Hoạt động xuất khẩu cà phê đối với tăng trường và phát triển kinh tế Việt Nam - Pdf 10

Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
Đường lối Đổi mới của Đảng tại Đại hội IV (12- 1986) đã mở ra một thời kỳ
mới cho nền kinh tế Việt Nam - Thời kỳ hội nhập và phát triển. Sau 20 năm Đổi
mới, hoà mình vào dòng chảy hội nhập, Việt Nam đã và đang dần khẳng định vị
thế của mình trên trường quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam đã là thành viên chính
thức của 63 tổ chức quốc tế (ASEM- 03/1996; APEC-11/1998; WTO- 01/2007...)
và có mối quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Những kết
quả đáng khích lệ này đã củng cố hơn nữa hệ thống chính trị, nâng cao vị thế
quốc tế của đất nước, đồng thời tạo thế và lực trong hoạt động thương mại Việt
Nam, đặc biệt là hoạt động xuất khẩu.
Với nguồn tài nguyên phong phú “rừng vàng biển bạc” và điều kiện tự nhiên
thuận lợi , Việt Nam mang trong mình lợi thế về các mặt hàng nông sản (gạo,
chè, cà phê...). Việc tận dụng lợi thế này để tiến hành hoạt động xuất khẩu đã
mang lại một nguồn thu lớn cho kinh tế cả nước, trong đó cà phê là một trong số
các nguồn hàng xuất khẩu chủ lực.Vậy tác động của nó đến nền kinh tế như thế
nào? Ngoài ra, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê (sau Brazil) và
đứng thứ nhất thế giới về xuất khẩu cà phê Robusta, song, giá cà phê vẫn cao,
tiêu chuẩn chất lượng cà phê vẫn thấp hơn so với tiêu chuẩn trên thế giới... Điều
đó đòi hỏi chúng ta cần tìm ra những biện pháp để mở ra hướng đi mới cho hoạt
động xuất khẩu cà phê Việt Nam.
Từ những ý tưởng trên , dựa trên nguồn kiến thức đã tích luỹ, học hỏi và đặc
biệt là nhờ sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Phan Thị Nhiệm đã giúp tôi
hoàn thành đề án với tiêu đề:
“Hoạt động xuất khẩu cà phê đối với tăng trường và phát triển kinh tế
Việt Nam”
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Lan Chi
1
Đề án kinh tế phát triển
1

Đề án kinh tế phát triển
2
Mục lục
Theo bảng số liệu trên cho thấy trong hai thời kỳ sau (1996-2000)và (2001-
2005) xuất khẩu bình quân tăng rất nhanh , giai đoạn 01-05 gấp 16 lần giai đoạn
86-90. Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP ngày càng cao , giai đoạn 01-05 đã trên
mức 50% đẩy cán cân thương mại của Việt Nam thoát khỏi thâm hụt, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
* Xuất khẩu của Việt Nam không chỉ tăng về số lượng mà còn không ngừng
được cải thiện về chất lượng xuất khẩu.Tỷ lệ hàng hoá chế biến , tinh chế ngày
càng cao trong tổng lượng hàng hoá xuất khẩu được thể hiện qua biểu đồ sau:
Hình 1: Cơ cấu hàng xuất khẩu theo mức độ chế biến
Nguồn: Tổng cục thống kê
Theo nhận định của Tổng cục thống kê, sự gia tăng tỷ trọng xuất khẩu trong 2
giai đoạn đầu phản ánh sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu, song, 2 giai đoạn
này, chúng ta đẩy mạnh công nghiệp chế biến phát triển nên các mặt hàng xuất
khẩu phần lớn ở dạng thô. Nhưng trong hai giai đoạn sau, do tác động của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, và tăng cường đầu tư vào ngành chế biến đã đẩy tỷ trọng
hàng xuất khẩu đã tăng lên, cụ thể đến năm 2001- 2005 đã chiếm tỷ trọng cao
hơn hàng xuất khẩu dạng thô.
Bên cạnh đó, cơ cấu hàng xuất khẩu phân theo ngành kinh tế cũng có sự thay
đổi theo chiều hướng tích cực, phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu nền
kinh tế, thể hiện định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH- HĐH) nền
kinh tế.Cụ thể, cơ cấu hàng xuất khẩu theo ngành kinh tế qua các giai đoạn như
sau:
3
Đề án kinh tế phát triển
3
Mục lục
4

hàng năm trong giai đoạn 1986-2005: đứng đầu là nhóm hàng công nghiệp khai
thác (29,4%), tiếp theo là nhóm hàng công nghiệp chế biến (22,2%); hàng thủy
sản (19,1%); hàng nông lâm sản (15,1%) và hàng lâm sản (11,9%). Đây là hướng
đi đúng đắn trong công cuộc Đổi mới đất nước đặc biệt là Đổi mới nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010 thì hoạt động xuất khẩu sẽ
mang lại 258,7 tỷ USD với tốc độ tăng trưởng bình quân là 16% <Nguồn: Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010>. Qua đó cho thấy tiềm năng
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam là rất lớn và hoạt động đó sẽ đóng góp ngày
càng nhiều vào nguồn thu của Nhà nước. Qua đó cho thấy tiềm năng xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam là rất lớn và hoạt động đó sẽ đóng góp ngày càng nhiều
vào nguồn thu của Nhà nước. Điều này cũng khẳng định rõ tầm quan trọng của
hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
5
Đề án kinh tế phát triển
5
Mục lục
2-Vai trò của xuất khẩu.
Những phân tích trên đã cho thấy xuất khẩu giữ một vai trò hết sức quan trọng
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việc mở rộng xuất khẩu làm tăng thêm
nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu. Khuyến khích xuất
khẩu còn nhằm giải quyết việc làm, tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân. Vì
vậy, đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và
thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nước. Cụ thể , vai trò của xuất khẩu được thể
hiện dưới những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.Để phục vụ cho
sự nghiệp CNH- HĐH đất nước đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn nhập khẩu
máy móc, trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ tiên tiến , hiện đại. Một trong các
nguồn thu có được là nhờ xuất khẩu và cũng là nguồn quan trọng nhất. Xuất khẩu
quyết định tốc độ và quy mô nhập khẩu. Đối với nước ta, trong thời kỳ 1986-

+, Thông qua xuất khẩu, hàng hóa sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị
trường thế giới về giá cả, chất lượng. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại
sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường bên ngoài.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể đổi
mới, hoàn thiện việc quản trị sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, nền kinh tế trở nên
vững vàng, ổn định và có sức cạnh tranh cao hơn.
- Thứ ba, xuất khẩu còn tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội:
+, Xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân.Việc đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi gia tăng sản xuất hàng
xuất khẩu; hoạt động này đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc, giảm bớt
tình trạng thất nghiệp trong nước và tăng thu nhập cho người dân với mức thu
nhập không thấp.
+, Xuất khẩu gia tăng làm tăng GDP, tăng thu nhập quốc dân làm tăng tiêu
dùng nội địa. Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa càng tăng lên với chất lượng ngày càng
cao. Việc xuất khẩu hàng hóa cũng tạo thêm nguồn vốn hỗ trợ việc nhập khẩu
những vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng ngày càng cao của người dân.
+, Xuất khẩu là cầu nối cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của quốc
gia. Tăng cường xuất khẩu giúp chúng ta thiết lập thêm nhiều hơn quan hệ thông
thương buôn bán giữa các quốc gia, từ đó làm gia tăng nguồn đầu tư, chủ động
hơn trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, tạo nên thế ngày càng ổn định về kinh
tế.
3- Nhiệm vụ - phương hướng phát triển xuất khẩu.
*Nhiệm vụ
Với mục tiêu xuất khẩu nhằm bảo đảm cho nhập khẩu đáp ứng nhu cầu đa
dạng của nền kinh tế , xuất khẩu cần phải chú trọng vào những nhiệm vụ sau:
7
Đề án kinh tế phát triển
7
Mục lục

Xuất khẩu lao động 4,500 25.0 52.3
Du lịch 1,600 25.0 18.6
Một số ngành khác 2,500 50.0 29.1
∑ kim ngạch XK DV 8,600 100.0 100.0
Nguồn:Giáo trình Kinh tế đối ngoại Việt Nam
- Hình thành các vùng sản xuất hàng xuất khẩu: Theo các nhà phân tích, ở Việt
Nam sẽ hình thành các vùng sản xuất chính như sau:
8
Đề án kinh tế phát triển
8
Mục lục
+, Vùng Trung du miền núi phía Bắc: tập trung sản xuất các mặt hàng như chè,
lâm sản, khoáng sản, thịt...
+, Vùng đồng bằng sông Hồng : thịt, cây công nghiệp ngắn ngày, rau quả...
+, Vùng khu IV cũ : thịt, cây công nghiệp ngắn - dài ngày, khoáng sản
+, Tây Nguyên: cà phê, cao su, dâu tằm, lâm sản...
+, Duyên hải miền Trung: thịt, lâm sản, thủy sản...
+, Đông Nam Bộ: cao su, cà phê, tiêu, điều, chăn nuôi thịt
+, Đồng bằng Nam Bộ: lúa gạo, thịt , thủy sản, cây ăn quả
+, Vùng biển và thềm lục địa: khai thác thủy sản và dầu, khí
+, Các thành phố: tập trung cho công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp
nhẹ, công nghiệp cơ khí.
- Hình thành các ngành sản xuất then chốt:
+, Ngành sản xuất nông - ngư nghiệp.Chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản
xuất : kinh tế vườn, thực phẩm chế biến, hải sản, lương thực, hạt có dầu, dầu ăn.
+, Ngành lâm nghiệp và đồn điền: gỗ và sản phẩm từ gỗ; cao su và sản phẩm
cao su.
+, Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: may mặc và tơ tằm, những sản
phẩm điện tử, đồ điện, cơ khí, công nghệ phần mềm....
+, Ngành dịch vụ xuất khẩu: ngành du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải, các

- Người lao động sẽ lành nghề hơn do lặp đi lặp lại cùng một thao tác nhiều lần
- Người lao động sẽ không phải mất nhiều thời gian chuyển từ việc sản xuất
sản phẩm này sang sản phẩm khác.
- Người lao động sau quá trình lao động dài với một công đoạn sản xuất giống
nhau sẽ nảy sinh ra những sáng kiến, đề xuất nhằm cải tiến quy trình sản xuất
mang lại hiệu quả sản xuất cao hơn.
Tuy nhiên, hạn chế của lý thuyết này chính là ở chỗ nó không cho phép giải
thích hiện tượng khi một quốc gia có lợi thế hơn hẳn các quốc gia khác hoặc
những quốc gia khác không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng trong phân
công lao động quốc tế là ở đâu? và thương mại quốc tế sẽ xảy ra như thế nào với
các quốc gia này.
2- Lý thuyết “ Lợi thế so sánh” của David Ricacdo
David Ricacdo (1772 - 1823) là nhà duy vật , nhà kinh tế học người Anh. Ông
đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh của hoạt động ngoại thương. Lý thuyết này
được đánh giá cao hơn một bước trong việc khám phá ra cơ chế hình thành lợi
ích ngoại thương. Theo ông, lợi ích thương mại vẫn diễn ra ở những nước có lợi
thế tuyệt đối về tất cả các sản phẩm vì các nước này cần phải hy sinh sản lượng
kém hiệu quả để sản xuất những sản phẩm có hiệu quả hơn. Nói cách khác ,
những lợi ích có được do chuyên môn hóa và ngoại thương mang lại phụ thuộc
10
Đề án kinh tế phát triển
10
Mục lục
vào lợi thế so sánh chứ không phải lợi thế tuyệt đối. D.Ricacdo đã nghiên cứu lợi
thế này dưới góc độ chi phí so sánh để sản xuất ra một sản phẩm.Chính vì vậy,
ông khẳng định trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học” rằng
bất cứ quốc gia nào cũng có thể thu được lợi khi tham gia vào quan hệ thương
mại với nước ngoài. Trong “Học thuyết về lợi thế so sánh” của mình, ông đã đưa
ra cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế:
- Mọi quốc gia đều có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công

là đất đai, lao động và tư bản. Sự khác biệt về mức độ có sẵn của các yếu tố đó sẽ
dẫn tới sự khác biệt về giá cả của chúng. Các yếu tố càng dồi dào thì giá của nó
càng rẻ. Do vậy, giá cả của những hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sản xuất cũng
rẻ hơn. Đồng ý kiến với Ricacdo khi cho rằng thương mại là có lợi , hai ông còn
giải thích động thái thương mại xuất phát từ sự khác nhau về mức độ sẵn có của
các yếu tố sản xuất. Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng sự khác nhau ở các nước về
mối tương quan giữa lao động với đất đai hay vốn có thể giải thích sự khác biệt
về chi phí các nhân tố. Nếu lao động dư thừa so với đất đai và vốn thì chi phí lao
động sẽ thấp hơn chi phí đất đai và tiền vốn, ngược lại, nếu lao động khan hiếm
hơn thì chi phí lao động sẽ cao hơn. Nhờ đó, các quốc gia có thể sử dụng các yếu
tố dư thừa một cách hiệu quả tạo ra sản phẩm có giá rẻ hơn và đem xuất
khẩu.Tuy nhiên, giá sản phẩm khác nhau không chỉ phụ thuộc vào sự khác biệt về
giá cả các yếu tố đầu vào mà còn phải kể đến kỹ thuật sản xuất và sự phối hợp
các yếu tố sản xuất.
III- Chiến lược xuất khẩu hàng hóa
Do cà phê là một loại mặt hàng xuất khẩu chủ yếu dưới dạng thô đặt trong điều
kiện nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam nên chiến lược được lựa chọn là
chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô
Sản phẩm xuất khẩu thô là những sản phẩm nông nghiệp và những sản phẩm
khai khoáng.Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô chủ yếu dựa vào việc sử dụng
các nguồn lực sẵn có và các lợi thế của đất nước để tạo ra sản phẩm xuất khẩu thô
với giá rẻ tiêu thụ ở thị trường bên ngoài. Chiến lược này áp dụng chủ yếu với
các quốc gia đang phát triển có những hạn chế về trình độ sản xuất và khả năng
tích lũy vốn.
1- Tác động tích cực của chiến lược đối với phát triển kinh tế
- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô tạo điều kiện phát triển nền kinh tế theo
chiều rộng. Chiến lược làm tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài và tăng tích lũy
trong nước; đồng thời chiến lược còn giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, tăng đội ngũ công nhân lành nghề từ đó làm tăng quy mô nền kinh tế.
- Chiến lược cũng tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

này trong giai đoạn 1900-1986 cho thấy giá của sản phẩm thô giảm bình quân
0,65%/năm so với sản phẩm công nghệ.<Nguồn: Giáo trình Kinh tế phát triển-
NXB Lao động xã hội>
- Trở ngại do thu nhập từ xuất khẩu sản phẩm thô biến động
Do cung - cầu sản phẩm thô luôn biến động nên sản lượng và giá cả sản phẩm
thô cũng biến động theo. Do vậy, thu nhập từ xuất khẩu sản phẩm thô cũng biến
động. Do cung sản phẩm thô có độ co giãn cao nên tác động mạnh tới mức
giá.Khi cung tăng làm cho sản lượng tăng, giá giảm nhưng mức giảm của giá lớn
13
Đề án kinh tế phát triển
13
Mục lục
hơn mức tăng sản lượng nên thu nhập từ xuất khẩu giảm. Và ngược lại, với cung
giảm, giá tăng lớn hơn sản lượng giảm nên thu nhập tăng nhưng không nhiều.
Còn cầu sản phẩm thô luôn có xu hướng giảm nên giá và sản lượng đều giảm do
vậy thu nhâp cũng giảm mạnh.
IV-Bài học kinh nghiệm đối với xuất khẩu cà phê Việt Nam
* Kinh nghiệm tổ chức sản xuất và xuất khẩu cà phê của Brazil
Brazil là một quốc gia có lịch sử trồng trọt, chế biến và tiêu thụ cà phê từ thế
kỷ 17, phát triển mạnh từ thập kỷ 20 cho đến nay, Trước đây, cà phê chiếm tới
80% tổng thu nhập từ xuất khẩu, nhưng hiện nay chỉ còn là 20% do giá trị xuất
khẩu của các ngành hàng khác tăng mạnh. Mặc dù vị trí của ngành cà phê giảm
tương đối trong cơ cấu xuất khẩu, nhưng Brazil vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn
nhất thế giới, với sản lượng tương đối ổn định. Thành tựu này đạt được một phần
là nhờ nước này có hệ thống giám sát nguồn cung cà phê hiệu quả, để đưa ra
thông tin và dự báo thị trường cà phê chính xác.
Dù điều kiện đất đai của Brazil không hẳn đã tốt hơn Việt Nam nhưng nhờ có
giống tốt và đồng bộ, quy trình và kỹ thuật sản xuất và chế biến tiên tiến nên chất
lượng cà phê của Brazil luôn cao và tạo uy tín với thế giới.
Ngành cà phê của Brazil có 4 nhóm tổ chức chính: Tổ chức của các nhà sản

mới được phát triển ở một số đồn điền của người Pháp. Lúc đó người ta trồng 3
loại cà phê: cà phê Arabica với chủng chủ yếu là Typica, cà phê Canephora với
chủng Robusta, và cà phê Liberica với chủng Excelsa. Năm 1930 diện tích cà phê
ở Việt nam có 5.900 ha, trong đó có 4.700 ha cà phê Arabica, 900 ha cà phê
Excelsa và 300 ha cà phê Robusta. Quá trình trồng và phát triển cây cà phê được
phân ra thành các thời kỳ như sau:
* Thời kỳ trước năm 1975: Đây là thời kỳ cây cà phê chủ yếu do các đồn điền
của Pháp để lại và được trồng trong các nông trường quốc doanh ở miền Bắc.
Thời kỳ này, diện tích trồng cà phê được mở rộng từ 5.900 ha (1930) đến 13.000
ha (1964 - 1966).Song, do cây cà phê chưa được chú trọng, do thiếu kiến thức
khoa học, chưa có kinh nghiệm sản xuất, nhất là yếu kém trong tổ chức quản lý
nên gây ra tình trạng sâu bệnh ở cà phê Arabica và sự không phù hợp về yếu tố tự
nhiên với giống cà phê Robusta nên một phần lớn diện tích cà phê đã bị thanh lý.
Chính vậy, sản lượng và năng suất cà phê không ổn định. Theo thống kê, cho đến
năm 1975, cả nước có trên 13.000ha diện tích trồng cà phê với sản lượng 6.000
tấn cà phê nhân và năng suất bình quân chỉ đạt 4,61 tạ /ha.
* Thời kỳ 1975 - 1984: Cây cà phê được tập trung phát triển ở các tỉnh phía
Nam, đặc biệt là Tây Nguyên với giống cà phê vối là chủ yếu .Đồng thời, các
vườn cà phê cũ ở miền Bắc cũng được củng cố. Lúc này, ở Tây Nguyên, một mặt
ta tổ chức trưng thu, trưng mua đồn điền cũ, một mặt mở rộng diện tích trồng mới
15
Đề án kinh tế phát triển
15
Mục lục
trên cơ sở thành lập các nông trường quốc doanh. Trong thời kỳ này, cả nước đã
trồng thêm được 12.000 ha, nhưng năng suất cà phê vẫn chưa cao, trung bình vẫn
chỉ đạt mức 4-5 tạ/ha.
* Thời kỳ 1985 - 1994: Đây là thời kỳ cây cà phê phát triển mạnh gắn liền với
sự ra đời của Công ty cà phê - ca cao Việt Nam ( nay là Tổng công ty cà phê Việt
Nam). Do cơ chế mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã tiến hành hợp tác với các

Nguồn:Tổng cục Thống kê
16
Đề án kinh tế phát triển
16
Mục lục
Từ bảng số liệu và thực tiễn phát triển của sản xuất cà phê nước ta trong hơn
chục năm qua có thể thấy rằng:
- Về diện tích: Diện tích cà phê tăng nhanh, hình thành vùng sản xuất hàng hóa
tập trung, có giá trị kinh tế cao và trở thành nước xuất khẩu cà phê vối hàng đầu
thế giới
+ Diện tích cà phê tăng nhanh từ 123.900 ha (1994) lên tới mức cao nhất là
565.300 ha (2001) rồi giảm xuống mức 488.600 ha (2006). Như vậy, diện tích cà
phê năm 2001 gấp 4,56 lần năm 1994, và năm 2006 gấp 3,94 lần năm 1994.Tốc
độ tăng diện tích bình quân năm là 17,12%/năm. Sở dĩ, diện tích tăng nhanh như
vậy là do một số nguyên nhân cơ bản sau: Trước hết là những năm giữa của thời
kỳ 1985-1994 là thời kỳ bội thu của cây cà phê. Hiệu quả sản xuất cà phê rất cao
tới 38-40 chỉ vàng/tấn cà phê nhân (1986) tuy sau đó có giảm xuống nhưng vẫn
tác động lớn đến việc mở rộng diện tích trồng cà phê. Thứ hai, do các chủ trương
chính sách về cà phê đã tác động đến phong trào cà phê trong dân. Người dân tự
bỏ vốn ra để phát triển cà phê. Thứ ba, do cây cà phê vối hoàn toàn phù hợp với
điều kiện sinh thái của Tây Nguyên, đảm bảo năng suất cao, ổn định và không bị
sâu bệnh.Tây Nguyên là vùng đất có đủ điều kiện để mở rộng diện tích do có
diện tích lớn và dân cư thưa thớt. Cà phê phát triển cũng thu hút được người dân
từ các nơi khác đến. Do vậy, diện tích cà phê không ngừng tăng lên đẩy sản
lượng và năng suất không ngừng tăng.
+ Cây cà phê được phá triển ở 6 vùng (trừ Đồng bằng sông Hồng và Đồng
bằng sông Cửu Long) và trên 28 tỉnh trong cả nước trong đó các vùng cà phê
chính: Tây Nguyên chiếm 86,31%, Đông Nam Bộ (10,28%)...
+ Vùng sản xuất cà phê vối tập trung có điều kiện sinh thái phù hợp cho năng
suất cao. Năm 2003, với diện tích trồng cà phê lớn, Tây Nguyên có sản lượng cà

2- Thực trạng chế biến cà phê.
Do cà phê là được thu hoạch ở dạng quả tươi, nên sau khi thu hoạch cần tiến
hành quy trình chế biến tạo ra cà phê nhân khô là sản phẩm chủ lực trong giao
dịch.
* Tổ chức chế biến
Hiện nay, nước ta vẫn sử dụng hai phương pháp chế biến cà phê là chế biến
ướt và chế biến khô. Chế biến nước là phương pháp chế biến dùng đến nước qua
3 cấp: Cấp quy mô hộ gia đình, cấp quy mô xã, cấp xưởng chế biến tập trung
công suất lớn do các công ty nhà nước quản lý. Chế biến khô là phương pháp đơn
giản hơn, cà phê đem phơi khô sau đó, xát vỏ và đánh bóng.
Trên thực tế, do tích lũy vốn trong dân đặc biệt là nông dân rất thấp nên ít hộ
có đủ điều kiện để đầu tư tự chế biến. Theo khảo sát tháng 6/2003 ở Đắc Lắc,
khoảng 26,7% hộ trung bình và 35,3% hộ giàu tự chế biến, hầu hết đều đi thuê. Ở
18
Đề án kinh tế phát triển
18

Trích đoạn Giải pháp về thị trường Giải pháp về khoa học kỹ thuật và công nghệ KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status