Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường Mỹ - Pdf 29


- 1 -
MỞ ĐẦU
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Cạnh tranh trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế thị trường là một yếu tố
quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp và của mỗi quốc
gia. Ngày nay những lợi thế riêng của một quốc gia không chỉ là những lợi thế
truyền thống về đất đai, nhân lực, nguồn lực v.v.. nữa mà phần lớn đó chính là
chiến lược phát triển, cạnh tranh của quốc gia và của từng doanh nghiệp. Ngành
chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của
Việt Nam nói chung thật sự chỉ mới khởi sắc và trở thành một trong những
ngành xuất khẩu dẫn đầu của Việt Nam trong những năm gần đây. Mặt khác
trong xu thế hội nhập kinh tế của Việt Nam ra thị trường thế giới, thị trường Mỹ
là một thị trường rất lớn, đầy tiềm năng và cũng là thị trường tiêu thụ rất khó
tính đối với tất cả các nước và việc chiếm thị phần trên thị trường này chỉ được
quyết định bởi khả năng và năng lực cạnh tranh của từng quốc gia, từng doanh
nghiệp. Vấn đề cạnh tranh và tìm cách nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình
chính là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia và của từng doanh
nghiệp. Chúng ta nên nhớ rằng “người chiến thắng hôm qua chưa chắc giành
thắng lợi vào ngày mai”, do đó việc vận dụng các giải pháp, không ngừng nâng
cao năng lực cạnh tranh của quốc gia và của doanh nghiệp ngày hôm nay chính
là yếu tố quyết định đến chiến thắng ngày mai.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn này chính là tìm hiểu, phân tích vị thế cạnh tranh
hiện tại của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gỗ trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh so với khu vực và thế giới và những nguyên nhân chủ yếu quyết
định đến lợi thế cạnh tranh của quốc gia và của từng doanh nghiệp để từ đó tìm
ra những giải pháp hữu hiệu cho từng doanh nghiệp và những kiến nghị để phát
triển ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của thành phố Hồ Chí Minh sang thị

- 2 -

giá thấp hơn hoặc cung cấp giá trị dịch vụ lớn hơn phù hợp với giá cao hơn.
Cần nên hiểu rằng cạnh tranh không phải loại trừ đối thủ cạnh tranh để từ
đó không dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh, dùng những thủ đoạn xảo
quyệt nhằm tạo cho mình một vị thế độc tôn tranh trên thị trường, để khách
hàng không có thể có sự lựa chọn nào khác.
Cạnh tranh là một tiến trình đổi mới không ngừng, nếu doanh nghiệp nào
bằng lòng với vị thế cạnh tranh hiện tại của mình thì chắc chắn sẽ rơi vào tụt
hậu. Do đó doanh nghiệp luôn luôn phải gia tăng không ngừng vị thế cạnh tranh
của mình, luôn luôn có sự biến đổi và đổi mới, ngày càng tạo ra những giá gia
tăng thêm cho khách hàng.
1.1.2. Các quan điểm về lợi thế và chiến lược cạnh tranh
1.1.2.1. Quan điểm của Adam Smith
Theo quan điểm của Adam Smith, nguồn gốc của quá trình thương mại
giữa hai hay nhiều quốc gia là do quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về
một ngành nào đó so với quốc gia khác. Lợi thế cạnh tranh có được tính bằng
thời gian hao phí lao động cần thiết để sản xuất ra sản phẩm nào đó ngắn hơn so
với các quốc gia khác.
1.1.2.2. Quan điểm của David Recardo
Theo học thuyết của David Recardo, các quốc gia không có lợi thế cạnh
tranh tuyệt đối vẫn có thể có lợi thế cạnh tranh tương đối, và việc mua bán trao
đổi giữa hai quốc gia vẫn có thể thực hiện được nhờ vào lợi thế cạnh tranh này.

- 4 -
Lợi thế cạnh tranh tương đối được tính bằng tỷ lệ tiêu hao nguồn lực để
sản xuất ra sản phẩm A so với sản phẩm B của một quốc gia (quốc gia 1) thấp
hơn quốc gia khác (quốc gia 2) và ngược lại quốc gia 2 sẽ có tỷ lệ tiêu hao
nguồn lực giữa sản phẩm B so với sản phẩm A là thấp hơn quốc gia 1 mặc dù có
thể quốc gia 1 có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối cả hai sản phẩm A và B so với
quốc gia 2. Do đó quốc gia 1 tiến hành chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm A và
quốc gia 2 tiến hành chuyên môn hóa sản xuất ra sản phẩm B và hai quốc gia
Chiến lược, cấu trúc,
cạnh tranh của doanh
n
ghiệp
Các điều kiện
yếu tố đầu vào
Các điều kiện
của cầu
Các ngành công nghiệp
hỗ trợ và liên quan
Hình 1.1: Mô hình viên kim cương của Michael Porter
Michael Porter đã đưa ra mô hình phân tích tại sao một vài quốc gia lại
có lợi thế cạnh tranh hơn các quốc gia khác. Mô hình này đưa ra các yếu tố
quyết định đến lợi thế cạnh tranh của một quốc gia, các yếu tố này được xem
như là “viên kim cương của Michael Porter – Porter’s Diamond”. Lý thuyết này
cho rằng điểm tựa quốc gia của một tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc
hình thành nên lợi thế cạnh tranh toàn cầu. Điểm tựa này cung cấp các yếu tố cơ
bản, hỗ trợ các tổ chức trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh toàn cầu. Porter
đưa ra bốn yếu tố trong mô hình viên kim cương của mình như sau (xem hình
1.1):
- Các điều kiện của yếu tố đầu vào:
Hiện trạng của một quốc gia liên quan đến các yếu tố sản xuất như lao
động kỹ năng, cơ cấu hạ tầng v.v… chúng có liên quan đến cạnh tranh cho
những ngành riêng.
Các yếu tố này có thể chia thành các nhóm như nguồn nhân lực (trình độ
học vấn, chi phí lao động, sự cam kết v.v…), các nguồn nguyên liệu (nguồn

- 6 -

trọng. Đây là những ngành công nghiệp có thể sử dụng và phối hợp các hoạt
động riêng lẻ với nhau trong chuỗi giá trị hoặc chúng có liên quan đến những
sản phẩm bổ sung (ví dụ như phần cứng, phần mềm v.v…)
- Chiến lược, cơ cấu, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp:
Đây là điều kiện của một quốc gia mà nó quyết định cách các công ty
được thành lập, được tổ chức và được quản lý và nó quyết định các đặc điểm
của cạnh tranh trong nước.
Ở đây các lĩnh vực văn hóa đóng một vai trò quan trọng. Ở các quốc gia
khác nhau, các yếu tố như cơ cấu quản lý, đạo đức làm việc, các tác động qua
lại giữa các công ty được hình thành khác biệt nhau. Điều này sẽ cung cấp
những lợi thế và bất lợi thế cho những ngành công nghiệp riêng.
Các mục tiêu tập thể tiêu biểu nhất liên quan đến các mô hình cam kết
của công nhân là một yếu tố tối quan trọng. Nó bị ảnh hưởng mạnh của cấu trúc
sở hữu và sự kiểm soát. Ví dụ như các công ty tư nhân hoàn toàn hoạt động
khác biệt so với các công ty nhà nước.
Porter cho rằng các đối thủ cạnh tranh trong nước và việc tìm kiếm lợi
thế cạnh tranh trong một quốc gia có thể giúp cung cấp các tổ chức các cơ sở để
đạt được lợi thế cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.
Porter cho rằng các ngành kinh tế của quốc gia sẽ thành công nếu “hệ
thống kim cương” này vận hành thuận lợi. Tác động tương hỗ của các nhóm
nhân tố này thúc đẩy sự phát triển của ngành và lợi thế của một yếu tố này sẽ
tạo điều kiện thuận lợi và phát triển các nhóm yếu tố khác.
1.1.2.4. Hệ thống chuỗi giá trị của Michael Porter:
Phân tích chuỗi giá trị mô tả các hoạt động mà tổ chức thực hiện, liên kết
chúng tới vị thế cạnh tranh của tổ chức.

- 8 -
Phân tích chuỗi giá trị mô tả các hoạt động trong và xung quanh tổ chức
và liên hệ chúng tới việc phân tích các thế mạnh cạnh tranh trong tổ chức. Vì
thế nó đánh giá các giá trị nào mà các hoạt động riêng rẽ sẽ tăng thêm cho sản

sản xuất (bao gồm vận hành máy móc, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm
tra và tất cả các hoạt động khác tạo nên giá trị mà nó truyền giá trị từ khâu đầu
vào đến sản phẩm cuối cùng), hậu cần đầu ra (hoạt động đòi hỏi việc cung cấp
thành phẩm đến tay khách hàng: kho bãi, hoàn tất đơn hàng, vận chuyển, quản
trị phân phối), tiếp thị và bán hàng (các hoạt động liên quan đến việc tìm cách
Các hoạt động chính

- 9 -
làm cho khách hàng mua hàng bao gồm lựa chọn kênh phân phối, quảng cáo,
khuyến mại, bán hàng, chính sách giá cả, quản trị bán lẻ v.v…) và dịch vụ (các
hoạt động duy trì và gia tăng giá trị sản phẩm bao gồm hỗ trợ khách hàng, dịch
vụ sửa chữa, lắp đặt, đào tạo, phụ tùng, nâng cấp v.v…). Mỗi một yếu tố này sẽ
được liên kết để giúp đỡ các hoạt động nhằm cải tiến hiệu quả. Có 4 lĩnh vực
của hoạt động hỗ trợ: khả năng thu mua được (thu mua các nguyên liệu, dịch vụ,
phụ tùng, văn phòng, máy móc v.v…), phát triển công nghệ thông tin (nhằm để
hỗ trợ cho các hoạt động của chuỗi giá trị như nghiên cứu và phát triển, tiến
trình tự động, thiết kế, tái thiết kế v.v…), quản lý nguồn nhân lực (các hoạt
động liên quan đến tuyển dụng, phát triển, đào tạo, bồi thường cho nhân viên và
quản lý v.v…) và cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp (bao gồm quản trị tổng quát,
quản trị kế hoạch, luật pháp, tài chính, kế toán, đối ngoại, quản trị chất lượng
v.v…)
1.1.2.5. Quan điểm của Michael Porter về chiến lược cạnh tranh
Khi bàn về lợi thế cạnh tranh của các công ty trong cùng ngành thì
Michael Porter đã đưa ra 4 chiến lược nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các
đối thủ như sau:
• Chiến lược khác biệt hóa (Differentiation)
Chiến lược khác biệt hóa tập trung vào chọn lựa một hay nhiều tiêu
chuẩn được sử dụng bởi người tiêu dùng trên thị trường và định vị công việc
kinh doanh duy nhất để đáp ứng được những tiêu chuẩn đó. Với chiến lược này
thường kết hợp với việc bán hàng hóa với giá cả cao hơn thông thường là để

công ty nên tìm ra con đường để phát triển và xây dựng lợi thế hơn là chỉ tìm
cách xóa bỏ bất lợi thế.
Các công ty với chiến lược giá hạ nghĩ rằng họ phải có được thị phần
lớn, đó là cách để chiến thắng. Tuy nhiên vẫn có những công ty với thị phần nhỏ
nhưng vẫn đạt được lợi nhuận lớn. Do đó cách nghĩ trên là sai lầm. Để một
chiến lược phát huy tác dụng tối đa của nó thì cần phải gắn liền với sự tiến hóa
của ngành đó.

- 11 -
Với chiến lược khác biệt hóa, điều quan trọng là phải tạo ra sự khác biệt
không chỉ bao hàm các tính chất bất lợi mà còn bao hàm tính chất bất lợi khi so
sánh với các chiến lược khác. Có nghĩa là công ty phải làm sao tạo ra sự khác
biệt mà các công ty khác khó có thể sao chép được, nếu không thì sản phẩm của
công ty sẽ bị sao chép một cách dễ dàng.
Ngày nay với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, công ty cần
phải thích nghi với sự thay đổi, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, từ công
nghệ đến phương pháp quản lý. Quan sát một số công ty lớn chúng ta cũng thấy
rằng họ thường không thay đổi chiến lược cạnh tranh của họ nhưng chúng ta
cũng nhận thấy rằng có sự thay đổi liên tục các chi tiết trong sản phẩm của họ,
chi tiết dịch vụ nhằm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Tuy nhiên đôi khi cần thay đổi chiến lược cạnh tranh của mình khi nhu
cầu của nhóm khách hàng lớn thay đổi, ví dụ như đời sống kinh tế của khách
hàng ngày càng được tăng cao thì nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm và
dịch vụ tốt hơn ngày càng được nâng lên, do đó công ty cần phát hiện kịp thời
những phân khúc thị trường mới để thực hiện chiến lược cạnh tranh của mình
cho phù hợp.
Hiện nay vai trò của công nghệ đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình hoạch định chiến lược cạnh tranh của một công ty, công nghệ mới sẽ xóa
sạch những lợi thế tiềm năng và vì thế lợi thế còn lại sẽ ngày càng quan trọng
hơn.

cần phải được chú trọng đúng mức, hãy luôn ghi nhớ khách hàng là thượng đế,
do đó cần phải chú trọng 3 yếu tố chính trong chất lượng dịch vụ đó là cơ sở vật
chất, con người và dịch vụ hậu mãi. Trong đó cần quan tâm nhiều đến dịch vụ
hậu mãi và thực hiện đúng như những gì đã cam kết với khách hàng.
• Chất lượng thương hiệu
Đó chính là tiếng tăm của thương hiệu, tiếng tăm của doanh nghiệp được
định hình qua một quá trình mà doanh nghiệp chứng minh được với khách hàng
là sản phẩm dịch vụ của họ đã mang lại một giá trị gia tăng nhất định. Do đó các
doanh nghiệp cần nâng cao thương hiệu của mình trên thị trường, xây dựng cho

- 13 -
mình hình ảnh thương hiệu của mình trên thị trường trong nước cũng như trên
thế giới.
• Chất lượng giá cả
Giá cả phải hợp lý và hợp thời, phù hợp với chất lượng sản phẩm và dịch
vụ mà công ty cung cấp trên thị trường phù hợp với từng chiến lược cạnh tranh
mà công ty đang theo đuổi.
1.2. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VỊ THẾ CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM.
Hiện tại năng lực cạnh tranh của Việt Nam được xếp vào thứ 77 trên 104
nước vào năm 2004, đều này có nghĩa là năng lực cạnh tranh của Việt Nam chỉ
đạt ở mức trung bình và đã tụt 17 hạng so với năm 2003 (đạt 3.23 điểm năm
2004). So với nước dẫn đầu về năng lực cạnh tranh – Phần Lan đạt 5.95 điểm thì
năng lực cạnh tranh chúng ta càng thua xa.
Bảng 1.1.: So sánh năng lực cạnh tranh của một vài quốc gia trên thế giới
Quốc gia Thứ tự
GCI-
2004
Điểm
2004
Thứ tự

cạnh tranh của Việt Nam thì tụt hơn Philippines đến 7 bậc.
Ngoài chỉ tiêu này, năng lực cạnh tranh của quốc gia cũng được đo bằng
chỉ số cạnh tranh kinh doanh (BCI), chiến lược và hoạt động của công ty và chất
lượng của môi trường cạnh tranh quốc gia. Trong các chỉ tiêu này thì Việt Nam
cũng thua xa so với các nước trong khu vực.
Trong bảng 1.1 sẽ cho ta thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với
các nước đứng đầu trên thế giới và ở trong khu vực.
Môi trường kinh doanh quốc gia của Việt Nam được đánh giá chưa phải
là môi trường kinh doanh tốt, chỉ xếp hạng 79 trên tổng cộng 103 nước được
xem xét. Môi trường kinh doanh cũng một phần ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của một quốc gia.
(Để tham khảo vị thế cạnh tranh của các nước khác, xin xem phụ lục 1)
1.3. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM GỖ MỸ
1.3.1. Một vài thông số kinh tế của nước Mỹ.
- Dân số: Theo nguồn U.S. Bureau of Economics Analysis thì dân số
hiện tại của nước Mỹ là 293.655.404 người (năm 2004), ước tính đến năm 2050
dân số đạt đến 403,943,147 người. Điều này cũng chứng tỏ được rằng Mỹ là
một thị trường tiêu thụ lớn.
- Tổng diện tích: 9,629,091.00 km2, diện tích này bằng một nửa diện tích
của nước Nga, bằng 3/10 diện tích của Châu Phi, bằng một nửa diện tích của

- 15 -
Nam Mỹ, lớn hơn Trung Quốc một ít và rộng gấp 2.5 lần diện tích của Đông
Âu.
- Tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ (GDP): 46.939,80 tỷ USD (năm 2004)
- Thu nhập bình quân đầu người được thể hiện qua bảng 1.2.
Bảng 1.2: Thu nhập bình quân quốc dân trên đầu người của Mỹ
Năm 2001 2002 2003 2004
Thu nhập- GDP /người (USD) 30,575.00 30,804.00 31,472.00 32,937.00
- Cán cân vãng lai của Mỹ luôn luôn bị âm, xuất khẩu hàng hóa và dịch


Cán cân thương mại về hàng hóa và dịch vụ
(hàng tháng, số liệu đã điều chỉnh) Đơn vị: Tỷ USD
Nguồn: Cục phân tích kinh tế Mỹ
Hình 1.4. Sơ đồ cán cân thương mại về hàng hóa dịch vụ của Mỹ
1.3.2. Thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ của Mỹ.
Thị trường Mỹ là một trong những thị trường quan trọng nhất thế giới,
triển vọng để buôn bán với thị trường Mỹ rất có ý nghĩa quan trọng đối với
những nhà xuất khẩu mặt hàng gỗ. Do đó các nhà xuất khẩu gỗ trên thế giới sẽ
có cơ hội rất lớn để gia tăng quan hệ làm ăn với đối tác Mỹ nếu họ biết nắm bắt
được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng Mỹ.
Chỉ giữa năm 1996 và 2000, tốc độ tăng trưởng tăng thêm của hàng nhập
khẩu Mỹ đối với mặt hàng tiêu dùng (furniture) tăng thêm 19.5%. Lượng hàng
nhập khẩu các sản phẩm gia dụng bằng gỗ đều gia tăng dần qua các năm, đặc
biệt là lượng hàng gia tăng từ các nước Đông Nam Á, trong đó Trung Quốc là
một trong những nước dẫn đầu và ngày một gia tăng thị phần của mình trên thị
trường Mỹ trong những năm gần đây.

- 17 -
Theo như các số liệu dự báo thị trường, lượng tiêu thụ hàng furniture ở
Mỹ sẽ gia tăng 25.5% từ năm 2005-2010 trong khi ở Liên Minh Châu Âu người
ta dự đoán tốc độ này chỉ gia tăng 12% (theo nguồn www.csilmilano.com)
Việc chi tiêu vào các sản phẩm gia dụng của dân Mỹ khác nhau ở các
bang, việc chi tiêu hàng năm cao nhất được ghi nhận ở các bang miền Tây nước


- 18 -
(Lưu ý: Tiêu chuẩn NAICS là tiêu chuẩn “hệ thống phân loại công
nghiệp Bắc Mỹ, 321 là mã dành cho hàng gỗ - wooden furniture)
Nhìn chung thị trường tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ của Mỹ rất lớn và là một
tiềm năng cho những nhà xuất khẩu, tính trong 4 tháng đầu năm năm 2005
lượng hàng gỗ Mỹ nhập khẩu đạt 7,720,699,000 USD tăng 17.6% so với cùng
kỳ năm 2003, trong đó thị trường Mỹ nhập khẩu lớn nhất là Châu Mỹ (Canada,
Mexico). Cũng theo số liệu tính toán từ bảng phụ lục 2 ta nhận thấy, lượng hàng
nhập khẩu của Mỹ từ châu Á trong 4 tháng đầu năm 2005 chỉ đạt 12.86% so với
trên toàn thế giới. Trong khi đó lượng hàng nhập khẩu gỗ của Mỹ từ Châu Âu
chỉ đạt được 8.8%, chỉ tính riêng thị trường nhập khẩu từ Canada đã chiếm đến
61.80%. (Vui lòng xem số liệu trong bảng phụ lục 2).
1.3.3. Một số lưu ý khi tham gia kinh doanh buôn bán với thị trường Mỹ.
Thị trường Mỹ là một thị trường tương đối khó tính, tuy nhiên nếu các
doanh nghiệp biết được và tìm hiểu các quy định, yêu cầu của Mỹ khi xuất khẩu
sản phẩm hàng hóa sang thì việc kinh doanh thì họ sẽ vượt qua được rào cản
này. Ở đây người nghiên cứu xin đưa ra một số điểm mà các doanh nghiệp cần
phải lưu ý như sau:
- Các quy định về kê khai hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ, sự kê khai phải
chính xác, rõ ràng và đầy đủ thông tin.
- Những quy định về bao bì hàng hóa, nhãn mác, đóng gói và những lưu
ý khi sử dụng sản phẩm nếu sản phẩm có thể gây nguy hiểm trong sử dụng.
- Những quy định về hóa đơn thương mại, cách ghi tên hàng, hàng hóa và
những quy định về chất lượng, xử lý hàng hóa v.v…
(Để tìm hiểu thêm một vài quy định cụ thể về hàng hóa xuất sang thị
trường Mỹ, xin mời xem phụ lục 3 – Một số quy định của Mỹ về nhập khẩu sản
phẩm gỗ)

- 19 -

177
374
0
100
200
300
400
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Nguồn: US Department of Commerce
Hình 2.1. Sơ đồ kim ngạch xuất khẩu hàng furniture của Việt Nam sang Mỹ

- 20 -
Qua sơ đồ trên ta nhận thấy tốc độ gia tăng kim ngạch xuất khẩu gỗ của
Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng gia tăng một cách
đáng kể, năm 2003 từ 177 triệu USD đã tăng lên 374 triệu USD trong năm 2004
(tăng 111,23%)
Trong xu thế phát triển chung của toàn nước đối với mặt hàng xuất khẩu
sang thị trường Mỹ, có thể nói doanh số xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2005
đã tăng lên 119.35% so với cùng kỳ năm 2004. Kim ngạch xuất khẩu của các
tỉnh trọng điểm phía Nam theo đó cũng gia tăng đáng kể.
Bảng dưới đây liệt kê thị trường các nước mà doanh nghiệp Việt Nam đã
xuất khẩu sang trong 5 tháng đầu năm 2005 và so với cùng kỳ năm 2004.
Bảng 2.1. Thị trường xuất khẩu gỗ của Việt Nam.
Đơn vị: Nghìn USD
Thị trường Tháng 5/05 5 tháng 2005 5 tháng 2004 % thay đổi
Mỹ 39.644 191.312 87.218 119,35
Nhật Bản 15.592 87.542 65.444 33,77
Anh 8.609 58.182 53.182 9,40
Đức 3.924 36.487 24.910 46,48
Pháp 3.356 29.978 21.480 39,56

nghiệp đã đặt hàng đem về Hoa Kỳ để giới thiệu và tìm hiểu phản ứng của thị
trường.
Sản phẩm gỗ của Việt Nam chỉ mới xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ từ
cuối năm 2001 và hiện sản phẩm gỗ của Việt Nam chỉ đứng thứ 12 tại thị trường
này, chiếm 0,86% tỷ trọng trong khối lượng nhập khẩu đồ gỗ tại đây.
Yêu cầu của đối tác Mỹ đặt ra cho hàng xuất khẩu rất cao. Họ thường
khảo sát thị trường xem xét nhà xưởng, năng lực sản xuất rồi mới đi đến quyết
định đặt hàng
Khi soạn thảo hợp đồng, hầu hết các doanh nghiệp Mỹ đều đưa ra những
quy định rất rõ ràng về chủng loại gỗ, kích cỡ sản phẩm...
Theo như kết quả khảo sát điều tra của tôi và một số bạn ở cơ sở II,
trường Đại Học Ngoại Thương thực hiện trong tháng 4 năm 2005, số lượng
doanh nghiệp điều tra là 370 doanh nghiệp của một số doanh nghiệp trên địa bàn

- 22 -
thành phố Hồ Chí Minh và khu vực lân cận thì có đến 82% doanh nghiệp có
doanh số xuất khẩu tăng đều trong 3 năm gần đây.
Cũng theo số liệu điều tra này thì số doanh nghiệp xuất sang thị trường
Mỹ rất cao (121 doanh nghiệp chiếm 17.5%), chỉ sau các nước EU (158 doanh
nghiệp, chiếm 23.2%)
(Xem phụ lục 4, kết quả khảo sát các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu
gỗ trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh và khu vực lân cận)
Hiện nay trên cả nước có khoảng 1200 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong
đó địa bàn thành phố Hồ Chí Minh chiếm đến khoảng 50% và chiếm đến
khoảng 70% năng lực chế biến và tốc độ phát tăng trưởng trên 70%/năm. Do đó
có thể khẳng định rằng thành phố Hồ Chí Minh là một trong những khu vực
đứng đầu về xuất khẩu gỗ sang thị trường Mỹ.
2.2. Ưu thế của thành phố Hồ Chí Minh, ưu thế khác biệt so với các khu
vực trong nước.
Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số so với cả

lợi thế cho các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh:
Bảng 2.3: So sánh cơ cấu kinh tế của Hồ Chí Minh so với vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam và cả nước năm 1995 và 2000.
Khu vực kinh tế 1995 2000

TPHCM VKTTĐPN Cả nước TPHCM VKTTĐPN Cả nước
Khu vực I (Nông
lâm ngư nghiệp)
3,3% 5,9% 27,2% 2,3% 5,3% 25,4%
Khu vực II (Công
nghiệp – Xây dựng)
38,9% 49,7% 28,8% 41,1% 55,5% 34,5%
Khu vực III (Dịch
vụ)
57,8% 44,4% 44,1% 54,6% 39,2% 40,1%
Tốc độ tăng trưởng GDP, công nghiệp và dịch vụ của TPHCM,
VKTTĐPN và cả nước giai đoạn 2001 – 2010

- 24 -
Bảng2.4: So sánh tốc độ tăng trưởng của Hồ Chí Minh so với các vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước và dự báo cho thời kỳ 2006-2010.
Giai đoạn
2001-2005 2006-2010
TPHCM VKTTĐPN Cả nước TPHCM VKTTĐPN Cả nước
1. Tốc độ tăng GDP 11% 12% 7% 13% 8%
2. Tốc độ tăng trưởng
công nghiệp
13% 15% 10% 12,7% 14% 11%
3. Tốc độ tăng dịch vụ 9,6% 10% - 13,5% 15% -
Nguồn: www.dpi.hochiminhcity.gov.vn

xếp hạng 28, Trung Quốc xếp hạng 39 và Phillipines xếp hạng 50.
Hầu hết các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gỗ vừa và nhỏ không có
chiến lược cạnh tranh rõ ràng, có một số doanh nghiệp không có chiến lược
cạnh tranh, và chỉ làm hàng theo yêu cầu của khách hàng, theo những mẫu mã
đã có sẵn từ phía khách hàng. Tuy biết rằng thị trường Mỹ là một thị trường lớn
và tiềm năng, các công ty vẫn cứ hoạch định là thâm nhập vào thị trường Mỹ
nhưng không có một chiến lược khả thi để thâm nhập vào thị trường này. Có thể
quy cho những nguyên nhân sau:
- Do không có thời gian: ở các doanh nghiệp nhỏ, người chủ doanh
nghiệp thường là người điều hành trực tiếp, do đó thời gian của họ chủ yếu được
giành cho việc giải quyết những vấn đề tác nghiệp hàng ngày và hầu như không
còn thời gian để quan tâm tới việc hoạch định dài hạn.
- Do không quen với việc hoạch định chiến lược: có nhiều chủ doanh
nghiệp chưa nhận thức được công dụng của hoạch định chiến lược hoặc họ cho
rằng chiến lược không có liên quan nhiều đến tình trạng kinh doanh của họ.

Trích đoạn Thương hiệu của doanh nghiệp Nguồn nhân lực của doanh nghiệp Chất lượng dịch vụ, khả năng đáp ứng yêu cầu khách hàng của các doanh nghiệp. Các yếu tố môi trường vĩ mô: a Yếu tố của môi trường kinh tế. Yếu tốc ủa môi trường luật pháp, chính trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status