Xây dựng mô hình làng du lịch Văn hóa - Pdf 14

XÂY DỰNG MÔ HÌNH LÀNG DU LỊCH VĂN HOÁ
Hiện nay, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều tỉnh đã
coi trọng vấn đề xây dựng làng du lịch văn hoá. Vậy làng du lịch văn hoá là
gì? Mô hình làng du lịch văn hoá ra sao? Các giải pháp xây dựng mô hình
này như thế nào? Qua kinh nghiệm nghiên cứu chỉ đạo điểm ở Sa Pa, chúng
tôi giải quyết vấn đề đặt ra dưới góc độ thực tiễn và bước đầu khái quát một
số lý luận liên quan.
Sa Pa là một vùng du lịch hấp dẫn của quốc gia, cách thị xã Lào Cai
37 km, có hơn 39.000 dân với 6 tộc người anh em chung sống, như: người
Hmông gần 20.000 người, người Dao có gần 10.000 người, người Kinh có
5343 người, người Tày có gần 2000 người, người Giáy 621 người, người Xá
Phó có 472 người. Sa Pa giàu tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch văn hoá.
Hàng năm, SaPa đón nhận từ 70 đến 100.000 lượt khách. Riêng lễ hội 100
năm du lịch SaPa vừa qua, SaPa đã đón hơn 5 vạn lượt du khách.
Du khách đến với Sa Pa có nhiều nhu cầu, nhưng nhu cầu về du lịch
văn hoá ngày càng nổi bật. Điều này phản ánh xu thế chung về nhu cầu du
lịch trên thế giới hiện nay. Theo số liệu điều tra của Tổ chức du lịch thế giới,
ngày nay có trên 80% số khách đi du lịch nhằm mục đích hưởng thụ các giá
trị văn hoá độc đáo và khác biệt với nền văn hoá của dân tộc họ. Họ muốn
được xem và hưởng thụ những giá trị văn hoá giàu bản sắc, đích thực, sống
động trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Người dân tự tổ chức các
sinh hoạt văn hoá đích thực vì cuộc sống của người dân chứ không phải
"đóng giả" vì du khách. Do đó các hoạt động văn hoá sống động như phiên
chợ, cảnh làm ruộng bậc thang, lễ cưới, sinh hoạt ở từng gia đình, sản xuất
đồ rèn, thêu dệt thổ cẩm… luôn thu hút du khách. Nhưng rất tiếc là các
nguồn lực văn hoá này vẫn mang tính chất tự phát, chưa tạo thành dịch vụ.
Do đó chưa tăng được nguồn thu từ du khách. Nguồn thu chủ yếu của du
khách vẫn là dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống. Mức chi tiêu trung bình của
khách du lịch quốc tế tại Sa Pa năm 2001 là 200.000
đ
/ 1 ngày. Cơ cấu chi

3 Thái Lan 23,4 15,1 13,3 9,4 38,8
4 Trung Quốc 22,5 9,5 11,3 31,3 25,5
5 Inđônêxia 30,8 17,4 4,6 9,6 23,6
6 Mai Châu (Hoà Bình) 22 23 16 5,0 10,4 23,6
7 SaPa (Lào Cai) 30 25 18 6,0 7,2 15,8
Vì vậy, từ nghiên cứu nhu cầu cũng như cơ cấu chi tiêu của du khách,
muốn tăng khả năng doanh thu du lịch ở Sa Pa phải giảm giá phòng, đồng
thời tăng nhiều loại hình vui chơi giải trí ở bản làng để kéo dài thời gian lưu
trú của du khách. Một vấn đề quan trọng hơn, cần tăng cường đầu tư sản
xuất các mặt hàng lưu niệm, hàng đặc sản mang thương hiệu SaPa, và vấn đề
cấp bách là xây dựng mô hình làng du lịch văn hoá.
1. Mô hình và làng du lịch văn hoá
- Mô hình là những yếu tố căn bản cấu thành sự vật. Nhờ các yếu tố
này có thể dựng lại sự vật theo một nguyên tắc chung nhất, khiến sự vật
không bị biến đổi mặc dù nó vẫn bao chứa được những khác biệt đa dạng của
điều kiện cụ thể.
2
- Lng du lch vn hoỏ l mt im du lch cú ti nguyờn du lch vn
hoỏ v cú t chc khai thỏc cỏc ti nguyờn du lch vn hoỏ phc v du
khỏch.
Vỡ vy khi xõy dng lng Cỏt Cỏt, Bn Dn, Na Rin (Sa Pa - Lo Cai)
thnh mụ hỡnh lng du lch vn hoỏ phi tin hnh kho sỏt cỏc ti nguyờn
ngun lc du lch vn hoỏ (cnh quan p, cỏc di sn vn hoỏ vt th v phi
vt th cú giỏ tr c ỏo, hp dn), t chc cỏc hot ng phc v du lch
nhm ỏp ng nhu cu xem, ngh ngi, n ung sinh hot ca du khỏch
2. Cỏc yu t ca mụ hỡnh:
Bn Dn, Cỏt Cỏt, Na Rin, ti tp trung a ra cỏc yu t cn bn
cu thnh mụ hỡnh lng du lch vn hoỏ. Cỏc yu t ca mụ hỡnh cú ni dung
c th nh sau:
2.1. Yu t th nht l lng du lch vn hoỏ phi cú cỏc cnh quan mụi

càng thu hút du khách.
2.3. Yếu tố thứ ba là khai thác các nguồn lực tài nguyên du lịch văn
hoá nhằm phục vụ các hoạt động du lịch:
+ Khai thác các tài nguyên, nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu xem,
giải trí của du khách như tổ chức tham quan cảnh đẹp thiên nhiên, tổ chức lễ
hội, sinh hoạt văn hoá, giới thiệu trình diễn văn nghệ dân gian…
+ Khai thác các nguồn lực, tài nguyên du lịch văn hoá đáp ứng nhu
cầu nghỉ ngơi, ăn uống. Xây dựng các nhà nghỉ, phòng nghỉ mang phong
cách dân tộc, tổ chức các cửa hàng ăn uống, nấu ăn, phòng ăn…
+ Tổ chức các dịch vụ phục vụ du lịch khác như dẫn đường leo núi,
xây dựng quầy bán hàng lưu niệm gắn với nghề thủ công truyền thống…
2.4. Yếu tố thứ tư là đảm bảo đi lại cho du khách thuận lợi (có lối đi
sạch sẽ thuận tiện, có đường leo núi phù hợp với môi trường tự nhiên). Đặc
biệt, làng du lịch văn hoá phải nằm trong tuyến du lịch, có thị trường du lịch.
Yếu tố này rất quan trọng, vì một làng dù giàu tài nguyên du lịch văn hoá
đến mấy nhưng không nằm liền kề thị trường du lịch cũng rất khó thu hút du
khách. Du khách không thể đi hàng trăm cây số đường vùng cao khó khăn
chỉ để đến thăm một làng.
Như vậy, trong thực tế làng du lịch văn hoá được quyết định bởi ba
nhóm nhân tố khác nhau:
- Nhóm nhân tố thứ nhất là các nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của
làng du lịch văn hoá. Nhóm này bao gồm các vị trí địa lý (gần trung tâm du
lịch, nằm trên tuyến du lịch), tài nguyên du lịch văn hoá (sự độc đáo và
phong phú của nguồn tài nguyên).
- Nhóm nhân tố thứ hai là những nhân tố liên quan đến việc bảo đảm
du khách lưu lại ở làng du lịch văn hoá. Đó là các cơ sở phục vụ việc nghỉ
ngơi (cơ sở lưu trú như phòng ngủ, nhà nghỉ…), các cơ sở phục vụ ăn uống,
phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí (xem văn nghệ, lễ hội…), mua sắm hàng thủ
công lưu niệm…
- Nhóm nhân tố thứ ba gồm những nhân tố đảm bảo giao thông cho

tham quan như suối, thác nước ở Cát Cát được xây dựng cầu nhỏ, xây dựng
bậc lên xuống…
- Khu rừng vầu Háng Sung, khu rừng già trồng thảo quả Chô Lú, khu
vực ba con suối gặp nhau cũng được tôn tạo bước đầu tạo thành cảnh quan
đẹp cho làng Cát Cát. Bờ suối, thác nước, các tảng đá giữa lòng suối… cũng
được bảo vệ và trở thành một tham quan, chụp ảnh hấp dẫn du khách khi đến
thăm làng Cát Cát.
- Làng Na Rin được Nhà nước hỗ trợ mở đường giao thông, tôn tạo
cảnh quan cho di tích “động tiên” Mường Vi. Hệ thống đường điện, nguồn
nước sạch cũng được đầu tư xây dựng.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status