Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế phần 1 - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia
trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ khi giành được độc lập năm 1975 và đặc biệt
là từ sau năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, Đảng và Nhà nước ta
luôn đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên hàng đầu với định hướng đến năm 2020 Việt
Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên thì đầu tư
là một yếu tố cực kỳ quan trọng vì đầu tư, nói rõ hơn là đầu tư phát triển, không
những làm gia tăng tài sản của cá nhân nhà đầu tư, mà còn trực tiếp làm gia tăng tài
sản vật chất cho nền kinh tế, có tác động rất mạnh mẽ đến phát triển kinh tế. Đã có
nhiều lý thuyết về đầu tư được nêu ra nhằm phân tích tác động của đầu tư đến tăng
trưởng và phát triển dưới nhiều khía cạnh khác nhau như lý thuyết số nhân đầu tư, lý
thuyết gia tốc đầu tư, mô hình Harrod – Domar...
Chính phủ Việt Nam với vai trò của mình đã luôn nỗ lực tạo điều kiện tốt nhất
cho mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và kết quả là Việt Nam đã trở thành thành
viên chính thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO từ ngày 1/1/2007. Đây vừa là cơ hội
vừa là thách thức lớn đặt ra đối với Việt Nam khi nền kinh tế còn non trẻ, khả năng
kiểm soát các luồng vốn đầu tư ( trong nước và từ bên ngoài vào) còn hạn chế. Nếu
không có một cái nhìn đúng đắn về đầu tư thì nền kinh tế Việt Nam sẽ rất khó đứng
vững trước làn sóng vốn tràn vào Việt Nam và luôn biến động một cách mạnh mẽ
như hiện nay. Chính vì tầm quan trọng của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế là rất lớn nhưng vấn đề giải thích sự tác động đó thông qua các lý thuyết kinh
tế về đầu tư còn ít được đề cập đến. Do đó chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên
cứu là:

DỰA VÀO CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ GIẢI THÍCH VAI TRÒ CỦA
ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

.
1
Đê tài được chia làm 3 phần chính:
Phần I : Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư, tăng trưởng và phát triển

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy , mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là
đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải
ghánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhà xưởng,
sức lao động, trí tuệ… và các mục đích hướng tới chính là sự tăng lên về tài sản tài
chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, máy móc…), tài sản
trí tuệ (trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, năng suất lao động, trình độ quản lý…
) trong nền sản xuất xã hội.
Trong những kết quả đạt được trên đây, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh
các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng
trong mọi lúc , mọi nơi không chỉ đối với người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền
kinh tế. Những kết quả này không chỉ nhà đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ
hưởng. Chẳng hạn, một nhà máy được xây dựng, tài sản vật chất của nhà đầu tư trực
tiếp tăng lên, đồng thời tài sản vật chất, tiềm lực sản xuất của nền kinh tế cũng được
tăng thêm.
Lợi ích trực tiếp do sự hoạt động của nhà máy này đem lại cho nhà đầu tư là lợi
nhuận, còn cho nền kinh tế là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng (cho sản xuất và cho sinh
hoạt ) tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho
người lao động…
3
Trình độ nghề nghiệp, chuyên môn của người lao động tăng thêm không chỉ có
lợi cho chính họ (để có thu nhập cao, địa vị cao trong xã hội) mà còn bổ sung nguồn
lực có kỹ thuật cho nền kinh tế để có thể tiếp nhận công nghệ ngày càng hiện đại, góp
phần nâng cao dần trình độ công nghệ và kỹ thuật của nền sản xuất quốc gia.
1.2 Phân loại đầu tư.
Căn cứ vào các kết quả của hoạt động đầu tư, bản chất và lợi ích do đầu tư đem
lai chúng ta có thể chia đầu tư ra làm 3 loại : đầu tư tài chính, đầu tư thương mại và
đầu tư phát triển.

tư tài chính và đầu tư thương mại. Đầu tư phát triển là điều kiện tiên quyết cho sự ra
đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ. Bên cạnh
đó, đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư
phát triển. Tuy nhiên trong khuân khổ của đề tài này chúng ta chỉ đi sâu, tiềm hiểu,
xem xét các vấn đề kinh tế của đầu tư phát triển- loại đầu tư quyết định trực tiếp sự
phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp
tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
2. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng này được thể hiện ở quy mô và
tốc độ tăng trưởng. Quy mô phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít còn tốc độ tăng trưởng
được dùng để so sánh sự gia tăng giữa các thời kỳ. Người ta thường xác định tăng
trưởng kinh tế thông qua các chỉ tiêu GDP (tổng sản phẩm quốc nội), GNP (tổng sản
phẩm quốc dân) và GNI (thu nhập bình quân đầu người).
5
Đầu tư là một trong những yếu tố được tính đến trong tăng trưởng kinh tế, dựa
vào công thức tính GDP sau:
GDP = S + I + G + (X – IM)
Trong đó: S: tổng tiết kiệm trong nền kinh tế
I: đầu tư
G: chi tiêu của chính phủ
X: xuất khẩu
IM: nhập khẩu.
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh
tế còn đầu tư phát triển không những làm gia tăng tài sản của nhà đầu tư mà còn trực
tiếp làm tăng tài sản của nền kinh tế quốc dân, chẳng hạn khi nhà đầu tư xây dựng
một nhà máy thì nhà máy đó không những là tài sản của nhà đầu tư mà còn là tiềm lực
sản xuất của cả nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Như vậy
đầu tư phát triển chính là một yếu tố không thể thiếu đối với quá trình tăng trưởng của
một nền kinh tế.

yêu cầu của đề tài chúng ta phải nghiên cứu ảnh hưởng của đầu tư đến tăng trưởng và
phát triển kinh tế nhưng dưới góc độ vận dụng các lý thuyết kinh tế về đầu tư để giải
thích . Do đó chúng ta phải nghiên cứu vấn đề trên phương diện lý luận, vận dụng các
lý thuyết đầu tư là chủ yếu. Có rất nhiều lý thuyết kinh tế về đầu tư, mỗi lý thuyết
nghiên cứu một khía cạnh khác nhau của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Dưới đây trình bày một số lý thuyết tiêu biểu sau.
1. SỐ NHÂN ĐẦU TƯ.
1.1 Tư tưởng của mô hình .
Mô hình số nhân đầu tư xuất phát từ tư tưởng của Keynes. Ông cho rằng đầu tư
tăng sẽ bù đắp cho những thiếu hụt về cầu tiêu dùng. Để đảm bảo cho đầu tư gia tăng
liên tục ông đưa ra nguyên lý số nhân.
1.2 Mô hình số nhân đầu tư .
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó cho thấy sản
lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị.
Công thức tính (1) :
k =

Trong đó: ΔY là mức gia tăng sản lượng
ΔI là mức gia tăng đầu tư
K là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có :
8
∆Y
∆I
ΔY= k .ΔI
Như vậy việc gia tăng đầu tư có tác dụng khếch đại sản lượng tăng lên số nhân
lần. Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1.
Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khếch đại của sản lượng càng lớn.
Sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng gia tăng.
Thực tế, gia tăng đầu tư, dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất (máy

t
- K
d
t -1
(2)
Lượng tư bản có được vào cuối thời kỳ trước chính là lượng tư bản mong muốn
phụ thuộc vào thu nhập của thời kỳ đó.
K
t-1
= K
t-1
d
=

α .Y
t-1
(3)
Vì vậy, chúng ta có thể viết l ại phương trình (2) như sau:
I
n,t
= K
d
t
- K
t-1
= α .Y
t
- α .Y
t-1
= α.( Y

thực tế hơn bằng cách cho rằng lượng tư bản thực tế sẽ điều chỉnh dần đến mức
mong muốn. Gỉa sử rằng chúng ta sử dụng mô hình cho một năm nào đó. Cũng giả sử
rằng, do sản lượng tăng lên nên lượng tư bản mong muốn cũng tăng theo. Các dự án
10
đầu tư sẽ được thực hiện nhằm đưa lượng tư bản tiến tới mức mong muốn. Bên cạnh
những chi phí mà ta gọi là chi phí trực tiếp của đầu tư, chúng ta cần tính đến những
chi phí điều chỉnh, và việc coi chi phí này tăng lên khi mức đầu tư tăng cũng là điều
hợp lý. Những ví dụ về chi phí điều chỉnh như phải đóng cửa nhà máy hoặc thuê thêm
công nhân làm việc ngoài giờ để lắp đặt thiết bị, chi phí tăng thêm do muốn tăng tiến
độ xây dựng nhà máy và hoạt động sản xuất có thể bị đình trệ do bộ máy quản lý phải
tập trung vào việc triển khai các dự án đầu tư. Nếu chi phí điều chỉnh tăng mạnh, thì
quyết định tối ưu đối với doanh nghiệp sẽ là điều chỉnh dần lượng tư bản thực tế đến
mức mong muốn. Khi đó chênh lệch giữa hai lượng tư bản này chỉ bị triệt tiêu một
phần trong từng thời kỳ.
Để phản ánh được độ trễ điều chỉnh này, chúng ta có thể viết (2) như sau:
I
n,t
= λ.( K
d
t
-K
t-1
) 0< λ<1 (6)
Sử dụng (1), ta có:
I
n,t
= λ.( α.Y
t
- K
t-1

hoạch khá chính xác.
b. Lý thuyết phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế dẫn đến đầu tư. Khi
kinh tế tăng trưởng cao, sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn,
dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tư nhiều.
2.2.2 Nhược điểm.
a. Lý thuyết giả định quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng và đầu tư là cố định. Thực tế
đại lượng này (α) luôn biến do sự tác động c ủa nhiều nhân tố khác.
b. Thực chất lý thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ không
phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng. Vì
từ công thức K
d
t
= α.Y
t
có thể viết:
Tại thời điểm t : K
d
t
= α.Y
t
(8)
Tại thời điểm (t-1): K
t-1
d
= α.Y
t-1
d
(9)
Lấy (8) trừ đi (9), ta có :
K

-D= K
d
t
- K
t-1
d
= α.( Y
t
-Y
t-1
d
)= α.ΔY ()
và đầu tư ròng ΔI= α.ΔY
Như vậy theo lý thuyết này đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng đầu ra.
Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng(lớn hơn α lần). Nếu sản lượng giảm, đầu tư
thuần sẽ âm. Nếu tổng cầu về sản lượng trong thời gian dài không đổi, đầu tư ròng sẽ
bằng 0 (khi ΔY=0 thì ΔI=0 )
Tuy nhiên khi sản lượng không thay đổi giữa hai thời kỳ đầu tư thuần bằng o
nhưng tổng đầu tư là một số dương vì các doanh nghiệp vẫn phải đầu tư thay thế máy
móc thiết bị đã hao mòn hết.
c. Theo lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện ngay
trong cùng một thời kỳ. Điều này không đúng vì nhiều lý do, chẳng hạn do việc cung
cấp các yếu tố có liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, do cầu vượt qúa
cung…do đó lý thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện qua thời gian. Theo lý
thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác định như là một
hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư mong muốn được
xác định trong dài hạn.
Nếu gọi K
t
d

Và lý thuyết gia tốc đầu tư hoàn thiện sau này cũng đã đề cập đến tổng đầu tư.
13
Theo lý thuyết gia tốc đầu tư ban đầu thì đầu tư thuần ∆I=I
t
- D
t
=K
t
d
-K
t-1
d
. Theo lý
thuyết gia tốc đầu tư sau này thì
K
t
d
- K
t-1
d
= λ(Kt
*
t
–K
t-1
) và do đó ∆I= λ(Kt
*
t
–K
t-1

t-1
d
I
t
chính là tổng đầu tư trong kỳ và là hàm của vốn mong muốn và vốn thực hiện.
.3. LÝ THUYẾT QUỸ NỘI BỘ CỦA ĐẦU TƯ.
Theo lý thuyết này, đầu tư có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận thực tế:
I ~ f (lợi nhuận thực tế ). Do đó , dự án đầu tư nào đem lại lợi nhuận cao sẽ được
lựa chọn. Vì lợi nhuận cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn hơn và mức đầu tư sẽ
cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ lại, tiền trích
khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái phiếu bán cổ phiếu
là nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền kinh
tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và lâm vào
tình trạng phá sản. Do đó, việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ khi được vay
ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái phiếu cũng không
phải là biện pháp hấp dẫn. Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho đầu tư chỉ được các doanh
nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ ràng và thu nhập do dự án đem
lại trong tương lai sẽ lớn hơn các chi phí đã bỏ ra.
Chính vì vậy theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư, các doanh nghiệp thường
chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và các sự gia tăng của lợi
nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
Sự khác nhau giưa lý thuyết gia tốc đầu tư và lý thuyết này dẫn đến việc thực thi
các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư. Theo lý thyết gia tốc đầu tư chính
sách tài khoá mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó sản lượng thu được
14
cũng sẽ cao hơn. Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh nghệp không có tác dụng kích
thích đầu tư. Ngược lại theo lý thuyết quỹ nội bộ của đầu tư thì việc giảm thuế lợi tức
của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, mà tăng
lợi nhuận cũng có nghĩa là tăng quỹ nội bộ. Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để
xác định lượng vốn đầu tư mong muốn, còn chính sách tài khoá mở rông không có tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status