vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế việt nam - Pdf 14

Câu 7: Vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn trong nước và
nước ngoài trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Việt Nam.
Nguồn vốn trong nước: Nguồn vốn nhà nước; Nguồn vốn của dân cư và
tư nhân; Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại; Nguồn vốn trên thị
trường vốn
Nguồn vốn nước ngoài: Nguồn vốn ODA; Nguồn vốn tín dụng từ các
NHTM quốc tế; Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; Nguồn vốn trên
thị trường vốn quốc tế
I. VAI TRÒ CỦA HAI NGUỒN VỐN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THÚC
ĐẨY TT&PT KINH TẾ
Trước hết chúng ta cần khẳng định: đối với sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế một quốc gia, nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có mối
quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai
trò quyết định và nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng
không thể thiếu.
1. Nguồn vốn trong nước
- Nguồn vốn trong nước là nguồn đóng góp lớn vào GDP toàn xã hội,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Thông qua việc sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước để đầu tư vào
nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nguồn vốn đầu tư trong nước đã đóng góp 1
phần lớn vào GDP toàn xã hội. Cụ thể như việc sử dụng nguồn vốn từ ngân
sách nhà nước để đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội đã tạo
môi trường và điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực
khác phát triển. Các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng thường đòi hỏi nguồn
vốn huy động lớn và khả năng thu hồi vốn chậm, do đó ít doanh nghiệp nào
có đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện. Vì thế nguồn vốn trong nước sẽ được đầu
tư vào xây dựng các kết cấu hạ tầng cơ bản như hệ thống điện lưới quốc gia,
đường xá, giao thông liên lạc từ đó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển và xây dựng hoạt động nhà xưởng, mở rộng hoạt động kinh doanh, qua
đó phát triển kinh tế vùng, miền tạo ra nguồn GDP không nhỏ đóng góp vào

kinh tế tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
Trong một quốc gia việc phát triển không đồng đều giữa các vùng miền là
khó tránh khỏi. Vì vậy cần có các nguồn vốn đầu tư hợp lí để giảm bớt sự
không đồng đều này, làm cho nền kinh tế trở nên phát triển toàn diện hơn. Đối
với những khu vực vùng sâu, vùng xa nơi mà nền sản xuất còn chưa phát triển,
hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc còn lạc hậu thì việc đón nhận
nguồn vốn từ nước ngoài đầu tư vào đây là rất ít có hi vọng. Lí do là nguồn vốn
từ nước ngoài thường chọn những vùng, thành phố trọng điểm nơi mà có hệ
thống kết cấu hạ tầng tương đối phát triển, gần nguồn nguyên liệu và có thị
trường tiêu thụ lớn. Lúc này nguồn vốn đầu tư trong nước sẽ đảm nhận vai trò
đầu tư vào các vùng còn khó khăn, kinh tế chưa phát triển, giúp các vùng miền
đó tận dụng và phát huy được thế mạnh, nội lực của mình. Qua đó sẽ giải quyết
công ăn việc làm cho lao động trong vùng, nâng cao mức sống cũng như trình
độ dân trí và từ đó sẽ làm giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng. Điều
này cho thấy nguồn vốn trong nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm
bảo sự phát triển và tăng trưởng toàn diện của nền kinh tế.
- Nguồn vốn trong nước góp phần kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế,
đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước, tạo đà cho
tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Đầu tư quá mức là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát.
Vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế,
nhưng đó là nói về đầu tư có hiệu quả. Còn nếu đầu tư không có hiệu quả, thì
chẳng những tăng trưởng kinh tế phải tốn nhiều vốn đầu tư hơn, mà còn gây
ra lạm phát, xét trên nhiều mặt lạm phát do "chi phí đẩy" và lạm phát do "cầu
kéo". Bản thân vốn đầu tư sẽ làm cho lạm phát "cầu kéo"; còn đầu tư kém
hiệu quả sẽ làm cho lạm phát do "chi phí đẩy". Lạm phát do quan hệ cung -
cầu, quan hệ tiền - hàng mất cân đối thường có bề nổi, dễ nhận thấy, nhưng
lạm phát do đầu tư không có hiệu quả thì thường là lạm phát ngầm, lúc đầu rất
khó nhận thấy, nhưng khi nó bộc phát thì rất cao, rất khó trị và việc trị nó
thường phải kèm theo cái giá phải trả không nhỏ, thậm chí còn có thể rơi vào

trình độ tay nghề của đội ngũ lao động được giải quyết, tạo nên một môi trường
đầu tư thuận lợi đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa việc đó cũng tạo
cho quốc gia một lợi thế so sánh về môi trường đầu tư với các nước trong khu
vực, tạo ấn tượng trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ có nguồn vốn
trong nước mà các vùng có điều kiện chưa thật sự thuận lợi đã có khả năng thu
hút và đón nhận vốn đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội phát triển kinh tế của vùng.
- Sự lớn mạnh, ổn định nguồn lực vốn trong nước giúp hạn chế những mặt
tiêu cực của nguồn lực nước ngoài tới nền kinh tế, đồng thởi tạo dựng một
khung xương vững chắc cho nền kinh tế, chống lại những cơn sóng gió từ thị
trường kinh tế quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trong tình hình hội nhập với nền kinh tế trên thế giới như hiện nay thì
việc bị ảnh hưởng do các biến động kinh tế từ bên ngoài là điều không thể tránh
khỏi. Khi những biến động đó xảy ra thì nền kinh tế quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng
ít nhiều, gặp những khó khăn như giá cả tăng cao kéo theo lạm phát, sản xuất bị
đình trệ, xảy ra tình trạng thất nghiệp Lúc đó thì ta càng không thể trông chờ
vào các nguồn lực từ phía bên ngoài. Do đó, vai trò của nguồn vốn trong nước
trong lúc này mang tính quyết định đối với sự tăng trưởng phát triển của một
quốc gia. Sự ổn định và lớn mạnh nguồn vốn trong nước sẽ tạo thành một
khung xương vững chắc giúp chúng ta thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
và các biện pháp cần thiết để tránh và khắc phục các ảnh hưởng do các cú sốc
bên ngoài gây ra cho nền kinh tế như điều chỉnh cung cầu, trợ cấp thất nghiệp,
trợ cấp xã hội…
Không chỉ có vậy, các nguồn vốn và nguồn lực trong nước, quan trọng
là các nguồn chi từ ngân sách nhà nước, các khoản tín dụng, các khoản đầu tư
phát triển của các doanh nghiệp nhà nước phải nắm giữ những vị trí then chốt
trong nền kinh tế: tài chính, dầu khí, viễn thông Mở cửa cho các nhà đầu tư
nước ngoài song các chính sách của chính phủ vẫn quy định rõ ràng những
ngành nghề mà nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận. Đó là sự cẩn
trọng để kiểm soát việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài
nhằm hạn chế những mặt trái mà nguồn vốn này có thể đem theo: thâu tóm về

được cải thiện. Các sản phẩm sản suất trong nước sẽ nâng cao được tính cạnh
trạnh trên thị trường thế giới cũng như là so với sản phẩm ngoại nhập. Nền tảng
công nghệ vững chắc, tiên tiến sẽ là một bệ phóng cho nền kinh tế của quốc gia
tăng trưởng & phát triển đến một trình độ cao hơn.
- Dòng vốn đầu tư nước ngoài giúp tạo dựng một môi trường cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế tạo động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế.
Điều đầu tiên chúng ta cần khẳng định: cạnh tranh luôn là động lực cho
sự phát triển. So với các nhà đầu tư trong nước, các doanh nghiệp có vốn nước
ngoài luôn lợi thế hơn do có nguồn vốn lớn, công nghê, kinh nghiệm quản lý
hiện đại, và nhiều ưu đãi, khuyến khích mà chính phủ nước nhận đầu tư dành
cho họ. Vì vậy, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài là rất cao. Để
có thể cạnh tranh với các đối tác nước ngoài trên sân nhà, các doanh nghiệp
nước sở tại buộc phải tự mình đổi mới, mở rộng quy mô hoạt động, gia tăng sô
lượng và chất lượng các nguồn vốn đầu tư (đi vay, liên kết hợp tác giữa các
doanh nghiệp ) đồng thời cải tiến công nghệ, học hỏi các kỹ năng và kinh
nghiệm trong quản lý sản xuất. Như vậy, chính nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã
tạo ra động lực cạnh tranh làm cho nguồn vốn trong nước phải được sử dụng
hiệu quả hơn, hợp lý hơn. Tựu chung lại, nền kinh tế của quốc gia nhận đầu
tư sẽ có được những bước phát triển đáng kể nhờ hiệu quả và chất lượng của
việc huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.
- Nguồn vốn ĐTNN đóng góp đáng kể vào NSNN và các cân đối vĩ mô
khác
Gần đây, mức đóng góp hàng năm vào NSNN của khu vực kinh tế có
vốn ĐTNN đã vượt ngưỡng 1 tỷ USD/năm. FDI có tác động tích cực đến các
cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai,
cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào VN và mở rộng
nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy
móc, NVL
- Nguồn vốn ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng

quá trình phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế : Để
phát triển nhanh và bền vững, thực hiện công nghiệp hoá nguồn vốn nhà nước
đã tập trung đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội những
công trình thiết yếu của nên kinh tế nhà nước cần tập trung đầu tư; các công
trình giao thông then chốt của nên kinh tế như đường bộ, sân bay, bền cảng,
đường sắt, công trình thuỷ lợi được nâng cấp và làm mới, tập trung xây dựng
các công trình điện, thông tin liên lạc, cải tạo và xây dựng mới kết cấu hạ tầng
các khu đô thị, khu công nghiệp, các bệnh viện trường học, công trình văn hoá
thể thao, đầu tư nhiều hơn cho các chương trình mục tiêu quốc gia. Điều đó đã
tạo điều kiện phát triển sản xuất, và đặc biệt là thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài hay là nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng bởi vì khi đầu tư
vào đâu thì các nhà đầu tư nước ngoài luôn xem xét vấn đề lợi nhuận và điều
kiện ở nơi đầu tư có cơ sở hạ tầng có tốt không và nguồn vốn trong nước có
thể nói là đã rải thảm để đón nguồn đầu tư nước ngoài.
2. ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng
nhu cầu phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:
Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn từ
tỷ trọng chiếm 13,1% vào năm 1990 đó tăng lờn mức 32,3% trong năm 1995.
Tỷ lệ này đó giảm dần trong giai đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính khu vực (năm 2000 chiếm 18,6%) và trong 5 năm 2001-2005
chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng
16% (Theo Niên giám Thống kê cơ cấu vốn đầu tư thực hiện của khu vực
ĐTNN năm 2003 là 16%, năm 2004 là 14,2%, năm 2005 là 14,9% và năm 2006
là 15,9%, ước năm 2007 đạt trên 16%).
3. Tác động lan toả của ĐTNN đến các thành phần kinh tế khác trong
nền kinh tế:
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số
lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất. Đồng thời, có tác
động lan toả đến các thành phần kinh tế khác của nên kinh tế thông qua sự liên
kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status