ỏn chuyờn ngnh
trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa quản trị kinh doanh thơng mại
ơ
đề án môn học
kinh tế thơng mại
Đề t ài :
giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp phân phối bán lẻ việt nam
trong điều kiện là thành viên của wto
Giáo viên hớng dẫn: gs.ts. đặng đình đào
Sinh viên thực hiện : trần mạnh cờng
Lớp : thơng mại 48a
MC LC
Trn Mnh Cng Lp: Thng mi 48A
Hà Nội - 2009
Đề án chuyên ngành
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
Đề án chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, toàn cầu hóa nền kinh tế là một yếu tố khách quan đối với sự
phát triển của một quốc gia. Một trong những mức độ cao nhất, thể hiện sự
hội nhập của mỗi quốc gia vào nền kinh tế thế giới là sự gia nhập tổ chức
“WTO”.
Năm 2006 Việt Nam trơ thành thành viên chính thức của WTO, và theo
lộ trình cam kết với WTO, chúng ta phải dần dần xóa bỏ những chính sách
bảo hộ như cắt giam hàng rào thuế quan và phi thuế quan, đối xử công bằng
với tất cả các loại hình kinh tế…, nghĩa là khi là thành viên chính thức của
WTO sẽ có sự tham gia và cạnh tranh của các doanh nghiệp 100% vốn nước
sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế.
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C. Mac đã đề cập tới cạnh tranh
kinh tế giữa các nhà tư bản như sau: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh
gay gắt giữa các nhà sản xuất, kinh doanh nhằm dành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu
ngạch.
Theo các học giả kinh tế thuộc trường phái tư sản cổ điển thì: “ Cạnh
tranh là một quá trình bao gồm các hành vi, phản ứng, quá trình tạo ra cho
mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoat động nhất định, mang lại cho
mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình.
Trong đại từ điển tiếng việt có ghi: Cạnh tranh là một khái niệm được sử
dụng trong những lĩnh vực khác nhau. Để đơn giản hóa có thể hiểu cạnh tranh
là một sự ganh đua giữa một nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người
này sẽ làm giảm vị thế của người còn lại. Điều kiện cho sự canh tranh trên thị
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
2
Đề án chuyên ngành
trường là: có ít nhất hai chủ thể đối kháng và có sự tương ứng giữa sự cống
hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thương trường.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, canh tranh doanh nghiệp là sự
ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường nhằm tạo lợi thế cho minh và
thu được nhiều lợi nhuận hơn. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về
lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị trường.
Để đánh giá sự canh tranh giữa các doanh nghiệp, người ta đánh giá
thông qua “ Năng lưc cạnh tranh “.
Có nhiều cách tiếp cận năng lực canh tranh, theo lý thuyết tổ chức các
doanh nghiệp: ‘ Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh và được
đánh giá có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác, khi cá sản phẩm thay
thế cùng loại; hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất
lượng và dịch vụ ở mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà
Tổng Qi là tổng lượng sản phẩm cùng loại được bán ra trên thị trường
Thị phần của doanh nghiệp cang lớn, thể hiện sức mạnh của doanh
nghiệp trên thị trường càng lớn, phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp lớn. Thị phần của doanh nghiệp cang nhỏ, thể hiện sức cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường càng nhỏ.
- Chỉ tiêu doanh thu bán hàng
Doanh thu (TR) của doanh nghiệp được tính theo công thức sau:
TR = P x Q
Trong đó TR: Doanh thu bán hàng của doanh nghiệp, P: Giá bán sản
phẩm của doanh nghiệp, Q: Số lượng sản phẩm bán ra thị trương của công ty.
- Chỉ tiêu về khách hàng
Tổng số khách hàng trong ngành, trong một thị trường nhất định, và tính
chất của tưng khách hàng trong thị trường đó. Tỷ trong khách hàng tham gia
kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp trên tổng lượng khách khách hàng
tham gia trong ngành.
Các chỉ tiêu này phản ánh sức mạnh hệ thống kênh phân phối, khả năng
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
4
Đề án chuyên ngành
phát triển kênh phân phối của doanh nghiệp.
- Chỉ tiêu về năng lực quản lý trên thị trường
Số lượng các chính sách, các chương trình, các kế hoạch marketing và
bán hàng được thực hiện đầy đủ và thành công. Mức độ kiểm soát giá, kiểm
soát hể thống kênh phân phối của doanh nghiệp. Khả năng xác định và triển
khai thực hiện các chiến lược marketing.
Các tiêu chí này phản ánh khả năng quản lý của doanh nghiệp trên thị
trường.
- Chỉ tiêu về năng lực nghiên cứu và phát triển ( R & D )
Số lượng sản phẩm, dịch vụ mới trong một thời gian nhất định.
Thời gian sử dụng và thay thế công nghệ .
chính trị không ổn định sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Bên cạnh đó,
doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế được điều chỉnh bởi hệ thống
luật pháp, những quy định có thể là cơ hội và cũng có thể là những khó khăn
cho doanh nghiệp, hệ thống pháp luật đầy đủ minh bạch sẽ tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh, làm nền tảng, cơ sở hình thành một môi trường
kinh doanh hấp dẫn.
- Các yếu tố về kinh tế
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn bộ nền kinh tế: Tốc độ tăng trưởng
của nển kinh tế là yếu tố hình thành và tác động vào cầu về hàng hóa và dịch
vụ của doanh ngiệp. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trong ngắn hạn đó là
điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển, tuy nhiên trong dài hạn lại tiềm ẩn
nhiều mối đe dọa từ các đối thủ tiềm ẩn. Ngược lại, khi tốc độ tăng trưởng
kinh tế thấp, sức ép cạnh tranh của đối thủ hiện tại trong ngành gia tăng.
+ Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế: Một trong những tác động xấu của lạm
phát đến nền kinh tế là lạm phát có thể gây ra những xáo trộn trong nền kinh
tế, làm cho tăng trưởng kinh tế chậm lại. Trong dài han lạm phát sẽ làm cho
đầu tư của doanh nghiệp rất thấp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, làm cho đầu tư bị
thu hẹp và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, vì vậy lạm phát
cao sẽ làm ảnh hưởng xấu đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
6
Đề án chuyên ngành
+ Tỷ lệ lãi suất: Tỷ lệ lãi suất thấp và ổn định là điều kiện thuân lợi cho
doanh nghiệp phát triển và ngược lại là yếu tố bất lợi cho doanh nghiệp.
+Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái luôn tác động trực tiếp đến các doanh
nghiệp có yếu tố nước ngoài, như các doanh nghiệp tham gia vào xuất- nhập
khẩu, các doanh nghiệp sử dụng đầu vào hay tiêu thụ đầu vào hay tiêu thụ đầu
ra ra nước ngoài.
+ Độ mở của nên kinh tế: Trong môi trương của nền kinh tế quốc tế, sự
cạnh tranh manh mẽ đến từ nhiều nền kinh tế sẽ thúc đẩy lỗ lực vươn lên của
cạnh tranh ở mức độ cao hơn; Bên cạnh đó mối đe dọa là những điều kiện
thuận lợi, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường, sẽ nhanh chóng tiếp
thu được trình đọ khoa học kỹ thuật, trình đọ quản lý.
1.2.1.2 Các nhân tố thuộc môi trường ngành
- Tốc độ tăng trưởng ngành
Giống như tốc độ phát triển của nền kinh tế, tốc độ phát triển ngành và
các nhanh liên quan cũng tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp theo hai hướng, vừa là yếu tố thuận lợi vừa là yếu tố không
thuận lợi.
- Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành
Để nghiên cứu mức độ cạnh tranh của mộ ngành, chúng ta sử dụng mô hình
phân tích 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter như sau:
Hình 1.1: Mô hình 5 áp lực canh tranh trong ngành
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
Sự đe dọa của đối thủ
tiềm ẩn
Cạnh tranh của các đối thủ
cạnh tranh đang hoạt đông
trong ngành
Sức ép
người
mua
Sức ép
từ nhà
cung
cấp
Sự đe dọa của các sản
phẩm thay thế
8
Đề án chuyên ngành
Đề án chuyên ngành
+ Áp lực của nội bộ ngành
Chính các doanh nghiệp dang kinh doanh trong ngành cũng sẽ cạnh tranh
trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại ngành, tạo một cường độ cạnh tranh lớn
hơn, nhìn chung một ngành thì các yếu tố sau sẽ làm gia tăng sức ép cạnh
tranh lên các đối thủ trong ngành. Áp lực cạnh tranh của nội bộ ngành phụ
thuộc vào tình trạng nhu cầu của ngành và cấu trúc ngành.
+ Áp lực từ các bên liên quan
Về cơ vản thì trên đây chúng ta đã xem xét áp lực cạnh tranh đến ngành theo
mô hình phân tich của M.Porter, tuy nhiên trên thực tế chúng ta đều thấy
ngoài các yếu tố đó ra còn có các yếu tố áp lực từ phía các bên liên quan như:
Từ chính phủ, từ cộng đồng, từ các hiệp hội, từ các chủ nợ và nhà tài trọ, từ
các cổ đông.
1.2.2 Các nhân tố trong nội bộ doanh nghiệp
Giá trị đầu ra của một doanh nghiệp thường được đo bằng mức doanh thu
của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, để phân tich toàn bộ quá trình hình thành giá
trị của doanh nghiệp cho khách hàng, người ta thường dùng chuỗi giá trị để
phân tích, phương pháp phân tích này được Michael Porter mô tả dưới đây:
(Hình 1.2)
Theo mô hình này, các hoạt động của một doanh nghiệp bao gồm các
hoạt động trực tiếp và các hoạt động hỗ trợ. Các hoạt động trực tiếp bao gồm
hoạt động marketing, hoạt động bán hàng, hoạt động sản xuất, cung ứng nội
bộ và các dịch vụ; các hoạt động gián tiếp bao gồm hoạt động về cơ sở hạ
tầng, các hoạt động về quản trị nhân lực, các hoạt động về phát triển công
nghệ và mua sắm.
Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp thường được tính bằng cách lấy
tổng doanh thu của doanh nghiệp trừ đi tổng chi phí của doanh ngiệp, phản
ánh lượng giá trị mà doanh nghiệp tạo ra được trong một thời gian nhất định.
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
10
và Bán
hàng
Dich
vụ
Giá trị
gia tăng
Giá trị
gia tăng
11
Đề án chuyên ngành
thể:
- Đối với kinh doanh thương mại trong nước: phải thành lập liên doanh
với doanh nghiệp VN và phần đóng góp không vượt quá 49% cổ phần. Kể từ
1-1-2008, bỏ qui định về 49% cổ phần. Kể từ 1-1-2009 cho phép lập doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài.
- Sau khi gia nhập WTO, các công ty phân phối nước ngoài được phép
ủy nhiệm cho các chi nhánh, các dịch vụ bán buôn và bán lẻ các mặt hàng
ngoại trừ ximăng và clinker, lốp xe, giấy, máy kéo, các loại xe có gắn động
cơ, ôtô và xe máy, sắt thép, các thiết bị nghe nhìn, rượu và phân bón. Kể từ 1-
1-2009, các công ty phân phối nước ngoài được phép phân phối các loại máy
kéo, xe có động cơ, ôtô và xe máy. Ba năm sau khi gia nhập, các công ty có
thể kinh doanh không hạn chế các mặt hàng trên. Tuy vậy, việc lập các điểm
bán lẻ từ thứ hai trở lên sẽ phải xin phép cho từng mặt hàng cụ thể.
* Đối với việc nhượng thương quyền:
Các công ty cũng sẽ phải lập liên doanh với đối tác VN và không nắm
giữ quá 49% cổ phần. Kể từ 1-1-2008, hạn chế về 49% được bãi bỏ. Kể từ 1-
1-2009, được phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.
1.4 Tác động của gia nhập WTO đối với các doanh nghiệp phân phối
bán lẻ Việt Nam
“Việc gia nhập WTO đem lại rất nhiều cơ hội cho Việt Nam mà một
Cùng đó, cạnh tranh trên thị trường phân phối bán lẻ Việt Nam tăng cao
khi xuất hiện nhiều tập đoàn quốc tế. Hiện, các tập đoàn bán lẻ lớn như Metro
của Đức, Casino của Pháp, Parkson đều đã có mặt tại Việt Nam. Tuy nhiên,
sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp phân phối và bán lẻ nước ngoài đang đặt
ra nhiều thách thức như sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn
yếu kém; sự thu hẹp thị phần của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ảnh
hưởng đến công việc làm ăn của hàng vạn người buôn bán nhỏ, xu hướng tiêu
dùng hàng ngoại và sức ép nhập siêu gia tăng
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
13
Đề án chuyên ngành
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIÊN
LÀ TRÀNH VIÊN CỦA WTO
2.1 Khái quát chung về hệ thống các doanh nghiệp phân bán lẻ Việt
Nam từ trước 2006 và từ 2007 đến nay
2.1.1 Giai đoạn từ 2006 trở về trước
Theo số liệu của bộ thương tháng 8 năm 2006, kênh phân phối bán lẻ
chiếm khoảng 10% tổng mạng lưới phân phối bán lẻ của cả nước. trong đó
kênh phân phối hiện đại của Việt Nam ( Thông qua hệ thống siêu thị, cửa
hàng tiện ích …) mới chiếm khoảng 16%, còn lại kênh phân phôi truyền
thống như chợ, tiệm tạp hóa, cửa hàng bán sỉ, bán lẻ… chiếm khoảng 84%.
Qua đây ta thấy, hàng hóa Việt Nam còn được phân phối chủ yếu qua chợ và
cửa hàng tạp hóa truyền thống. Siêu thị chưa nhiều. Từ đó cho thấy, tâm lý
tiêu dùng của người dân chưa quen với phương thức phân phối hiện đại.
Có thể nói, giai đoạn từ năm 2006 chở về trước là giai đoạn của kênh
phân phối bán lẻ truyền thống. Còn đối với kênh phân phối bán lẻ hiện đại thì
phần lớn còn rất non trẻ. Trong khi đó tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực phân phối
khoảng 72%, cao hơn rất nhiều so với những ngành khác như: Công nghiệp
Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, là một ngày lịch
sử của đất nước. Sự kiện này đã tác động rất lớn đến các doanh nghiệp phân
phối bán lẻ và các doanh nghiệp phân phối bán lẻ nói riêng.
Sau khi ra nhập WTO, các doanh nghiệp đã xây dựng được mạng lưới
bán lẻ văn minh và hiện đại hơn trước nhiều. Siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa
hàng chuyên doanh, cửa hàng giá rẻ, cửa hàng nhượng quyền, cửa hàng tự
chọn, cửa hàng phức hợp, trung tâm mua sắm… sánh vai về tiêu chuẩn với
các nước mọc lên khắp nơi. Song không vì thế mà nó đã đáp ứng được tất cả
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
15
Đề án chuyên ngành
các tiêu chuẩn quốc tế. Xét về các tiêu chí như vị trí, quy mô diện tích, thiết
kế, xây dựng, trang thiết bị nội, ngoại thất, tiện nghi vận hành, hàng hoá, giá
cả, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ khách hàng…, các mô hình này chưa hội đủ
những tiêu chuẩn là cơ sở bán lẻ văn minh.
Ngày 1/9/2009 Việt Nam sẽ chính thức mở cửa thị trường bán lẻ, cũng
chính là thời điểm mà các doanh nghiệp nước ngoài có thể thành lập doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Các doanh nghiệp nước ngoài
như Metro Cash & Carry (Đức), Walmart (Mỹ), Big C của Bourbon (Pháp)…
với tiềm lực tài chính, công nghệ và trình độ quản lý, tính chuyên nghiệp cao,
có khả năng cung cấp hàng hóa rộng khắp với mức giá hấp dẫn đang chiếm
lĩnh thị trường hiện đại. Cuối năm 2008, NPP và bán lẻ điện tử Best Denki
(Nhật Bản) thông qua hợp đồng nhượng quyền của Carings, đã đi vào hoạt
động với siêu thị điện máy tại tòa nhà Lotte ở quận 7, TP Hồ Chí Minh.
Đến đầu năm 2009, Tập đoàn Metro (Đức) đã xây dựng 8 trung tâm phân
phối hàng hóa tại các thành phố lớn trên cả nước… Trong khi đó, phần lớn
các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam với quy mô vốn ít và năng lực
cạnh tranh kém, do phần lớn các doanh nghiệp đều phát triển từ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ mà lên. Do vậy, phần lớn ý kiến đều cho rằng các DN
phân phối Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn để cạnh tranh với các doanh
Tuy nhiên, hệ thống phân phối và bán lẻ tại Việt Nam còn nhiều yếu
kém. Những yếu kém này được bộc lộ ở nhiều mặt. Nhìn tổng quát, hệ thống
thương mại bán lẻ của nước ta hiện nay còn mang nặng tính đại lý. Hình thức
này tuy có thuận lợi là cần ít vốn, phát huy lợi thế lao động dồi dào về số
lượng, còn thấp về trình độ kinh doanh, còn thiếu thốn về địa điểm kinh
doanh, ít bị rủi ro nhưng bản chất là “đi làm thuê” nên hoạt động phụ thuộc
rất nhiều vào bên cung cấp, lợi nhuận thu được rất nhỏ bé.
Một yếu kém khác là hệ thống bán lẻ của Việt Nam sau khi chuyển đổi
từ hệ thống cửa hàng mậu dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán mang nặng
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
17
Đề án chuyên ngành
tính phân phối theo định lượng, tem phiếu của thời bao cấp sang cơ chế thị
trường, được bung ra, nhưng lại mang nặng tính tự phát, cạnh tranh với nhau
nhưng thiếu lành mạnh, phong cách bán hàng chưa thoát khỏi tâm lý của
người buôn bán nhỏ; tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, buôn gian bán
lận, bán hàng giả, trốn thuế, không niêm yết giá, nói thách diễn ra khá phổ
biến. Đó là chưa kể tình trạng buôn bán theo kiểu chụp giật, nâng giá theo
kiểu "té nước theo mưa" mỗi khi Nhà nước buộc phải nâng giá như mấy đợt
nâng giá xăng dầu trong thời gian qua, hoặc găm hàng chờ tăng giá, lạm dụng
vị thế độc quyền nhà nước
Ngoài ra, hiện nay Việt Nam cũng đang rất thiếu các chuyên gia cao cấp
để quản lý và điều hành những doanh nghiệp tầm cỡ trong ngành phân phối
bán lẻ. Mặt khác, tính chuyên nghiệp của hệ thống phân phối trong nước hiện
rất yếu, thể hiện ở việc tổ chức hệ thống phân phối ở từng địa phương, khu
vực và toàn quốc chưa đồng bộ, chặt chẽ từ khâu thu mua kiểm định, sơ chế
đến đóng gói và bán ra. Công tác xúc tiến thương mại, dự báo thông tin thị
trường …chưa được quan tâm và chưa chuyên nghiệp, hơn 60% đơn vị kinh
doanh chưa sử dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực quản lý và kinh doanh,
khoảng 20% mới xây dựng được trang web ở mức độ đơn giản … Trong khi
dụng các thành tựu tiên tiến của khoa học công nghệ thông tin. Tuy nhiên,
phương thức thanh toán hiện nay ở Việt Nam còn sơ khai (chủ yếu là giao
hàng – lấy tiền mặt). Biểu hiện của mô hình này là E-Commerce, TV
Shopping, Telephone Shopping, Online Shopping.
Mô hình phân phối và bán hàng trực tiếp: Đây là mô hình chỉ áp dụng
trong một số trường hợp cụ thể mang tính chất sự kiện. Biểu hiện của mô hình
này là bán hàng theo tài khoản (corporate selling), bán hàng theo dự án, khách
hàng lớn (fleet sales).
Mô hình phân phối và bán hàng đa cấp: Đây là mô hình bán hàng khá
phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, ở Việt Nam mô hình này đang bị hạn chế
phát triển do các nhà kinh doanh không đảm bảo đạo đức trong hoạt động
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
19
Đề án chuyên ngành
kinh doanh của mình, gây nhiều thiệt hại cho người tiêu dùng.
2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
phân phối bán lẻ Việt Nam trong quá trình hội nhập WTO
2.3.1 Những kết quả đạt được
Sau 1 năm gia nhập WTO, Việt Nam là nước có nền kinh tế phát triển
nhanh thứ hai châu Á. Dự báo đến năm 2010, chi tiêu cho bán lẻ tại Việt Nam
sẽ đạt tới 50 tỉ USD/năm. Điều đó có nghĩa là trong tương lai, các siêu thị,
trung tâm thương mại sẽ dần thay thế các chợ cóc và cửa hàng mặt phố như
hiện nay.
Ước tính năm 2007 tổng doanh thu bán lẻ đạt 44 tỷ USD, tăng 25% so
với 2006, 11 tháng 2008 tăng trên 30,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường hấp dẫn
Mặc dù hiện nay, hình thức kinh doanh truyền thống vẫn đang là nền
tảng của thị trường kinh doanh bán lẻ (với 90% hàng hóa được lưu thông tại
các chợ truyền thống và những cửa hàng mặt tiền), tuy nhiên, hình thức này
cũng đang thay đổi: nếu như năm 1995, Việt Nam chỉ có 10 siêu thị và 2
nghiệp phân phối bán lẻ của Việt Nam trong những năm qua cùng các nguyên
nhân của chúng như sau:
Một là, các đơn vị bán lẻ trong nước còn chưa nhiều,lại thiếu tính chuyên
nghiệp và vốn ít; hệ thống hậu cần như kho bãi, xe chuyên dùng, nguồn hàng
rời rạc, thiếu đồng bộ và chưa đạt chuẩn; hạ tầng giao thông kém Nguyên
nhân của vấn đề này là do các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam vẫn
còn rất non trẻ,và phần lớn các doanh nghiệp đều phát triển từ các doanh
Trần Mạnh Cường Lớp: Thương mại 48A
21
Đề án chuyên ngành
nghiệp vừa và nhỏ. Mặt khác, với sự góp mặt của các doanh nghiệp nước
ngoài với tiềm lực tài chính lớn nên việc cạnh tranh với các doanh nghiệp
nước ngoài để có các vị trí thuận lợi ngày càng khó khăn hơn. Bên cạnh
đó,Chính phủ hầu như chưa phát huy được vai trò của mình trong việc định
hướng cũng như giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước. Điển hình là việc cấp
giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài nhìn lại ta sẽ
thấy hầu hết những siêu thị, trung tâm thương mại nước ngoài đều chọn được
những vị trí đẹp nhất, gần vị trí trung tâm, nơi tập trung dân cư, giao thông
thuận tiện, mặt bằng rộng
Hai là, đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực
cạnh tranh của từng doanh nghiệp yếu vì đại bộ phận các doanh nghiệp có
quy mô nhỏ, trình độ quản lý lạc hậu, phương thức kinh doanh chưa tiên tiến,
cơ sở hạ tầng kinh doanh chưa hiện đại, chiến lược kinh doanh chưa được
quan tâm đúng mức.
Ba là, các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam còn thiếu chiến lược
phân phối lâu dài và mạng lưới bán hàng chuyên nghiệp. Yếu tố này ta có thể
dễ dàng nhận thấy là do các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam nói
riêng và hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam nói chung còn rất non trẻ. Chính
vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu về năng lực tài chính để xây
dựng cho mình một mạng lưới bán hàng chuyên nghiệp. Cùng với đó là sự