Luận văn: Đổi mới hoạt động của công đoàn Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 16

Luận văn: Đổi mới hoạt động của công
đoàn Việt Nam trong xu thế hội nhập
quốc tế
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến vị trí của
công đoàn trong đời sống kinh tế – chính trị – xã hội ở Việt Nam. Cơ chế thị
trường với sức mạnh của nó đang có những ảnh hưởng nhiều mặt đến hoạt động
của công đoàn. Do nhiều nguyên nhân, công đoàn còn nhiều lúng túng về mô
hình tổ chức và phương pháp hoạt động. Vì vậy, có nhiều người cho rằng hiện
nay công đoàn đang mất dần ảnh hưởng trong đời sống xã hội, đặc biệt là đối
với người lao động. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều loại hình
doanh nghiệp đang xuất hiện và ngày càng phát triển. Đó là “mảnh đất” cho
công đoàn hoạt động, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi công đoàn phải đổi mới nội
dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với xu thế mới, phát huy tích cực vai
trò của mình trong xã hội.
Nghiên cứu về hoạt động của công đoàn trong giai đoạn hiện nay là việc
làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa, đặc biệt là trong năm 2006 Việt Nam đã trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO. Xuất phát từ lý
do đó, em đã chọn đề tài “Đổi mới hoạt động của công đoàn Việt Nam trong xu
thế hội nhập quốc tế” là đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích và nhiệm vụ của đề tài là tập trung nghiên cứu hoạt động của
công đoàn hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động của tổ chức công
2
đoàn Việt Nam, rút ra nhận xét và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong xu thế hội nhập quốc tế.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-
Lênin và các quan điểm của Đảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh. Các phương pháp
chủ yếu được sử dụng trong đề tài là phân tích, tổng hợp, quy nạp.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Khoá luận được chia là 3 chương:
- Chương I. Một số vấn đề cơ bản về công đoàn Việt Nam hiện nay.

4
động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên
chức và người lao động xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.{8, tr7}
Điều 1 Luật Công đoàn cũng ghi nhận: “ Công đoàn là tổ chức chính trị-
xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện
lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là thành viên của hệ
thống chính trị xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao
động”.{10, tr3}
Như vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị, là
trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ giai cấp công
nhân, lao động. Công đoàn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sợi dây nối liền
Đảng với quần chúng.
Với vị trí là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, của người
lao động, công đoàn luôn cố gắng tập hợp toàn bộ quần chúng, công nhân, viên
chức lao động.
Công đoàn là tổ chức xã hội được hình thành do nhu cầu của đông đảo
người lao động. Công đoàn thu hút sự tham gia đông đảo của công nhân viên
chức, người lao động không phân biệt giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo.
Công đoàn là một tổ chức xã hội có tính chất nghiệp đoàn. Tính chất này
biểu hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn. Các thành
viên công đoàn thuộc về lực lượng lao động, đã hoặc đang làm một công việc
nhất định. Do đó, công đoàn có thể coi là tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu
hút sự tham gia đông đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội.
Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan
trọng trong xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao
động. Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội.
Công đoàn còn là người tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng, nhà
nước đến với quần chúng, người lao động. Công đoàn có trách nhiệm xây dựng

dân. Trước diễn biến phức tạp của đời sống kinh tế - xã hội hiện nay, công đoàn
phải góp phần cùng với nhà nước đảm bảo sự ổn định về chính trị bởi có tạo
6
được ổn định về chính trị mới tiến hành đổi mới kinh tế có hiệu quả và hoàn
thành tốt các mục tiêu kinh tế đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế.
Như vậy, công đoàn có trách nhiệm to lớn cùng với các tổ chức trong hệ
thống chính trị của nước CHXHCN Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị
trong giai đoạn hiện nay.
Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt
nước nhà song cũng đem lại không ít những tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm lý, đời
sống của người lao động. Vì vậy, công đoàn phải góp phần xây dựng giai cấp
công nhân, bảo đảm sự thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, không
ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn
hoá, khoa học kỹ thuật để giai cấp công nhân thực sự đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển đất nước. Công đoàn phải tuyên truyền giáo dục người
lao động chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng phát triển nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ,
kỹ thuật và tính sáng tạo cho người lao động.
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng
khối đoàn kết toàn dân. Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cường sức mạnh
của nhà nước.
Trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng. Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu
điểm, tích cực song nền kinh tế này còn là “mảnh đất” làm nảy sinh những tiêu
cực xã hội. Hơn lúc nào hết, công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc
giáo dục công nhân, viên chức, người lao động nâng cao lập trường giai cấp,
phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những
thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại. Đó là yếu tố quan trọng làm cho vai
trò của công đoàn ngày càng mở rộng phát triển. Ngày nay, tổ chức công đoàn
đang, đã và sẽ thu hút được đông đảo lực lượng người lao động. Công đoàn còn
có vai trò thúc đẩy người lao động tích cực sáng tạo để trở thành bộ phận quan

Vận động tổ chức người lao động tham gia xây dựng và thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh, nhiệm vụ công tác, tham gia quản lý lao động, tìm
việc làm và tạo điều kiện cho người lao động làm việc.
8
Công đoàn phải tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, xây dựng
các chính sách liên quan đến người lao động.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập, khi
thực hiện chức năng quản lý, công đoàn cần chú trọng đến việc phát triển tiềm
năng lao động, phát huy sáng kiến, cùng chủ doanh nghiệp tìm nguồn vốn, mở
rộng thị trường sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động.
Kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước chống nạn tham nhũng, quan liêu.
Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và người lao động:
Một trong những chức năng tiếp theo của công đoàn là tuyên truyền, giáo dục
người lao động vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng, vào thắng lợi của
sự nghiệp đổi mới, luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, đấu tranh với mọi khuynh
hướng sai lầm.
Nội dung chức năng giáo dục của công đoàn ngày nay càng được mở
rộng, toàn diện hơn, nhất là giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục
truyền thống đạo đức cho người lao động.
Tóm lại, chức năng của công đoàn là một hệ thống đồng bộ bao gồm
nhiều chức năng khác nhau. Trong đó, chức năng đại diện bảo vệ các quyền lợi
ích hợp pháp của công nhân và người lao động là chức năng quan trọng nhất, thể
hiện mục tiêu hoạt động của tổ chức công đoàn; chức năng đại diện người lao
động tham gia quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nước mang có ý nghĩa như là
một phương tiện để biến các chức năng của công đoàn thành hiện thực; chức
năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân, người lao động có vai trò hỗ trợ tích
cực để công đoàn đạt được những mục tiêu đề ra.
2.2. Nhiệm vụ của công đoàn
Nhiệm vụ của công đoàn là toàn bộ mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là
những vấn đề đặt ra mà công đoàn cần giải quyết trong từng thời kỳ cụ thể.

cho việc luân chuyển và xử lý thông tin giữa các đơn vị trực thuộc.
Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ
bản sau: i) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐVN); ii) Liên đoàn lao
động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương(gọi là liên đoàn lao động tỉnh, thành
10
phố) và công đoàn ngành trung ương; iii) Công đoàn cấp trên cơ sở; iv) Công
đoàn cơ sở và nghiệp đoàn{7, tr10}. Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ
khác nhau.
Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của TLĐLĐVN là các liên đoàn lao động tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và cơ quan tổng
liên đoàn lao động, các đơn vị trực thuộc. TLĐLĐVN là cơ quan cao nhất quyết
định phương hướng, chủ trương, nội dung, chương trình hoạt động của công
đoàn nhằm thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và nghị quyết của
ĐCSVN, chỉ đạo công tác tổng kết thực hiện và nghiên cứu lý luận công đoàn.
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các
liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các công đoàn cơ
sở và nghiệp đoàn đóng trên địa bàn không phân biệt cấp quản lý và thành phần
kinh tế. Chỉ đạo trực tiếp công đoàn tổng công ty (thuộc tỉnh); công đoàn khu
công nghiệp, khu chế xuất, các công đoàn ngành địa phương, công đoàn cơ sở
trung ương (những công đoàn cơ sở không có công đoàn ngành trung ương).
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố quyết định thành lập các công đoàn và
nghiệp đoàn thuộc địa phương quản lý, thảo luận với công đoàn ngành trung
ương trước khi quyết định thành lập hoặc giải thể các công đoàn ngành địa
phương. Chỉ đạo các cấp công đoàn ở địa phương tổ chức đại hội, quyết định
công nhận ban chấp hành và uỷ ban kiểm tra công đoàn ngành địa phương, các
công đoàn trực thuộc địa phương quản lý. Hướng dẫn công tác phát triển đoàn
viên, xây dựng công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững mạnh, công nhận và đề
nghị TLĐLĐVN khen thưởng những công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn vững
mạnh. Ngoài ra, liên đoàn lao động tỉnh còn quản lý các cán bộ công đoàn
chuyên trách liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành địa phương,

4. Nguyên tắc hoạt động của tổ chức công đoàn
Nguyên tắc hoạt động của công đoàn là những chuẩn mực để hướng dẫn
nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động của công đoàn. Các nguyên tắc này
bao gồm:
4.1. Đảm bảo sự lãnh đạo của ĐCSVN đối với hoạt động của tổ chức công
đoàn
12
ĐCSVN là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội của nước
CHXHCN Việt Nam. Tất cả những thành viên hệ thống chính trị trong đó có
công đoàn đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Hoạt động của công đoàn Việt Nam dựa trên cơ sở đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và góp phần thực hiện nhiệm vụ chính do Đảng đề ra trong
mọi thời kỳ. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Công đoàn Việt Nam đã đặt
hoạt động của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều lệ công đoàn Việt Nam
năm 2003 đã ghi rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, kể từ
ngày thành lập đến nay, công đoàn Việt Nam đã tổ chức, vận động công nhân,
viên chức lao động đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của tổ
quốc, vì hạnh phúc của người lao động.”{7, tr3}
Hoạt động công đoàn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu khách
quan và đây cũng là nguyên tắc hoạt động ở mọi cấp công đoàn. Nếu phủ nhận
nguyên tắc này là phủ nhận công đoàn về bản chất cách mạng. Nguyên tắc này
còn đóng vai trò thúc đẩy hiệu quả của hoạt động công đoàn và làm cho tổ chức
công đoàn ngày càng vững mạnh, có vị trí vững chắc trong hệ thống chính trị -
xã hội.
Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động
công đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tổ chức
cán bộ của Đảng. Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng vào chương trình hoạt động của mình và thường xuyên
tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc thông báo tình hình và kết quả
hoạt động.

cụ thể hoá bằng sự tiếp cận, đi lại thăm hỏi trong những dịp hiếu, hỉ, lễ, tết, tổ
chức các hoạt động quần chúng, chia sẻ lắng nghe ý kiến của quần chúng đúng
như lời dạy của Lênin: “Phải sống sâu vào đời sống công nhân, biết xác định
một cách chắc chắn, bất cứ vấn đề nào, trong lúc nào tâm trạng của quần
chúng, nhu cầu, nguyện vọng, những ý nghĩ thực sự của họ Biết chiếm được
lòng tin cậy vô bờ bến của quần chúng bằng một thái độ hữu ái đối với họ bằng
cách quan tâm thoả đáng những nhu cầu của họ.” {2, tập 42, tr 300}
14
4.3. Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng
Tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn thể hiện ở chỗ
người đoàn viên tự nguyện gia nhập tổ chức công đoàn, tham gia hoạt động,
thực hiện các nhiệm vụ được giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi
ích công việc của mình.
Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có
nghĩa là không nên gò ép đoàn viên tham gia hoạt động. Vấn đề này trở thành
nguyên tắc hoạt động của công đoàn vì công đoàn là tổ chức do viên chức và
người lao động tự nguyện tham gia và hoạt động vì lợi ích của chính họ. Nếu
phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận vấn đề hết sức cơ bản thuộc về bản chất
của tổ chức công đoàn. Trong hoạt động công đoàn, tính tự nguyện của quần
chúng là động lực thực sự để khơi dậy lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của
đoàn viên. Để phát huy được tính tự nguyện của quần chúng, người cán bộ công
đoàn cần có lòng tin thực sự ở mỗi người lao động. Trước khi làm việc gì dù lớn
hay nhỏ, cũng cần phải có sự giải thích hay giáo dục, thuyết phục làm cho mỗi
đoàn viên hiểu ý nghĩa và trách nhiệm trong mỗi công việc mà họ có nghĩa vụ
hoàn thành.
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng được đề cao.
Bởi lẽ, xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của người lao động ngày
càng được nâng lên. Một khi họ đã nhận thức được vấn đề thì họ sẽ tự nguyện,
tự giác tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức. Muốn vậy, những hoạt
động của công đoàn phải có nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng

kết quả hoạt động với công đoàn cấp dưới. Công đoàn cơ sở định kỳ thông báo
công việc với các công đoàn bộ phận, các tổ công đoàn trực thuộc{16, tr20}.
Như vậy, tập trung dân chủ trong hoạt động công đoàn là sự kết hợp đúng
đắn giữa người cán bộ với đoàn viên công đoàn, giữa chủ trương và hành động.
Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng thời phát huy tính tích cực sáng
tạo của mỗi thành viên trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu của mình
với mục tiêu xây dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh.
16
CHƯƠNG II
17
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT
NAM
1. Những kết quả đạt được
Hoà chung với xu thế hội nhập của đất nước, trong những năm qua Công
đoàn Việt Nam đã có nhiều đổi mới rõ rệt về tổ chức, nội dung, phương hướng
hoạt động. Dưới sự chỉ đạo của TLĐLĐVN, nhiều phong trào thi đua đã mang
lại hiệu quả thiết thực góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục được đẩy mạnh ở tất cả các cấp của tổ
chức công đoàn. Các hoạt động xã hội diễn ra sôi nổi, rộng khắp với nhiều hình
thức phong phú, đa dạng thu hút được sự chú ý của người lao động.
Trong công tác nghiên cứu tham gia góp ý, xây dựng các văn bản luật và
dưới luật. Trong những năm qua, TLĐLĐVN trên cơ sở ý kiến của đoàn viên ở
các cấp công đoàn, đã nghiên cứu và tham gia góp ý xây dựng hàng loạt các dự
án luật có liên quan đến lĩnh vực lao động-xã hội. Gần đây nhất, trong năm
2006, công đoàn đã tham gia nhiều ý kiến trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật lao động, trong quá trình xây dựng và ban hành Luật
bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, Luật bình đẳng giới, Pháp lệnh dân chủ cơ sở Đồng thời,
công đoàn cũng lấy ý kiến sửa đổi Luật công đoàn cho phù hợp với sự phát triển
của đất nước.

động địa phương, 13 công đoàn ngành trung ương và 15.156 công đoàn ở cấp cơ
sở, các nhóm công tác đã kiểm tra được 11.157 cơ sở và đưa ra những kiến nghị
nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động ở những cơ sở này.{6,
tr23}
Trong năm 2006, “chương trình phát triển 1 triệu đoàn viên” theo tinh
thần Nghị quyết Đại hội IX Công đoàn Việt Nam đã được chỉ đạo rộng khắp ở
mọi cấp công đoàn, công đoàn đã phát triển với 465.331 đoàn viên, thành lập
mới 5.366 công đoàn cơ sở, nâng tổng số đoàn viên lên 57.681.333 người và
87.613 công đoàn cơ sở.
19
Công tác đào tạo bồi dưỡng trình độ, năng lực của cán bộ công đoàn các
cấp cũng được chú trọng và nâng lên rõ rệt. Năm 2006, có gần 70 vạn lượt cán
bộ công đoàn cơ sở, được tập huấn, nâng cao trình độ, trên 1 nghìn lượt cán bộ
công đoàn được học tập chính trị, ngoại ngữ, tin học. TLĐLĐVN đã phối hợp
các với tổ chức, liên đoàn lao động quốc tế tập huấn cho 50 giảng viên kiêm
chức và 100 cán bộ công đoàn khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
{6, tr25}
Công tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động được đẩy mạnh ở các
cấp công đoàn với nhiều nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận
thức của người lao động về các vấn đề xã hội như pháp luật về phòng chống ma
tuý, tham nhũng. Đồng thời, tổ chức và hoạt động công đoàn trong các doanh
nghiệp đã cổ phần hoá, hoạt động về môi trường, an toàn vệ sinh lao động, tổng
kết 10 năm phong trào “xanh, sạch, đẹp” và “thi đua lao động sáng tạo” trong
giai cấp công nhân lao động.
Năm 2006, công đoàn đã tranh thủ trao đổi kinh nghiệm với công đoàn
các nước và nhận được sự giúp đỡ về tài chính, kĩ thuật của công đoàn các nước
trong Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), của các tổ chức phi chính phủ (NGO).
Hàng trăm lượt cán bộ tham gia tập huấn về các chủ đề như lao động, công
đoàn, cơ chế ba bên.
Đồng thời, TLĐLĐVN và Liên hiệp quốc tế các công đoàn tự do (ICFTU)

nghề nghiệp cho người lao động theo quy định chung của Nhà nước.
Trong những năm qua, cơ cấu lao động có nhiều biến đổi và có xu hướng
mất cân bằng về cơ cấu trình độ. Tỷ lệ người lao động có trình độ Đại học là
0,9; Cao đẳng là 1 và Trung cấp là 2,8 trong khi đó tỷ lệ hợp lý là Đại học 1;
Cao đẳng 4; Trung cấp 12.{19}
Xu hướng học nghề theo kiểu “thừa thầy, thiếu thợ” đã làm cho thị trường
lao động mất cân đối, tình trạng thiếu thợ tay nghề cao xảy ra ngày một nhiều.
21
Chương trình “hỗ trợ đào tạo nghề” của TLĐLĐVN phối hợp với các bộ ngành
có liên quan đã đào tạo dạy nghề cho 177 nghìn người với số vốn 500 tỷ đồng
đang được triển khai nhưng nhìn chung còn chậm chạp. Số lượng đào tạo còn ít,
lạc hậu chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế xã hội. Năm 2006, cả nước đào
tạo nghề cho 5000 sinh viên hệ cao đẳng, 255000 sinh viên hệ trung cấp cho các
ngành công nghiệp trong khi đó nhu cầu sử dụng lao động hệ có trình độ, tay
nghề ở nước ta lên tới 1,3 triệu người. [20]
Mặt khác, trình độ tay nghề của người lao động vẫn còn nhiều bất cập. Đa
số công nhân nước ta trình độ, tay nghề, kỹ thuật còn thấp. Trong tổng số hơn 7
triệu người đứng máy, nhóm lao động kỹ thuật ở mọi trình độ chỉ chiếm khoảng
12,6%. Nếu tính cả số công nhân kỹ thuật được truyền nghề thực tế (không bằng
cấp) thì lao động kỹ thuật nước ta chỉ đạt tỷ lệ xấp xỉ 25% (khoảng 2 triệu
nhiều) số còn lại lên tới 12% chưa có tay nghề. [21]
Chính việc đào tạo lệch lạc như trên đã khiến cho vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động trở thành “một gánh nặng” cho sự phát triển kỹ thuật
của đất nước. Theo số liệu của Bộ lao động thương binh xã hội, hiện nay có
khoảng 6,08% lao động không được bố trí việc làm, khoảng 100.000 lao động
còn trong danh sách của doanh nghiệp nhưng đang nghỉ chờ việc hoặc tự tìm
việc làm mới (chủ yếu là lao động trên các công trình xây dựng). Khả năng thu
hút và tạo việc làm của Việt Nam hiện nay chỉ đạt khoảng 6,3 triệu người trong
đó số người cần việc làm lên tới 18 triệu người. Số lao động dôi dư ngày càng
tăng năm 2000 là 100.000 người, năm 2003 là 150.000 người trong các doanh

Theo điều 44 Bộ luật lao động: “Thoả ước lao động tập thể là văn bản
thoả thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về các điều
kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong
quan hệ lao động”{9, tr55}. Trong ký kết thoả ước lao động tập thể công đoàn
có vai trò quan trọng đại diện cho tập thể người lao động ký kết thoả ước lao
động tập thể với giám đốc xí nghiệp thuộc các thành phần kỹ thuật, giám sát
việc thực hiện thoả ước đó. Việc ký kết thoả ước lao động tập thể chỉ được tiến
hành khi có 50% số người của tập thể lao động trong doanh nghiệp tán thành nội
dung thoả ước đã thương lượng.
23
Trong những năm qua, công đoàn đã tham gia tích cực với vai trò đại diện
cho tập thể người lao động ký kết thoả ước lao động. Nhưng trong thực tế, tỷ lệ
thoả ước tập thể được ký kết còn thấp. Năm 2003, số lượng doanh nghiệp nhà
nước ký thoả ước lao động đạt 84%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt
26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh khoảng 10%{4, tr25}. Năm 2004, tỷ lệ
trung bình của thoả ước lao động tập thể vào khoảng 64% giữa các doanh
nghiệp{5, tr22}. Năm 2006, việc ký kết thoả ước lao động tập thể đã tăng song
không đáng kể: doanh nghiệp Nhà nước là 96%, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài là 46%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 26%. [6, tr18]
Vai trò của công đoàn cơ sở trong quá trình thương lượng, ký kết thoả
ước lao động được thể hiện ở trong tất cả các giai đoạn bao gồm:
Chuẩn bị nội dung và dự thảo thoả ước tập thể; thu thập thông tin, tham
khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức và các chuyên gia; cử đại diện có năng lực,
trình độ, uy tín và có kỹ năng tham gia thương lượng thoả ước tập thể; chuẩn bị
nội dung, hình thức và phương pháp lấy ý kiến tập thể lao động một cách hiệu
quả, thiết thực, phù hợp; cử đại diện ký kết thoả ước tập thể; thường xuyên theo
dõi, giám sát việc thực hiện thoả ước tập thể; kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung
thoả ước tập thể.
Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình đàm phán, ký kết thoả ước tập thể,
kỹ năng của cán bộ công đoàn còn hạn chế. Cán bộ công đoàn cơ sở chưa hiểu

động còn có thể được hưởng các chế độ phụ cấp như:
Phụ cấp thâm niên vượt khung; phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp kiêm
nhiệm chức vụ lãnh đạo; phụ cấp khu vực; phụ cấp đặc biệt; phụ cấp thu hút;
phụ cấp lưu động; phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc.
Trên thực tế, việc chi trả tiền lương cho người lao động còn nhiều bất cập.
Thu nhập từ tiền lương hàng tháng của cán bộ, công nhân, viên chức trong cơ
quan Nhà nước ổn định tăng thêm 28,6% do Nhà nước điều chỉnh mức lương tối
thiểu, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được đời sống của họ trong khi mức lạm phát
tăng cao. Tiền lương ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhìn chung thấp, từ
700.000đ đến 1.200.000đ/người/tháng. Có nhiều nơi chỉ đạt 300.000đ/người/tháng.
Vấn đề đáng quan tâm hiện nay là hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
25

Trích đoạn Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trong hoạt động công đoàn Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Đổi mới phương thức hoạt động của công đoàn Công tác cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status