đặc biệt là gặp khó khăn trong hoạt động
phát âm nên khó rèn luyện tốt kĩ năng đọc diễn cảm. Thực trạng nói trên là cơ sở
nhiên đối với HS người dân tộc ở Trường Tiểu học Long Hẹ không chỉ mỗi HS
đầu cấp hay mắc lỗi mà ở các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) HS cũng vẫn mắc phải lỗi
này khi đọc những từ khó, cụm từ hoặc câu dài. Do đó, để các em có thể tái hiện
trung thành bài đọc, ngay ở khâu hướng dẫn luyện đọc kết hợp giải nghĩa từ, GV
cần quan tâm cho HS luyện đọc trước những từ khó, cụm từ, câu dài (có thể
bằng hình thức đọc cá nhân hoặc đọc đồng thanh cả lớp). Khác với đối tượng
HS vùng thấp, việc đọc diễn ra trước việc giải nghĩa từ, và thường chỉ giải nghĩa