Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC…………………………………………………….2
LỜI NÓI ĐẦU………………………………………… 3
NỘI DUNG…………………………………………… 4
A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI……………………………………….4
B.NỘI DUNG ……………………………………………… 5
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN………………………………………………… 5
1.CƠ SỞ HẠ TẦNG……………………………………………… 6
a. Khái niệm……………………………………………………… 6
b.Đặc điểm, tính chất………………………………………………6
2. KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG………………………………….7
a.Khái niệm……………………………………………………… 8
b.Đặc điểm, tính chất……………………………………………….8
3.MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CỞ SỞ HẠ TẦNG
VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG XÃ HỘI…………………… 9
a.Vai trò quyết định CSHT đối với KTTT xã hội………………… 11
b.Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT…………………… 13
II.CƠ SỞ THỰC TIỄN…………………………………………… 17
1.MỐI QUAN HỆ BIỆN CHÚNG GIỮA CSHT VÀ KTTT
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIÊT NAM……….17
a. Đặc điểm hình thành CSHT và KTTT trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa cộng sản………………………………… .17
b.CSHT và KTTT trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam… 18
2.HẠN CHẾ VỀ CSHT VÀ KTTT Ở VIỆT NAM…………………23
3.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ……………………………………………25
C. KẾT LUẬN…………………………………………………27
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………28
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
____________ LỜI NÓI ĐẦU ______________
Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Cơ Sở Hạ
TầngVà Kiến Trúc Thượng Tầng
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
NỘI DUNG
A. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng đều bị
các quan hệ của kinh tế quy định. Dù ở xã hội nào, triết học bao giờ cũng bao
gồm hai yếu tố: Yếu tố nhận thức đó là sự hiểu biết về thế giới xung quanh
trong đó con người là yếu tố nhận định, là sự đánh giá về mặt đạo lý.
Để phù hợp với trình độ phát triển thấp ở giai đoạn đầu tiên của lịch sử
loài người, triết học ra đời với tính cách là một môn khoa học tổng hợp các
tri thứ của con người về hiện thực xung quanh và bản thân mình. Sau đó, do
sự phát triển của xã hội, triết học đã tách ra thành một môn khoa học độc
lập, triết học với tính cách là khoa học, nên nó có đối tượng và nhiệm vụ
nhận thức riêng của mình. Nó là hệ thống những quan điểm, quan niệm có
tính chất chính thể về thế giới, về các quá trình vật chất, tinh thần và mối
quan hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biên thế giới. Do vậy triết học
nghiên cứu về vấn đề: tư duy, xã hội và tự nhiên. Trong đó vấn đề xã hội là
vấn đề mang tính hình thái kinh tế, phản ánh động lực sự phát triển xã hội
thông qua lực lượng sản xuất. Để có cơ chế, cách thức trong sự phát triển xã
hội thì cần phải có CSHT và KTTT. Do vậy CSHT và KTTT là một vấn đề
đặc biệt phải quan tâm.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong những nội dung cơ
bản của học thuyết hinh thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là
cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong nhận thức và cải tạo
xã hội.
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
những quan hệ kinh tế, trao đổi trong quá trình tái sản xuất ra đời sống vật
chất của con người
.b. Đặc điểm, tính chất:
CSHT của một xã hội cụ thể thường bao gồm: kiểu quan hệ sản xuất thống
trị trong nền kinh tế. Đồng thời trong mỗi CSHT xã hội còn có những QHSX
khác nữa như: dấu vết ,tàn trữ QHSX cũ và mầm mống, tiền đề của QHSX
mới. Trong đó, QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các
QHSX khác, nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế - xã hội. Các
QHSX đó, không tách rời nhau mà luôn đấu tranh với nhau và liên hệ với
nhau và hình thành CSHT của mọi xã hội cụ thể ở một giai đoạn phát triển
nhất định của lịch sử.
Ví dụ như: Trong xã hội phong kiến ngoài QHSX phong kiến chiếm đia
vị thống trị, nó còn có QHSX tàn dư của xã hội chiếm hữu nô lệ, mầm mống
của QHSX tư bản chủ nghĩa và chính ba yếu tố đó cấu thành nên CSHT
phong kiến.
Đặc trưng có tính chất của một CSHT là do QHSX thống trị quy định.
QHSX thống trị quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn
bộ đời sống kinh tế - xã hội. Quy định tính chất cơ bản của toàn bộ CSHT xã
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
hội đương thời, mặc dù quan hệ tàn dư, mầm mống có vị trị không đáng kể
trong xã hội có nền kinh tế xã hội phát triển đã trưởng thành, nhưng lại có vị
trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của xẫ hội đang ở giai
đoạn mang tính chất quá độ.
CSHT mang tính chất đối kháng tồn tại trong xã hội mà dựa trên cơ sở
chiếm hữu tư nhân về TLSX. Tính chất đối kháng của CSHT được bắt nguồn
từ mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa được trong CSHT đó và bản chất
của kiểu QHSX thống trị quy định. Đó là sự biểu hiện của sự đối lập về lợi
ích kinh tế giữa các tập đoàn người trong xã hội.
Như vậy, CSHT là tổng thể và mâu thuẫn rất phức tạp, là quan hệ vật chất
Bộ phận có quyền lực cao nhất của KTTT của xã hội có giai cấp là nhà
nước. Đây là công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho xã hội về mặt pháp
lý - chính trị.
Thời kì quá độ từ CNTB lên CNCS, những tàn dư tư tưởng của các giai
cấp thống trị bóc lột vẫn còn tồn tại trong KTTT. Vì vậy, trong KTTT của
nước XHCN ở thời này vẫn còn sự đấu tranh giữa tư tưởng XHCN với
những tàn dư tư tưởng khác. Chỉ đến CNCS, tính giai cấp của gia cấp trong
KTTT mới bị xóa bỏ.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
3. Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT xã hội:
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì nhà nước và pháp luật quyết
định quan hệ kinh tế, ý thúc tư tưởng quyết định tiến trình phát triển của xã
hội. Theo chủ nghĩa duy vật, kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định còn ý thức
tư tưởng, chính trị không có vai trò gì đối với tiến bộ xã hội.
Nhưng theo chủ nghĩa Mác – Lênnin, đã khẳng định: CSHT và KTTT có
quan hệ biện chứng không tách rời nhau, trong đó có CSHT giữ vai trò quyết
định KTTT. Còn KTTT là phản ánh CSHT, nhưng nó có vai trò tác động trở
lại to lớn đối với CSHT đã sinh ra nó.
Trong sự thống nhất biện chứng này, sự phát triển của CSHT đóng vai trò
quyết định với KTTT. KTTT phải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của
CSHT hay CSHT nào thì KTTT ấy. Nếu mà một trong hai yếu tố ấy mà phát
triển không hợp nhau thì sẽ làm cho xã hội phát triển mất đi sự cân bằng, ổn
định.
Sư biến đổi giữa hai yếu tố này cũng tuân theo mối quan hệ biện chứng
giữa chất và lượng diễn ra theo hai hướng:
Một là: sự tăng hay giảm đi về lượng dẫn đến sự biến đổi ngay về chất
Hai là: sự tăng hay giảm đi về lượng không làm cho chất thay đổi ngay
mà thay đổi dần dần từng phần từng bước.
Theo quan điểm này thì quá trình biến đổi giữa CSHT và KTTT diễn ra
CSHT là cơ sở kinh tế. Toàn bộ quá trình của lịch sử chứng minh, mỗi giai
đoạn lịch sử nhất định vầ mỗi nước đều có CSHT của nó, trên mỗi cơ sở kinh
tế đó đều chứa đựng nền KTTT thích hợp với nó. Khi cơ sở kinh tế biến đổi
thì toàn bộ KTTTđồ sộ cũng sẽ - hoặc nhanh hoặc chậm - biến đổi theo. Trong
các quá trình phát triển của lịch sử, bất cứ CSHT và KTTT nào cũng có quá
trình sinh ra, phát triển và diệt vong. LLSX phát triển đến một mức độ nào đó,
thì QHSX sẽ không còn phù hợp với nó nữa và nó sẽ buộc phải thay đổi để
phù hợp.
Vai trò quyết định của CSHT thể hiện trước hết là ở chỗ: CSHT là những
quan hệ vật chất khách quan quy định mọi quan hệ khác: về chính trị, tinh
thần, tư tưởng của xã hội. CSHT nào thì sinh ra KTTT ấy, nói cách khác
CSHT đã sinh ra KTTT, và KTTT bao giờ cũng phản ánh một CSHT nhất
định, không có KTTT chung cho mọi xã hội.
CSHT quyết định KTTT về tính chất, nội dung và kết cấu: tính chất của
KTTT đối kháng hay không đối kháng, nội dung của KTTT nghèo nàn hay
đa dạng, phong phú và hình thức của KTTT gọn nhẹ hay phức tạp đó CSHT
quyết đinh. Tuy nhiên cái quyết định mà tôi muốn nói ở đây là mang yếu tố
quy nạp và toàn thể xã hội, ở đây không phải là khi CSHT biến đổi thì ngay
lập tức KTTT cũng sẽ bị tiêu diệt và mất ngay. Mà nói trong lúc CSHT phát
sinh biến đổi, tức là địa vị kinh tế hay địa vị chủ yếu, thứ yếu của con người
biến đổi căn bản, thì KTTT cũng tất nhiên biến đổi phát sinh biến đổi có tính
tất yếu
Trong sự biến đổi của CSHT và KTTT, không phải cứ CSHT mới xuất
hiện thì KTTT mới mất đi ngay mà có bộ phận thay đổi dần dần chậm chạp.
Vì trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, những tàn dư của cái cũ còn
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
tồn tại rất lâu. Mặt khác những yếu tố, những hình thức không cơ bản nào đó
của CSHT và KTTT cũ được giai cấp mới giữ lại, cải tạo để phục vụ cho yêu
cầu phát triển của CSHT và KTTT.
Tuy vậy, những quan hệ tinh thần, tư tưởng của xã hội đó là KTTT, cũng
không hoàn toàn thụ động, nó có vai trò tác động trở lại to lớn đối với CSHT
ra nó.
b. Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT:
Mặc dù, KTTT là do cơ sở kinh tế hay CSHT quyết định, nhưng nó không
phải là một thứ tiêu cực, khi mới xuất hiện từ cơ sở kinh tế thì nó dã có sẵn
tính độc lập tương đối, có thể có tác dụng trở lại đối với CSHT. Nó có thể đẩy
tới, làm tăng nhanh sự phát triển của CSHT và lịch sử xã hội, cũng có thể làm
trì hoãn, trở ngại cho sự phát triển đó. Vì thế bất cứ quan điểm nào coi thường
hay đánh giá thấp tác dụng năng động của KTTT đều là sai lầm, có hại.
Trong mối quan hệ với CSHT, KTTT phản ánh CSHT biểu hiện tập trung
đời sống tinh thần xã hội, do dó có tác động to lớn trở lại CSHT.
Là một bộ phận cấu thành hình thái kinh tế xã hội, được sinh ra và phát
triển trên một CSHT nhất định, cho nên sự tác động tích cực của KTTT dối
với CSHT được thể hiện ở chức năng xã hội của KTTT. Tức là luôn luôn bảo
vệ duy trì, củng cố và hoàn thiện CSHT sinh ra nó, đấu tranh xóa bỏ CSHT
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
và KTTT đã lỗi thời lạc hậu. KTTT tìm mọi cách để xóa bỏ những tàn dư
của CSHT và KTTT cũ, ngăn chặn mầm mống tự phát của CSHT và KTTT
mới nảy sinh trong xã hội ấy. Thực chất trong xã hội có giai cấp đối kháng,
KTTT bảo đảm cho sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị
thống trị trong kinh tế. Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống
trị về chính trị và tư tưởng, cơ sở kinh tế của nó không thể đứng vững được.
Vì vây, KTTT thực sự trở thành công cụ, phương tiện để duy trì, bảo vệ địa
vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị xã hội. Đó là một hạn chế của
KTTT xã hội.
Tất cả các yếu tố cấu thành nên KTTT đều có tác động đến CSHT. Tuy
nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động
khác nhau. Trong các yếu tố cấu thành nên KTTT, nhà nước giữ vai trò đặc
động thực tiễn của con người. KTTT có vai trò to lớn, định hướng những
hoạt động thực tiễn đưa lại phương án phát triển tối ưu cho kinh tế - xã hội.
Tuy KTTT có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển của kinh tế, nhưng
không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội.
Vì vậy, nếu nhấn mạnh, tuyệt đối hóa, phủ nhận tính tất yếu kinh tế của
xã hội, sẽ phạm sai lầm của chủ nhĩa duy tâm chủ quan dưới những hình
thức khác nhau.
Chủ nghĩa Mác đã nói rằng, CSHT và KTTT luôn luôn ở trong trạng thái
mâu thuẫn nhau và tác động lẫn nhau. KTTT là sản vật và phản ánh của cơ
sở kinh tế, nhưng lại có thể có tác động ngược lại và ảnh hưởng tích cực đến
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cơ sở kinh tế. Bất kỳ KTTT nào cũng không pahir là “lúc nào cũng ngoan
ngoãn chạy theo kinh tế” chỉ là phản ánh tiêu cực của cơ sở kinh tế. Trái lại,
KTTT một khi đã xuất hiện thì liền muốn trở thành lực lượng tích cực vĩ đại
ngay. Cho nên, trong đời sống và sự phát triển xã hội, nó có thể gây tác dụng
đẩy tới, đẩy nhanh sự phát triển của sơ sở kinh tế và lịch sử xã hội; đồng thời
nó có thể gây tác động trì hoãn, ngăn cản đối với sự phát triển của CSHT và
lịch sử xã hội.
Nhìn chung mà nói, KTTT chính trị của xã hội tiến bộ có thể gây tác động
to lớn, tăng nhanh sự phát triển của cơ sở kinh tế và lịch sử xã hội. KTTT
chính trị ở nước ta, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân chính là như thế.
Đó là vì KTTT chính trị XHCN là xây dựng trên CSHT tiên tiến, phù hợp với
nhu cầu phát triển kinh tế. Cho nên chế độ chính trị và chế độ chính trị và chế
độ pháp luật XHCN và Đảng cộng sản với bộ máy nhà nước hành động theo
quy luật khách quan, có tác dụng động viên, tổ chức cải tạo to lớn trong đời
sống xã hội và trong phát triển kinh tế. Còn KTTT chính trị phản động thì
ngược lại có tác động làm chậm trễ, trở ngại cho cơ sở kinh tế và sự phát triển
của lịch sử xã hội. Ví dụ như KTTT chính trị của bọn Quốc dân đảng phản
động trước kia của các nước đế quốc Mỹ, Anh, Pháp ngày nay . Chính những
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Việc nhà nước chuyên chính vô sản phải ra đồi trước hết tạo điều kiện và
làm công cụ, phương tiện cho quần chúng nhân dân, tiến hành triệt để quá
trình ấy hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan của xã hội. Đó là quá
trình phát triển khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội, đòi
hỏi phải có CSHT và KTTT tiến bộ hơn thay thế CSHT và KTTT tư bản chủ
nghĩa lỗi thời phản động. Tuy nhiên, nhà nước chuyên chính vô sản có thật
sự vững mạnh hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của
CSHT cộng sản chủ nghĩa.
b. CSHT và KTTT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
Trên thực tiễn thì quan hệ giữa CSHT và KTTT chính là quan hệ giữa
kinh tế và chính trị. Quan hệ giữa chính trị và kinh tế là mối quan hệ cơ bản
của đời sống xã hội. Việc nhận thức và xử lý mối quan hệ này trong thực tiễn
đúng hay sai có ý nghĩa quyết định đối với sự hưng vong của nền kinh và
chế độ chính trị - xã hội của đất nước. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã
nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế. Để
thực hiên thành công sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng
ta cần giữ vững định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường,
tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hóa, xây dựng và hoàn
thiện Nhà Nước pháp quyền XHCN; đồng thời đổi mới và tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng.
Cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và giải
quyết vấn đề quan hệ giữa chính trị và kinh tế là quan điểm duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác – Lênnin về quan hệ giữa KTTT với CSHT trong đó
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
CSHT _ kinh tế giữ vai trò quyết định. Kinh tế là gốc, là thước đo tính hợp
lý của chính trị.
Các thành phần kinh tế đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại
vừa thống nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, chúng
vừa cạnh tranh, vừa liên kết với nhau, bổ xung với nhau.
Để định hướng XHCN đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước phải
sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục. Trong đó biện
pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hóa nền sản
xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo hướng: kinh tế quốc doanh được
củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình
thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các nghành nghề, các
hình thức công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế tư nhân và gia đình phát
huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở kinh
tế hợp lý. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với sự đa dạng của các hình
thức sở hữu, các hình thức phân phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, cũng như mô hình quản lý theo cơ chế thị
trường định hướng XHCN được xác lập và bước đầu vận hành thông suốt.
Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng ghi
rõ: “phải tập chung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây dựng CSHT kinh
tế xã hội và một số công trình công nghiệp then chốt đã được chuẩn bị vốn và
công nghệ. Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng,
thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo y tế”. Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
rõ: “Từ nay tới cuối thập kỷ, phải quan tâm tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp
gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
Nhờ đổi mới tư duy lý luận – chính trị, chúng ta nhận thấy ngày càng rõ
hơn con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN,tức là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của QHSX và KTTT tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa
những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, dặc biệt là
chính trị, cũng là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới ở nước ta, là
xây dựng nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Xây dựng hệ thống chính trị, XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, do
Đảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự của xã
hội. Toàn bộ quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân, thực hiên dân chủ
XHCN đảm bảo phát huy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ động của mọi
cá nhân. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng
ghi rõ: “xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân, liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền
tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo”. Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo
thành hệ thống chính trị - xã hội không tồn tại như một mục đích cá nhân mà
vì phục vụ con người, thực hiện cho lợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao
động.
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Như vậy, việc kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trong tâm, đồng thời từng bước đổi mới
chính trị, chúng ta vừa thúc đẩy được nền kinh tế của đất nước phát triển theo
quy luật khách quan, vừa tạo nên sự năng động, tích cực trong tư duy, tư
tưởng và đồi sống tinh thần nói chung của xã hội, làm cho con người thực sự
tự do và có điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình. Hai quá trình
đó có quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên sức mạnh giúp chúng ta có cơ sở
thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.
Mỗi bước phát triển của CSHT và KTTT là một bước giải quyết mâu
thuẫn giữa chúng. Việc phát triển và củng cố CSHT điều chỉnh và củng cố các
bộ phận của KTTT là một quá trình diễn ra trong suốt thời kỳ quá độ lên
CNXH của nước ta.
2. Hạn chế về CSHT và KTTT ở Việt Nam
Trong gần 20 năm đổi mới qua, nước ta cũng đã đạt được rất nhiều những
thành tựu quan trọng về chính trị cũng như về kinh tế như: đưa nước ta bước
Đời sống của nhân dân còn thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Trong xã hội
còn nhiều những tàn dư của xã hội phong kiến, tệ nạn xã hội thì ngày một gia
tăng. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới nhân dân chưa thực sự sâu xát…
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nước ta vẫn đang trong thời kỳ quá độ đi lên XHCN nên không tránh khỏi
những hạn chế đó. Hiện nay Đảng và nhà nước đang và đã có những biện pháp
nhằm khắc phục những hạn chế nói trên.
3. Một số những kiến nghị
Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
XHCN ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa CSHT
và KTTT. CSHT là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó có thành phần kinh
tế quốc dân, tập thể và nhiều thành phần kinh tế khác. Tính chất đan xen quá
độ về kết cấu của cơ sở kinh tế vừa làm cho nền kinh tế sôi động, phong phú,
vừa mang tính chất phức tạp trong quá trình thực hiện định hướng XHCN.
Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú, được phản chiếu lên KTTT
và đặt ra đòi hỏi khách quan là nền KTTT cũng phải được đổi mới để đáp ứng
đòi hỏi của cơ sở kinh tế. Như vậy, KTTT mới có sức mạnh đáp ứng đỏi hỏi
của CSHT.
Để khắc phục mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị, cần phát huy vai trò
lãnh đạo của chính trị với kinh tế, đảm bảo định hướng XHCN cho việc xây
dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường ở nước ta, đưa công cuộc đổi mới tiếp tục phát triển thắng lợi,
cần quan tâm giải quyết tốt một số vấn đề sau:
Giữ vững định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường
Tiếp tục việc đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hóa xã hội,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
của dân, do dân, vì dân; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà
nước.
25