Bài thảo luận: Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô của tài chính công tại Việt Nam trong thời gian qua - Pdf 14

Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
Lời mở đầu
Những biến động về kinh tế của khu vực trong những năm gần đây đã tác động
mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt Nam. Có thể kể như: Cuộc khủng hoảng tài chính
diễn ra ở Mỹ năm 2008, hay cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra ở Châu Âu với
điểm bùng nổ đầu tiên là Hy Lạp vào đầu năm 2010……Hay trên chính trên đất
nước ta đã diễn ra nhiều tình hình như: Việt Nam chính thức gia nhập WTO năm
2007, thâm hụt ngân sách nhà nước vẫn còn kéo dài đến tận nay…Những vấn
Nhóm 2 Page 1
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
đề đó đòi hỏi chính phủ Nhà nước Việt Nam phải có sựu điều tiết vĩ mô đúng đắn
và nhất là trong khu vực tài chính công thông qua việc sử dụng các công cụ như:
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ……
Vậy vai trò điều tiết vĩ mô của tài chính công là gì? thực trạng và một số giải
pháp được đưa ra nhằm khắc phục vai trò điều tiết vĩ mô của tài chính công? Bài
thảo luận này với đề tài là : “ Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô cảu tài chính
công tại Việt Nam trong thời gian qua” sẽ trả lời các câu hỏi đó.
Bài thảo luận gồm 3 phần lớn:
I. Tổng quan lý thuyết về tài chính công
II. Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô của tài chính công Việt Nam trong
những năm gần đây
III. Một số giải pháp
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu chúng em có tìm hiểu tài liệu trên sách
và mạng , cùng với vốn hiểu biết còn thiếu xót nên không khỏi dẫn đễn những
khiếm khuyết trong bài thảo luận. Rất mong cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến
để bài thảo luận được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn
I . lý luận chung.
1. Tài chính công là gì?

các nhu cầu thực hiện chức năng ,nhiệm vụ của nhà nước trong việc cung cấp
hàng hóa dịch vụ công cho xã hội.
-Xét về thực chất:tài chính công phản ánh các quan hệ kinh tế trong phân
phối nguồn tài chính quốc gia phát sinh giữa các cơ quan công quyền của nhà
Nhóm 2 Page 3
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
nước với các chủ thể khác trong nền kinh tế ,nhằm thực hiện chức năng ,nhiệm
vụ của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội không vì
mục tiêu lợi nhuận .
c. Hai yếu tố tiền đề quyết định sự ra đời của Tài chính công:
-Nhà nước: ra đời mang tính chất khách quan nhưng tồn tai lại mang tính
chất chủ quan Nhà nước có 2 chức năng chính là trấn áp bạo lực và tổ chức quản
lý. Nhà nước thể hiện chức năng trấn áp của mình để phục vụ lợi ích cho nhà
nước , cụ thể ở Việt Nam : thông qua 2 cơ quan là Bộ Công An và Bộ Quốc phòng .
Nhà nước tổ chức quản lý trong 2 lĩnh vực chính là kinh tế và xã hội.
Nền kinh tế hàng hóa tiền tệ :kể từ khi xã hội xuất hiện chiếm hữu về tư liệu
sản xuất và sản phẩm làm ra đã làm cho nền kinh tế hàng hóa ra đời và tiền tệ
bắt đầu xuất hiện.
2. Đ ặ c đi ể m tài chính công .
So với tài chính tư ,tài chính công thể hiện ở những đặc điểm khác biệt:
 Gắn liền với sở hữu nhà nước, quyền lực chính trị của nhà nước:
Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định đến quá trình tạo lập và sử dụng
quỹ công đặc biệt là quỹ ngân sách nhà nước. Các quyết định của nhà nước được
thể chế bằng luật do cơ quan quyền lực cao nhất phê chuẩn. Việc tạo lập và sử
dụng quỹ công phụ thuộc vào quan điểm của nhà nước và các mục tiêu kinh tế-
xã hội quốc gia đặt ra trong từng thời kì.
 Chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng:
Tài chính công phản ánh quan h ệ kinh t ế giữ:a nhà nước với các chủ thể
khác nhau trong nền kinh tế trong việc phân phối nguồn tài chính quốc gia nên

và nhiệm vụ của nhà nước .Các hoạt động thu ngân sách nhà nước như thuế ,phí
,lệ phí…Hoạt động chi NSNN chủ yếu là chi thường xuyên và chi đầu tư phát
triển .
Các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay bao
gồm :quỹ dự trữ quốc gia,quỹ bảo hiểm xã hội,quỹ phủ xanh đất trống
- Tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước :
Ở Việt Nam hiện nay ,các cơ quan hành chính bao gồm :cơ quan lập pháp ,cơ
quan hành pháp ,cơ quan tư pháp … Nhiệm vụ các cơ quan này là cung cấp các
dịch vụ hành chính công cho xã hội
- Tài chính từ các đơn vị sự nghiệp của nhà nước :
Cung cấp các dịch vụ công cộng cho xã hội trên các lĩnh vực kinh tế ,giáo
dục , y tế,văn hóa ,xã hội .hoạt đông không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà chỉ
mang tính phục vụ .Vì vậy ,nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động cho các đơn vị
này là do NSNN cấp .
Nhóm 2 Page 5
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
 Phân theo nội dung hoạt động và cơ chế quản lý .
- Ngân sách nhà nước :là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước.NSNN là kế
hoạch tài chính vi mô của nhà nước giúp nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt
động kinh tế ổn định .
Như vậy ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế ,chính trị của
nhà nước và được thực hiện trên cơ sỡ luật pháp ấn định .
- Tín dụng nhà nước : là hình thức nhà nước vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu cân
đối NSNN và chi đầu tư phát triển
- Các quỹ ngoài NSNN:hầu hết ở các nước ,quỹ ngân sách được chia làm ba nhóm:
quỹ dự trữ ,dự phòng, quỹ hỗ trợ, quỹ phục vụ các chương trình mục tiêu quốc
gia .
4.vai trò tài chính công .
4.1.Đảm bảo duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước .

chính công thông qua công cụ thuế và chi tài chính công .
Tuy nhiên ,trong quá trình điều chỉnh thu nhập ,TCC phải đảm bảo cho các
nhà đàu tư có khả năng tích tụ vốn cho đầu tư ,khuyến khích sản xuất kinh
doanh
Cùng với vai trò điều chỉnh thu nhập tài chính công còn góp phần giải quyết
các vấn đề xã hội thông qua việc tài trợ phát triển các dịch vụ công cộng
II.Thực trạng điều tiết vĩ mô của tài chính công.
1.Về kinh tế:
Sự suy giảm về thu ngân sách là một trong số các nguyên nhân dẫn tới
những quan ngại về quy mô và chi phí của dịch vụ hành chính công. Trong năm
2001, số lượng cán bộ làm việc trong khu vực dịch vụ hành chính công vào
khoảng 1,3 triệu người, trong đó khoảng 200.000 người làm việc cho Chính phủ
trung ương, và 1,1 triệu người làm việc tại cấp tỉnh và huyện. Con số này không
Nhóm 2 Page 7
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
tính đến số cán bộ là công an, những người phục vụ trong quân đội, cán bộ cấp
xã, những người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, và những thành
viên của Mặt trận Tổ quốc, hội cựu chiến binh, và những đối tượng khác nhận
trợ cấp của Chính phủ. Chi phí về tiền công và tiền lương cho khu vực dịch vụ
hành chính công, bao gồm tất cả những khỏan chi trả bằng tiền mặt, không tính
đến các khoản chi trả bằng hiện vật, và lương hưu trí, ước tính vào khoảng 3,8%
GDP, góp phần đưa mức thâm hụt ngân sách tổng thể lên tới 5% GDP (ADB,
2001; IMF, 2003, 2007).
Chương trình Tổng thể CCHC về đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các
cơ quan đơn vị hành chính và sự nghiệp đã có ba thành tố cần được hoàn thành
vào năm 2005. Bộ Tài chính được giao làm cơ quan chủ trì:
Thiết lập các tiêu chí mới trong xây dựng và phân bổ ngân sách cho các cơ
quan hành chính dựa trên đầu ra, chất lượng của các hoạt động, và mức độ hoạt
động.

từ dầu lửa) và doanh nghiệp tư nhân tăng lần lượt từ 16% và 19% lên tới 28%
và 27% Mặc dù tỷ trọng thu từ thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp trong
tổng số thu từ thuế ngày càng tăng, cũng cần lưu ý rằng các thủ tục thu những
loại thuế này hiện vẫn còn rườm rà. Một công ty quy mô trung bình tại Việt Nam
phải mất đến 650 giờ đồng hồ mỗi năm để trả thuế VAT và thuế thu nhập doanh
nghiệp – xếp hàng thứ 128 trên 178 nước.
Mặc dù một cách tương đối đa số người đóng thuế tại thành phố Hồ Chí
Minh có cảm nhận là các thủ tục khai thuế là phù hợp thì có tới 45% số người lại
tin rằng các thủ tục hiện còn ―phức tạp (nghĩa là còn bất hợp lý).
Có những yếu kém đáng kể và có tính hệ thống trong quản lý thuế. Mặc dù
có một chiến lược cải cách thuế, nhưng vẫn thiếu một tầm nhìn dài hạn với mục
tiêu chiến lược rõ ràng đối với Hải Quan Việt Nam. Hải quan vẫn còn là ―thiếu
nhạy bén, thiếu nhất quán và dễ bị tham nhũng.
Quản lý thuế vì vậy được đánh giá là mức độ tuân thủ thấp và dễ bị tham
nhũng.
Điều này có thể được giải thích bằng một thực tế là môi trường kinh doanh
đã trở nên thuận lợi và bình đẳng hơn trước kia với mức độ bảo hộ doanh
nghiệp Nhà nước thấp hơn và một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn đối
Nhóm 2 Page 9
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
với các khu vực kinh doanh ngoài Nhà nước. Một cải cách có tính chất cốt lõi
đóng góp vào kết quả này là Luật Doanh nghiệp 2000, sau đó đã được sửa đổi bổ
sung để trở thành Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất năm
2005.
Là một nước đáng phát triển, Việt Nam nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ
cộng đồng quốc tế.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đóng một vai trò quan trọng trong sự
phát triển của Việt Nam, đặc biệt về xóa đói giảm nghèo. Các cam kết ODA và
các đợt giải ngân đã tăng lên mạnh mẽ và đóng góp một tỷ trọng quan trọng

mức thuế suất khác nhau, đặc biệt là thuế suất lũy tiến thu nhập.
-Các loại thuế gồm:
• Thuế thu nhập cá nhân
• Thuế GTGT
• Thuế tiêu thụ đặc biệt
• Thuế xuất nhập khẩu
• Thuế thu nhập doanh nghiệp
Chính sách thuế đã bắt đầu phát huy được tác dụng quản lý, điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất đã tạo ra môi trường bình đẳng
về pháp luật cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phầ
n thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Chính sách thuế từng bước tạo ra sự công bằn
g về nghĩavụ nộp thuế giữa các đối tượng khác nhau, góp phần thúc đẩy đầu tư
vốn, cải tiến công nghệ, tăng năng suất Lao động, giảm giá thành …
-Thứ nhất, Thuế thu nhập cá nhân:
Luật Thuế TNCN vừa được ban hành đã đảm bảo được nguyên tắc công bằ
ng và khả năng nộp thuế, thể hiện ở chỗ: Người có thu nhập cao hơn thì nộp thu
ế
nhieu hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khó khăn hơn thì n
ộp thuế ít hơn, mỗi cá nhân dù có thu nhập từ các nguồn khác nhau đều
được điều chỉnh thống nhất trong một chính sách thuế ; người có thu nhập thấp
chưa phải nộp thuế.
Ngoài ra, đối tượng nộp thuế có bổ sung thêm cá nhân có thu nhập chịu
thuế từ đầutư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ
thừa kế,quà tặng. Thu nhập chịu thuế được mở rộng đối với các khoản như: thu
nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất
động sản trong đó có chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng
đất ở; chuyển nhượng quyền thuê đất, thuế mặt nước; một số khoản thu nhập
Nhóm 2 Page 11
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công

với thực tiễn. Mặt khác, tiêu chí phân định ranh giới áp dụng mức thuế suất 5%
và 10% chưa rõ ràng: vừa theo tên hàng hoá, dịch vụ, vừa theo công dụng hàng
hoá, dịch vụ , vừa theo tính chất của hàng hoá, dịch vụ, dẫn đến việc áp dụng
mức thuế suất không thống nhất, nảy sinh vướng mắc trong quá trình
thực hiện.
Nhóm 2 Page 12
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
-Thứ ba,Thuế tiêu thụ đặc biệt :
Là công cụ góp phần quan trọng trong việc tái phân phối thu nhập của
người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Do loại thuế này có mức động
viên cao, được xác định trên cơ sở đơn vị đo lường khác và thường được thu với
mức thuế suất cao hơn so với thuế tiêu dùng thông thường. Đặc điểm này thể
hiện quan điểm điều tiết nhà nước thông qua thuế TTĐB. Xét khía cạnh phân
phối thu nhập, đối tượng tiêu dùng phần lớn là người có thu nhập cao,vì vậy
mức động viên cao nhằm điều tiết thu nhập của người có thu nhâp cao.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế :
Đối tượng không thuộc diện chịu thuế TTĐB quá rộng. Điều đáng lưu ý là qua
thực tế thi hành Luật Thuế TTĐB đã phát sinh việc lợi dụng các quy định này để
trốn thuế. Ví dụ: máy bay, du thuyền…
Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt còn thấp, chưa đủ tác dụng điều tiết, hạn
chế tiêu dùng đối với hầu hết các mặt hàng, dịch vụ thuộc diện xa xỉ, như: rượu,
bia, ô tô, mô tô phân khối lớn, máy bay, du thuyền, kinh doanh vũ trường, massa
ge, karaoke, casino, sân golf
-Thứ tư, Thuế sử dụng đất nông nghiệp (thuế SDĐNN):
Ngoài ra, việc miễn giảm thuế cho họ còn mang một ý nghĩa xã hội rất
lớn, góp phần đẩy nhanh tốc độ xóa đói giảm nghèo, nâng cao phần nào đời sốn
g nông thônhạn chế tốc độ phân cấp giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn
hiện nay.
Mặt khác, số thuế từ SDĐNN chiếm tỷ trọng không lớn so với tổng thu ngân

và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất sản xuất nông nghiệp tại các xã đặc biệt k
hókhăn thuộc chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
miền núi, vùng xa.
Nhưng thực tế cho thấy, lợi dụng quan điểm vì người nghèo này của Nhà
nước, màmột số nơi đã trục lợi. Thực tế người dân nghèo không được miễn
giảm gì cả, mà số tiền thuế miễn giảm cũng chẳng được đưa vào ngân sách mà
lại chảy vào túi một số kẻ chức trách. Đây là thực tế đau lòng mà Đảng
Nhà nước ta đang ra sức loại bỏ.
Chúng ta vẫn phải duy trì một bộ máy thu thuế cồng kềnh , quan liêu,
trong khi tiền thu được chỉ chiếm 0.04% ngân sách năm 2006.
b.Chi tài chính công.(chính sách trợ cấp,trợ giá).
Ban hành chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó
khăn:
-Đối tượng hỗ trợ là người dân thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Nhà nước
thuộc vùng khó khăn quy định tại Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05
tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục các đơn vị
hành chính thuộc vùng khó khăn.
Điều 1 trong Nghị định: Mục tiêu của chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân
thuộc hộ nghèo vùng khó khăn:
- Hỗ trợ đời sống của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh
tế - xã hội ở vùng khó khăn;
Nhóm 2 Page 14
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
-Hỗ trợ người dân nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và từng bước tiếp
cận với sản xuất hàng hóa, thông qua hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi có chất
lượng cao.
- Nguyên tắc hỗ trợ: đúng đối tượng, kịp thời; công khai, dân chủ, khách quan và
có hiệu quả thiết thực.
Điều 2 . Phương thức, hình thức hỗ trợ

nguyên tắc xóa bỏ dần bù chéo từ điện sản xuất sang điện sinh hoạt. Cụ thể, giá
bán điện bình quân cho các ngành sản xuất tăng 6,3%. Giá bán lẻ điện bình quân
cho sinh hoạt bậc thang tăng 6,8%. Giá bán lẻ điện bình quân cho cơ quan hành
chính sự nghiệp và kinh doanh có tỷ lệ tăng tương ứng là 6,3% và 6,1%.
Biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang tiếp tục thực hiện nguyên tắc đã
được Thủ tướng Chính phủ quy định. Chính phủ cũng sẽ tiếp tục thực hiện chính
sách hỗ trợ giá điện cho các hộ nghèo, hộ có thu nhập thấp và đa số cán bộ công
nhân viên chức có mức sử dụng điện thấp, mức giá cho bậc thang đầu tiên từ 0
đến 50 kwh được giữ nguyên bằng 600 đồng/kwh. Mức bù giá cho bậc thang
này bằng 43%, cao hơn mức bù giá 37% của năm 2009. Mức giá của bậc thang
thứ hai, từ 51 kwh đến 100 kwh được giữ ở mức tương đương giá thành bình
quân, không có lợi nhuận. Mức giá của các bậc thang tiếp theo được điều chỉnh
với tỷ lệ cao hơn, tương ứng để đảm bảo bù chéo đủ cho các bậc thang thấp và
đảm báo giá bán lẻ điện bình quân sinh hoạt bậc thang tăng ở mức 6,8%./.hiện
nay, Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giá điện đối với hộ
nghèo, hộ thu nhập thấp thường xuyên có mức sử dụng điện không quá 50
kWh/tháng (993đ/kWh chưa có VAT) với mức hỗ trợ 30.000 đồng/hộ/tháng,
EVN đã chỉ đạo các đơn vị Điện lực niêm yết công khai thông tin liên quan tại tất
cả các điểm giao dịch với khách hàng, công bố trên trang Web, báo, đài truyền
hình, đài phát thanh địa phương về thủ tục, địa điểm, thời hạn, điện thoại liên
hệ để tiếp nhận đăng ký mua điện. Đồng thời ban hành mẫu Giấy đăng ký và yêu
cầu các đơn vị bố trí nhân lực đảm bảo tiếp nhận hết Giấy đăng ký hộ nghèo, hộ
thu nhập thấp theo thời hạn quy định của Bộ Công Thương. Nếu trong 3 tháng
liên tục, các hộ sử dụng điện vượt quá trên 155kWh, bên bán điện sẽ tự động
chuyển hộ đó sang áp dụng giá điện cho hộ bình thường kể từ tháng tiếp theo
với giá từ 1.242 đồng/kWh trở lên.
Đối với ngư dân: Sẽ hỗ trợ ngư dân về dầu theo phương thức hỗ trợ trực
tiếp (cấp tiền) một phần chi phí tăng thêm về giá dầu cho chuyến đi biển của
ngư dân để bù đắp một phần chi phí khai thác hải sản.
Ngoài ra, mức hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm cho tàu cá và thuyền viên gồm 1/3

dựng nhà ở khu vực nông thôn; Quyết định số 2213/QĐ-TTg ngày 31/12/2009
sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 497/QĐ-TTg nhằm hỗ trợ đúng đối
tượng, đặc biệt là các hộ gia đình và cá nhân ở khu vực nông thôn, thực hiện
được mục tiêu ngăn chặn suy giảm và thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Ngày 4/6/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2010/NĐ-CP, trong đó
quy định miễn giảm 70% tiền sử dụng đất cho các nhà đầu tư có dự án nông
nghiệp ưu đãi đầu tư; miễn, giảm, hỗ trợ tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà
nước; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực từ 50 - 100% đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ, siêu nhỏ có dự án nông nghiệp đặc biệt ưu đãi đầu tư…
Ngày 26/2/2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 36/2009/TT-BTC hướng dẫn
chi tiết việc thi hành một số điều của Nghị định 143/NĐ-CP và Nghị định
115/2008/NĐ-CP về miễn thủy lợi phí cho các hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt
nước dùng vào sản xuất nông nghiệp.
Nhóm 2 Page 17
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
Ngày 16/5/2011, Bộ Tài chính hướng dẫn hỗ trợ lãi suất vay vốn và cấp bù
chênh lệch lãi suất do thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu
hoạch đối với nông sản, thủy sản tại Thông tư 65/2011/TT-BTC. Chính sách hỗ
trợ lãi suất mua máy móc giảm tổn thất sau thu hoạch là một chính sách đúng
đắn và hợp lòng dân, rất cần thiết đối với nền nông nghiệp nước ta.
c. Giải quyết các vấn đề xã hội.
-Thứ nhất vấn đề việc làm
Trong chính sách thị trường lao động, hướng cơ bản nhất là phát triển sản
xuất, tạo thêm nhiều chỗ việc làm mới. Trong những năm qua, với sự ra đời của
Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Cạnh
tranh, Luật Hợp tác xã… đã góp phần tạo cơ sở pháp lý và môi trường thuận lợi
cho các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh tế
trang trại, kinh tế hộ gia đình và hợp tác xã phát triển mạnh. Bên cạnh đó, nhằm
nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, Việt Nam đã tiến hành sắp

dạy nghề cho lao động nông thôn, đồng thời triển khai xây dựng chương trình
tài liệu học nghề năm 2010 đối với 25 loại nghề phổ biến ở 3 miền đất nước.
Tuy nhiên, việc đào tạo việc làm còn yếu kém:Tình trạng thiếu việc làm ở nông
thôn, ở vùng đô thị hóa và thất nghiệp ở thành thị còn nhiều. Nguồn lực cho an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước,
với diện bao phủ và mức hỗ trợ còn thấp. Các hình thức bảo hiểm chưa đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của người dân; chất lượng các dịch vụ nhìn chung còn
thấp, vẫn còn không ít tiêu cực, phiền hà.
-Thứ hai, về vấn đề Giáo dục:
Tỷ lệ biết đọc biết viết theo giới tính và thành thị/nông thôn, 1989-2009
Đơn vị: %
1989 1999 2009
Chung 87,3 90,3 93,5
Nam 92,7 94,0 95,8
Nữ 82,7 86,9 91,4
Thành thị 93,8 94,8 97,0
Nông thôn 85,4 88,7 92,0
Tháng 9.2008, Chính phủ và Bộ GD&ĐT xây dựng đề án Phát triển giáo dục
cho các DTTS nhằm đưa ra những chính sách đặc biệt để phát triển giáo dục đào
tạo đối với các dân tộc này. Đề án đã được Bộ GD&ĐT soạn thảo và đang tổ chức
lấy ý kiến đóng góp. Bản đề án này cũng được công bố ngay trong hội thảo để
lấy thêm ý kiến của các đại biểu. Mục tiêu đề ra của đề án là tất cả trẻ em, học
sinh, sinh viên các DTTS được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt, được
giáo dục, rèn luyện tốt để có trình độ văn hóa, trình độ nghề, góp phần phát triển
Nhóm 2 Page 19
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
bền vững mục tiêu bảo tồn và phát triển cho cộng đồng. Mục tiêu cụ thể của Đề
án là 100% trẻ em các DTTS trong độ tuổi 3 - 5 tuổi được hỗ trợ tiền ăn, quần
áo, được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các trường mầm non, 100% học sinh cấp tiểu

của mình, mỗi cấp sẽ tích cực và chủ động hơn trong việc bồi dưỡng và khai thác
nguồn thu. Khoản thu độc lập, có tính ổn định cao sẽ giúp chính quyền địa
phương chủ động bố trí các khoản chi tiêu cố định của mình, không bị lệ thuộc
quá nhiều vào cấp trên.
Việc phân bổ tỷ lệ điều tiết theo từng sắc thuế giữa trung ương và địa
phương làm cho việc tính toán trở nên khá phức tạp và không khuyến khích địa
phương thu các sắc thuế do trung ương được hưởng hoặc có tỷ lệ phân bổ cho
địa phương thấp. Vì vậy, có thể sử dụng một tỷ lệ điều tiết chung giữa trung
ương và địa phương tính trên tổng số thu từ tất cả các loại thuế. Tỷ lệ này có thể
được điều chỉnh theo từng vùng để tạo ra sự phân bổ ngân sách hợp lý giữa các
Nhóm 2 Page 21
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
vùng phù hợp với định hướng phát triển của vùng đó. Tỷ lệ điều tiết ngân sách
được quyết định 3 năm một lần để tạo sự chủ động cho địa phương trong bố trí
các khoản chi.
-Thứ hai, tăng cường quản lý chu trình ngân sách. Quản lý tốt hơn chu
trình ngân sách giúp cho các cơ quan, đơn vị khớp nối giữa kế hoạch hoạt động
với kế hoạch tài chính, từ đó có đầy đủ và kịp thời các nguồn lực tài chính để chủ
động thực thi các nhiệm vụ. Cần đổi mới các hoạt động từ lập dự toán ngân sách
cho đến chấp hành và quyết toán ngân sách có tính khoa học và phù hợp hơn với
thực tế. Cụ thể là cần tiếp tục đổi mới các căn cứ và quy trình lập dự toán ngân
sách, hoàn thiện thủ tục và cơ chế chấp hành ngân sách, cũng như đổi mới
phương thức quyết toán ngân sách. Đặc biệt, cần chuyển các định mức phân bổ
ngân sách cho các lĩnh vực dựa trên đầu vào sang căn cứ vào kết quả đầu ra.
-Thứ ba, hoàn thiện các chế độ, định mức chi tiêu. Các định mức chi tiêu
hợp lý giúp các cơ quan, đơn vị tính toán chính xác hơn các nguồn lực tài chính
cần thiết cũng như có căn cứ khoa học để chi tiêu kinh phí một cách tiết kiệm và
thích hợp. Cần tiếp tục hoàn thiện các định mức chi tiêu cụ thể - đặc biệt trong
lĩnh vực hành chính, trên cơ sở khách quan và sát hợp hơn với thực tế, theo

Cải cách tài chính công là một trong 4 nội dung cơ bản của Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Cải cách tài chính
công không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nước, cho các bộ, ngành, địa phương,
đơn vị trực tiếp sử dụng các nguồn lực tài chính công mà còn mang lại lợi ích
cho mọi tầng lớp nhân dân, những người có quyền giám sát việc sử dụng các
nguồn lực tài chính công, đồng thời là người thụ hưởng dịch vụ công được cung
cấp bởi những nguồn lực tài chính công. Tuy nhiên, cải cách tài chính công là
vấn đề nhạy cảm, luôn tiềm ẩn những khó khăn, thách thức, vì vậy, cần phải
được quan tâm chỉ đạo và có biện pháp thực hiện một cách thường xuyên, có
chương trình, kế hoạch cho từng giai đoạn, với những biện pháp cụ thể. Có thể
nói, đó là những công việc đầy khó khăn nhưng phải vượt qua để góp phần quan
trọng vào quá trình cải cách hành chính nhà nước, để tài chính công xứng đáng
với vai trò, vị trí của nó trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời
kỳ mới.
Nhóm 2 Page 23
Tài chính học
Thực trạng vai trò điều tiết vĩ mô kinh tế của tài chính công
Kết luận
Tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Nó vừa là nguồn lực để
nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công cụ để thực hiện các
dịch vụ công, chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước. Trong
tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và nhà
nước ta coi đổi mới quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan
trọng hàng đầu.
Nhận thức một cách đầy đủ, có hệ thống về tài chính công là đòi hỏi bức thiết
trong công tác nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động thực tiễn cho cán bộ ở
mọi nghành, mọi cấp, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh cải cách hành chính
hiện nay ở nước ta.
Mặt khác trong giai đoạn hiện nay, khi mà nước ta đang trong giai đoạn phát
triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cuộc cải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status