LỜI CẢM ƠN !
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học
Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô khoa pháp luật Kinh tế đã giúp đỡ em trong
suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường.
Xin bày tỏ lòng cảm ơn đến cô giáo -Tiến sĩ Đỗ Ngân Bình, người trực
tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng, em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến những người thân trong gia
đình, bạn bè - những người luôn ủng hộ, động viên em trong quá trình học tập,
trong cuộc sống.
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Dung
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa : CHXHCN
2. Đảng Cộng sản Việt Nam : ĐCSVN
3. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam : TLĐLĐVN
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. MÉT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG ĐOÀN VIỆT Nam HIỆN
NAY
3
1.1. Vị trí, vai trò của công đoàn Việt Nam hiện nay 3
1.1.1. Vị trí của công đoàn 3
1.1.2.Vai trò của công đoàn 5
1.2. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn 6
1.2.1. Chức năng của tổ chức công đoàn 6
1.2.2. Nhiệm vụ của tổ chức công đoàn 8
36
3.2. Những yêu cầu cơ bản đặt ra với công đoàn Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập quốc tế
40
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
hoạt động của tổ chức công đoàn
43
- PHẦN KẾT LUẬN 50
- DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN MỞ ĐẦU
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến vị trí của
công đoàn trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội ở Việt Nam. Cơ chế thị
trường với sức mạnh của nó đang có những ảnh hưởng nhiều mặt đến hoạt động
của công đoàn. Do nhiều nguyên nhân, công đoàn còn nhiều lúng túng về mô
hình tổ chức và phương pháp hoạt động. Vì vậy, có nhiều người cho rằng hiện
nay công đoàn đang mất dần ảnh hưởng trong đời sống xã hội, đặc biệt là đối
với người lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều loại hình
doanh nghiệp đang xuất hiện và ngày càng phát triển. Đó là “mảnh đất” cho
công đoàn hoạt động, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội
dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với xu thế mới, phát huy tích cực vai
trò của mình trong xã hội.
Nghiên cứu về hoạt động của công đoàn trong giai đoạn hiện nay là việc
làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa, đặc biệt là trong năm 2006 Việt Nam đã trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Xuất phát từ lý
do đó, em đã chọn đề tài “Đổi mới hoạt động của công đoàn Việt Nam trong xu
thế hội nhập quốc tế” là đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là tập trung nghiên cứu hoạt động của
công đoàn hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động của tổ chức công
trọng trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân. Tiền
thân của tổ chức công đoàn Việt Nam là tổ chức “Công hội đỏ” do Tôn Đức
Thắng thành lập đầu những năm 1920 nhằm lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi
quyền lợi, góp phần đoàn kết công nhân cùng với giai cấp, tầng líp khác trong cả
nước đấu tranh giải phóng dân téc. Cùng với sự phát triển xã hội, quá trình lao
động cũng có nhiều thay đổi. Công đoàn Việt Nam dần chiếm được vị trí quan
trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội và trong đời sống của người lao động.
Theo điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người
lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và
bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân,viên chức và những người lao động
khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt
động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên
chức và người lao động xây dùng và bảo vệ tổ quốc”.{8, tr7}
Điều 1 Luật Công đoàn cũng ghi nhận: “ Công đoàn là tổ chức chính trị-
xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện
lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên của hệ
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 7 -
thống chính trị xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao
động”.{10, tr3}
Nh vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là trung
tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngò giai cấp công nhân,
lao động. Công đoàn là chỗ dùa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền Đảng
với quần chúng.
Với vị trí là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, của người
lao động, công đoàn luôn cố gắng tập hợp toàn bộ quần chúng, công nhân, viên
chức lao động.
Công đoàn là tổ chức xã hội được hình thành do nhu cầu của đông đảo
kinh tế, trường hoặc chủ nghĩa cộng sản…”{2, tập 42, tr250}
Ngày nay trong quá trình hội nhập quốc tế vai trò của công đoàn càng
được mở rộng và phát triển trên các lĩnh vực, cụ thể là:
Trong lĩnh vực kinh tế. Trong bèi cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay,
công đoàn cần có vai trò tích cực trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế mới.
Vai trò của công đoàn trong nền kinh tế thị trường là tham gia đổi mới cơ chế
quản lý, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ, đẩy mạnh hoạt động công đoàn
trong các thành phần kinh tế song vẫn đảm bảo kinh tế nhà nước giữ vai trò then
chốt, chủ đạo. Một mặt, công đoàn đẩy mạnh hoạt động tại các doanh nghiệp.
Mặt khác, công đoàn hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng.
Trong lĩnh vực chính trị: Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra là xây
dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong củng cố và
giữ vững bộ máy nhà nước. Để nâng cao vị thế chính trị của mình, công đoàn
cần là cầu nối tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, đảm bảo
và phát huy quyền làm chủ của người lao động, từng bước hoàn thiện nền dân
chủ, đảm bảo thực thi pháp luật và để nhà nước thực sù là của dân, do dân, vì
dân. Trước diễn biến phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, công đoàn
phải góp phần cùng với nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị bởi có tạo
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 9 -
được ổn định về chính trị mới tiến hành đổi mới kinh tế có hiệu quả và hoàn
thành tốt các mục tiêu kinh tế đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế.
Nh vậy, công đoàn có trách nhiệm to lớn cùng với các tổ chức trong hệ
thống chính trị của nước CHXHCN Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị
trong giai đoạn hiện nay.
Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt
nước nhà song cũng đem lại không Ýt những tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm lý,
đời sống của người lao động. Vì vậy, công đoàn phải góp phần xây dựng giai
cấp công nhân, bảo đảm sự thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, không
Để thực hiện chức năng này, công đoàn tham gia cùng chính quyền tìm
việc làm và tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động. Bên cạnh đó,
công đoàn tham gia ý kiến trong việc xây dựng thang lương, bảng lương ở các
doanh nghiệp, tư vấn và bảo vệ người lao động trong quá trình ký kết hợp đồng
lao động, ký thoả ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và tổ
chức đình công Công đoàn còn tham gia trong việc quản lý và sử dụng quỹ
phóc lợi tập thể, bảo vệ quyền hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động. Trên
cơ sở đó, công đoàn đã góp phần phát huy dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt là
bảo vệ quyền và lợi Ých của người lao động.
Chức năng đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế và xã
hội, quản lý nhà nước: Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn thực hiện
quyền kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật. Thực hiện chức năng quản lý không có
nghĩa là công đoàn làm cản trở công việc của nhà nước. Công đoàn thamgia
quản lý chính là bảo vệ lợi Ých trước mắt và lợi Ých lâu dài của người lao động,
của doanh nghiệp, của nhà nước một cách căn bản, hiệu quả phát huy vai trò
‘‘trường học quản lý’’ của công đoàn.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý công đoàn cần đẩy mạnh nội dung
hoạt động cụ thể:
Tổ chức phong trào thi đua lao động giỏi trong người lao động.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 11 -
Vận động tổ chức người lao động tham gia xây dựng và thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh, nhiệm vụ công tác, tham gia quản lý lao động, tìm
việc làm và tạo điều kiện cho người lao động làm việc.
Công đoàn phải tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, xây dựng
các chính sách liên quan đến người lao động.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập, khi
thực hiện chức năng quản lý, công đoàn cần chú trọng đến việc phát triển tiềm
- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng
và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, các chính sách, cơ chế quản lý
kinh tế, các chủ trương chính sách liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của
người lao động.
- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ
quyền và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan tổ chức.
- Tham gia các quan hệ trong nước và quốc tế nhằm xây dựng các mối
quan hệ đối nội, đối ngoại rộng rãi, góp phần thực hiện đường lối chính sách của
Đảng và nhà nước, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động.
Trong quá trình hoạt động để đạt kết quả cao, công đoàn cần có điều kiện
nhất định như: quyền tự do công đoàn; có tư cách pháp nhân độc lập; được sự
bảo trợ của nhà nước và các điều kiện khác Các điều kiện trên có ý nghĩa
quan trọng đối với hoạt động của công đoàn vì nó là những nhân tố quyết định
hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ do tổ chức công đoàn đặt ra trong giai đoạn
hiện nay.{14, tr81,82}
1.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Cơ cấu tổ
chức phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ
nhiệm vụ của bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc. Khi nhìn vào cơ
cấu bộ máy tổ chức đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức, trên
cơ sở đó mà phân biệt tổ chức này với tổ chức khác.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 13 -
Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu
thành, thông qua nghiên cứu cơ sở của hệ thống tổ chức. Bảo đảm số nhân sự
cần thiết trong các đơn vị cấu thành. Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm, tạo điều kiện
cho việc luân chuyển và xử lý thông tin giữa các đơn vị trực thuộc.
Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ
bản sau: i) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN); ii) Liên đoàn lao
thực hiện quy hoạch kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thực hiện chế độ chính
với cán bộ thuộc diện quản lý.
Công đoàn ngành trung ương có đối tượng chỉ đạo là công đoàn tổng công
ty, công đoàn trong các cơ quan bộ, công đoàn trong các ban của Đảng, đoàn thể
trung ương và các công đoàn cơ sở trực thuộc. Công đoàn ngành trung ương có
trách nhiệm phối hợp với liên đoàn lao động tỉnh, thành phố chỉ đạo hướng dẫn
công đoàn ngành, địa phương các nội dung thuộc ngành, nghề. Đối tượng chỉ
đạo, nhiệm vụ của công đoàn ngành trung ương được quy định cụ thể trong điều
lệ của công đoàn Việt Nam và trong các nghị quyết được ban hành ở các nhiệm
kỳ đại hội công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cấp trên cơ sở bao gồm liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và các công đoàn tổng công ty, công đoàn ngành địa
phương, công đoàn công ty, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung chịu sự chỉ
đạo trực tiếp (hoặc phối hợp) của liên đoàn lao động tỉnh, thành phố (trung
ương) và công đoàn ngành trung ương. Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của công
đoàn cấp này là các công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn đã được phân cấp quản lý
theo điều lệ công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các
công đoàn bộ phận; tổ công đoàn. Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn ra quyết
định thành lập và công nhận ban chấp hành công đoàn bộ phận và tổ công đoàn;
chỉ đạo công đoàn bộ phận và tổ công đoàn, thực hiện có hiệu quả công tác
chính trị, tư tưởng, phát triển đoàn viên, xây dựng công đoàn bộ phận tổ công
đoàn và công đoàn cơ sở vững mạnh{15, tr67}.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 15 -
Vi mt c cu cht ch thng nht nh vy, cụng on cú iu kin
thun li trong hot ng chm lo, bo v quyn, li ích ca ngi lao ng v
a chớnh sỏch phỏp lut vo i sng, giỳp cho i b phn ngi lao ng v
ngi s dng lao ng thc hin tt chớnh sỏch ca nh nc vỡ s phỏt trin
xã hội.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động
công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tổ chức
cán bộ của Đảng. Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình và thường xuyên
tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông báo tình hình và kết quả
hoạt động.
Các cấp công đoàn cần kiện toàn bộ máy tổ chức của mình, cơ cấu ban
chấp hành công đoàn cần có người là đảng viên có uy tín, có năng lực công tác.
Cần có cán bộ công đoàn là đảng viên ưu tó tham gia cấp uỷ. Như vậy, tổ chức
công đoàn mới nâng cao hiệu quả công tác và luôn đi đúng đường lối của Đảng,
thực hiện tốt các chức năng của mình, đồng thời làm tốt vai trò là sợi dây nối
liền Đảng với quần chúng.
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo hướng mở rộng
liên kết, hợp tác liên doanh với nước ngoài, tổ chức và hoạt động công đoàn ở các
cơ sở liên doanh đã mang màu sắc mới. Song, không thể tách rời sự lãnh đạo của
Đảng, mà ngược lại cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo cuả Đảng đối với tổ
chức công đoàn. Tuy nhiên, trong khi vận dụng nguyên tắc này không nên máy
móc mà cần có sự sáng tạo để đảm bảo sự thành công trong hoạt động công đoàn.
Hai là, công đoàn phải giữ liên hệ mật thiết với quần chúng.
Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của công nhân viên chức và
người lao động, ngược lại công nhân viên chức lao động là cơ sở xã hội của
công đoàn. Sức mạnh của công đoàn là mối liên hệ mật thiết với quần chúng để
thu hót, tập hợp, thống nhất ý chí hành động. Nếu rời xa quần chúng công đoàn
sẽ không có môi trường hoạt động.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 17 -
Văn kiện đại hội ĐCSVN lần thứ X đã khẳng định: “Vai trò và sức mạnh
của các đoàn thể chính là ở khả năng tập hợp quần chúng, hiểu rõ tâm tư và
chúng là động lực thực sự để khơi dậy lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của
đoàn viên. Để phát huy được tính tự nguyện của quần chúng, người cán bộ công
đoàn cần có lòng tin thực sự ở mỗi người lao động. Trước khi làm việc gì dù lớn
hay nhỏ, cũng cần phải có sự giải thích hay giáo dục, thuyết phục làm cho mỗi
đoàn viên hiểu ý nghĩa và trách nhiệm trong mỗi công việc mà họ có nghĩa vụ
hoàn thành.
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng được đề cao.
Bởi lẽ, xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của người lao động ngày
càng được nâng lên. Một khi họ đã nhận thức được vấn đề thì họ sẽ tự nguyện,
tự giác tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức. Muốn vậy, những hoạt
động của công đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng
quan tâm, hình thức thể hiện phong phú và đa dạng, lôi cuốn quần chúng tham
gia.
Tuy nhiên, khi thực hiện nguyên tắc này người cán bộ công đoàn cần
nhận thức rõ việc đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng không có nghĩa hoàn
toàn chiều theo ý quần chóng. Ý muốn của quần chúng chỉ phù hợp khi dùa trên
quyền lợi của tập thể, cộng đồng, xã hội. Vì thế, bên cạnh việc đảm bảo nguyên
tắc này công đoàn cần gắn với việc nâng cao trình độ tư tưởng, văn hoá, nghiệp
vụ cho đoàn viên và người lao động, đồng thời cần chống tư tưởng nóng vội,
mệnh lệnh gò Ðp quần chúng trong hoạt động công đoàn.
Bốn là, nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trong hoạt động công đoàn, tập trung dân chủ là một trong những nguyên
tắc cơ bản của công đoàn Việt Nam đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và hành
động chống lại sự “tập trung quan liêu” và “dân chủ vô tổ chức’’. Phủ nhận
nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động sẽ phủ nhận về mặt bản chất cách
mạng của tổ chức công đoàn. Tập trung dân chủ là xây dựng chế độ làm chủ dùa
trên sáng kiến của quần chúng, tạo mọi điều kiện thu hót quần chúng tham gia
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 19 -
đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục được đẩy mạnh ở tất cả các cấp của tổ
chức công đoàn. Các hoạt động xã hội diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình
thức phong phú, đa dạng thu hót được sự chú ý của người lao động.
Trong công tác nghiên cứu tham gia góp ý, xây dựng các văn bản luật và
dưới luật. Trong những năm qua, TLĐLĐVN trên cơ sở ý kiến của đoàn viên ở
các cấp công đoàn, đã nghiên cứu và tham gia góp ý xây dựng hàng loạt các dự
án luật có liên quan đến lĩnh vực lao động-xã hội. Gần đây nhất, trong năm
2006, công đoàn đã tham gia nhiều ý kiến trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật lao động, trong quá trình xây dựng và ban hành Luật
bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, Luật bình đẳng giới, Pháp lệnh dân chủ cơ sở Đồng thời,
công đoàn cũng lấy ý kiến sửa đổi Luật công đoàn cho phù hợp với sự phát triển
của đất nước.
Công tác tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý của 10 trung tâm, 31 văn
phòng và 87 tổ tư vấn pháp luật của công đoàn các cấp đã góp phần đưa chính
sách pháp luật của nhà nước vào đời sống người lao động, nâng cao sự hiểu biết
và thực hiện tốt việc bảo vệ quyền lợi Ých hợp pháp cho người lao động.
Dưới sự chỉ đạo của công đoàn, việc thực hiện pháp luật ở khu vực doanh
nghiệp nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2006 đã có 93% doanh
nghiệp nhà nước mở hội nghị công nhân viên chức và 97% cơ quan mở hội nghị
cán bộ, công chức, tỷ lệ doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể ở doanh
nghiệp nhà nước là 96%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 26%, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài là 46%. Tỉ lệ người lao động có hợp đồng lao động ở
doanh nghiệp nhà nước là 96% (64% hợp đồng lao động không xác định thời
hạn), doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 84% (21% là hợp đồng không xác định
thời hạn), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 85% (15% là hợp đồng
không xác định thời hạn).{6, tr20,21}
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
- 21 -
- 22 -
các với tổ chức, liên đoàn lao động quốc tế tập huấn cho 50 giảng viên kiêm
chức và 100 cán bộ công đoàn khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
{6, tr25}
Công tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động được đẩy mạnh ở các
cấp công đoàn với nhiều nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận
thức của người lao động về các vấn đề xã hội như pháp luật về phòng chống ma
tuý, tham nhòng. Đồng thời, tổ chức và hoạt động công đoàn trong các doanh
nghiệp đã cổ phần hoá, hoạt động về môi trường, an toàn vệ sinh lao động, tổng
kết 10 năm phong trào “xanh, sạch, đẹp” và “thi đua lao động sáng tạo” trong
giai cấp công nhân lao động.
Năm 2006, công đoàn đã tranh thủ trao đổi kinh nghiệm với công đoàn
các nước và nhận được sự giúp đỡ về tài chính, kĩ thuật của công đoàn các nước
trong Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), của các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Hàng trăm lượt cán bộ tham gia tập huấn về các chủ đề như lao động, công
đoàn, cơ chế ba bên.
Đồng thời, TLĐLĐVN và Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (ICFTU)
phối hợp tổ chức thành công hội nghị mạng lưới lao động khu vực châu Á Thái
Bình Dương lần thứ 12 trước thềm hội nghị thượng đỉnh APEC. Hội nghị đã thu
hót được 40 đại biểu từ các nước APEC đại diện cho trung tâm công đoàn toàn
quốc các nền kinh tế APEC nhằm hướng tới một công đoàn APEC phát triển
bền vững và đảm bảo các quyền của người lao động, khuyến khích các nhà lãnh
đạo APEC thông qua các biện pháp cụ thể thúc đẩy sự tham gia của công đoàn
trong APEC và thành lập diễn đàn APEC.
Những kết quả trên đã chứng tỏ sự đổi mới của tổ chức công đoàn cũng
như vai trò của công đoàn trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Công đoàn đã góp
phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao vị thế trong
xu thế hội nhập, bảo vệ được quyền, lợi Ých hợp pháp của người lao động.
- Nguyễn Thị Phương Dung - Kinh tế 28D -
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
- 24 -
Ýt, lạc hậu chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế xã hội. Năm 2006, cả nước
đào tạo nghề cho 5000 sinh viên hệ cao đẳng, 255000 sinh viên hệ trung cấp cho
các ngành công nghiệp trong khi đó nhu cầu sử dụng lao động hệ có trình độ, tay
nghề ở nước ta lên tới 1,3 triệu người. [20]
Mặt khác, trình độ tay nghề của người lao động vẫn còn nhiều bất cập. Đa
số công nhân nước ta trình độ, tay nghề, kỹ thuật còn thấp. Trong tổng số hơn 7
triệu người đứng máy, nhóm lao động kỹ thuật ở mọi trình độ chỉ chiếm khoảng
12,6%. Nếu tính cả số công nhân kỹ thuật được truyền nghề thực tế (không bằng
cấp) thì lao động kỹ thuật nước ta chỉ đạt tỷ lệ xấp xỉ 25% (khoảng 2 triệu
nhiều) số còn lại lên tới 12% chưa có tay nghề. [21]
Chính việc đào tạo lệch lạc nh trên đã khiến cho vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động trở thành “một gánh nặng” cho sự phát triển kỹ thuật
của đất nước. Theo số liệu của Bộ lao động thương binh xã hội, hiện nay có
khoảng 6,08% lao động không được bố trí việc làm, khoảng 100.000 lao động
còn trong danh sách của doanh nghiệp nhưng đang nghỉ chờ việc hoặc tự tìm
việc làm mới (chủ yếu là lao động trên các công trình xây dựng). Khả năng thu
hót và tạo việc làm của Việt Nam hiện nay chỉ đạt khoảng 6,3 triệu người trong
đó số người cần việc làm lên tới 18 triệu người. Số lao động dôi dư ngày càng
tăng năm 2000 là 100.000 người, năm 2003 là 150.000 người trong các doanh
nghiệp Nhà nước. [22]
Sở dĩ có tình trạng mất cân đối giữa việc làm và học nghề xuất phát từ
những quy định của Nhà nước. Các quy định của pháp luật chỉ quy định chung
chung nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn trong lĩnh việc làm, học nghề mà
không có một văn bản cụ thể, một chương trình cho công đoàn trong từng cấp
học, từng ngành nghề. Nghị định 39/2003/NĐ-CP ban hành ngày 18/04/2003
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc
làm chủ yếu giao cho Bé lao động thương binh xã hội. Trong khi đó, công đoàn
với vai trò là tổ chức đại diện cho người lao động thì chỉ được quyền tham gia