BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ HỒNG THẮM KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ CÁC PHẨM CHẤT Ý CHÍ
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRƯƠNG CÔNG THAN
H Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI TRI ÂN
Tôi chân thành cảm ơn những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Tâm lý - Giáo dục đã đem lại cho tôi
TĐG: tự đánh giá
TĐG PCYC: tự đánh giá các giá phẩm chất ý chí
THPT: trung học phổ thông
TYT: tự ý thức
- 4 -
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, tự ý thức và
mức độ phát triển cao của nó là TĐG có vai trò rất to lớn. TĐG là khả năng cá nhân
xác định những phẩm chất và năng lực hiện có của bản thân đang ở mức độ nào, có
đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn để từ đó có sự điều chỉnh phù hợp. Trên
c
ơ sở TĐG, cá nhân sẽ hướng đến khắc phục những thiếu sót, phát huy những phẩm
chất, hành vi tốt đẹp. Họ còn biết định hướng sự hình thành nhân cách nói chung
phù hợp với hình ảnh lý tưởng khái quát đang được xây dựng ở bản thân[5;10]. Do
đó, tìm hiểu TĐG có lợi cho cả HS và giáo viên trong quá trình giáo dục. Với HS,
đánh giá bản thân một cách đúng đắn, phù hợp sẽ là điều kiện tích cực đối với s
ự
phát triển toàn diện nhân cách. Hơn nữa, việc phân tích bản thân có mục đích là dấu
hiệu cơ bản của một nhân cách đang trưởng thành và tiền đề của tự giáo dục, tự
hoàn thiện.Với giáo viên, tìm hiểu khả năng TĐG của HS là cơ sở để lựa chọn biện
pháp và xây dựng môi trường giáo dục. Khả năng này vừa là một trong những tiêu
chí để ĐG sự phát triển nhân cách c
ủa HS vừa là cơ sở của nguyên tắc giáo dục phát
huy ý thức tự giáo dục của HS.
Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ở lứa tuổi THPT, HS thường chú ý đến
thế giới nội tâm, những năng lực và phẩm chất của cá nhân. Theo kết quả nghiên
cứu của I.X.Côn , B.N.Voncov, A.N.Lutoxki, các em thường đặt các PCYC vào vị
trí ưu tiên trong trình tự các vấn đề được ĐG.[4;136]. Như vậy, các PCYC là một
trong những mối quan tâm hàng đầ
về TĐG của HS THPT rất ít. Hơn nữa, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu
nào về khả năng TĐG một phẩm chất cụ thể của nhân cách nói chung, T
ĐG PCYC
của HS THPT nói riêng. Vì vậy, tìm hiểu về khả năng TĐG các PCYC của HS
THPT càng có ý nghĩa thiết thực.
Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Khả năng tự đánh
giá các phẩm chất ý chí của học sinh trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đưa ra thực trạng khả năng TĐG của HS THPT qua sự TĐG về PCYC. Trên
cơ sở đó, đề xuất và thử nghi
ệm một số biện pháp giáo dục góp phần nâng cao khả
năng TĐG của HS THPT làm cơ sở cho việc tự giáo dục và hoàn thiện bản thân.
- 6 -
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khả năng TĐG các PCYC của HS THPT.
3.2. Khách thể nghiên cứu
HS THPT
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
4.1. Về nội dung
Những biểu hiện của khả năng TĐG các PCYC của HS THPT chủ yếu trong
hoạt động học tập.
4.2. Về khách thể
HS khối 10 và 12
4.3. Về địa bàn
3 trường THPT : THPT chuyên Trần Hưng Đạo, THPT Phan Bội Châu và trườ
ng
THPT dân lập Lê Lợi tại TP Phan Thiết – Bình Thuận.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Khả năng TĐG các PCYC của HS THPT chưa cao. Điều đó có thể do ảnh
7.5. Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu.
8. Đóng góp mới của đề tài
Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về khả năng TĐG nói chung,
khả năng TĐG PCYC nói riêng của HS THPT và những yếu tố tác động đến nó.
Xây dựng được bảng hỏi và
đề xuất cách thức đánh giá khả năng TĐG của
HS THPT, cung cấp thêm những dữ kiện thực tiễn về khả năng TĐG của HS THPT,
kết quả nghiên cứu có thể làm tư liệu cho những nghiên cứu tiếp theo, làm tài liệu
tham khảo cho việc xây dựng các biện pháp rèn PCYC cho HS THPT.
- 8 -
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử phát triển của tâm lý học, vấn đề TĐG được nghiên cứu khá
sớm và ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà tâm lý học. Do TĐG được tiếp
cận theo nhiều quan điểm khác nhau, chúng tôi sẽ điểm qua một số vấn đề cơ bản
được quan tâm nhất cả ngoài nước và trong n
ước.
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Vấn đề TĐG của HS đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm ở các
nước thuộc Liên Xô (cũ), Ba Lan, Đức,…. Họ đã có những đóng góp quan trọng
cho các vấn đề lý luận cơ bản của TĐG như: quan điểm tiếp cận, bản chất, nội dung,
con đường hình thành, vai trò của TĐG, phương pháp nghiên cứu TĐG,….
A.I.Lipkina và L.A.Rưbak trong công trình “Tính phê phán và TĐG trong
ho
ạt động học tập” đã xác định bản chất tâm lý và nguồn gốc của TĐG. Theo họ,
bản chất tâm lý của TĐG là: “thành phần không thể tách rời của ý thức, của sự
phản ánh chính bản thân mình cũng như mối quan hệ của mình với người khác, với
thực tế xung quanh”.[18;12]. Như vậy, khi xem TĐG là sự phản ánh hiện thực
khách quan – bản thân và mối quan hệ xã hội c
ản chất và cơ chế
tâm lý của TĐG. Ngoài ra, bà cũng nghiên cứu sâu về các đặc điểm của TĐG, đặc
biệt tính khách quan của TĐG. Từ kết quả nghiên cứu, bà đã đề xướng một số
phương hướng phát triển khả năng TĐG, tổ chức thực nghiệm để kiểm tra tính khoa
học và thực tế các phương hướng đó[18;25]. Cách tiếp cận của Franz đ
ã mở ra một
hướng mới trong nghiên cứu TĐG. TĐG một hiện tượng tâm lý có mức độ biểu
hiện cụ thể, có thể đo lường được. Hơn nữa, khi được xem là quá trình nhận thức
gồm các quá trình cụ thể, TĐG có thể tác động, điều chỉnh được qua việc tác động
đến các quá trình thành phần của nó. Đây là điều mà ngoài Franz, các nhà nghiên
cứu khác chưa chỉ ra được.
Ngoài các tác giả
tiêu biểu trên, TĐG cũng được nhiều nhà tâm lý học quan
tâm nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau: J.A.Andrusenco đã tìm hiểu “Những
điều kiện tâm lý để hình thành TĐG của HS cấp I”; Ph.I.Ivasenco quan tâm “Những
đặc điểm TĐG của HS lớn trong học tập và lao động”,
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu trên đã đạt được những thành tựu nhất định
khi luận giải các vấn đề cơ bản của TĐG. A.I.Lipkina và L.A.Rưbak
chỉ ra bản
chất, nguồn gốc xã hội, vấn đề tiêu chuẩn và hoàn cảnh xã hội của TĐG, V.P.
- 10 -
Levcovic khẳng định vai trò của TĐG – là động cơ thúc đẩy hành vi và điều khiển
sự phát triển nhân cách, thì S.Franz với cách tiếp cận nhận thức luận, đã phân tích
sâu sắc bản chất, cơ chế hình thành TĐG. Đó là những cơ sở lý luận quan trọng
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này.
Ở các nước phương Tây, TĐG được nghiên cứu từ rất sớm song song vớ
i
vấn đề TYT, cái “tôi” (self), lòng tự trọng (self-esteem) của cá nhân. Gần đây, TĐG
càng được nghiên cứu nhiều ở các nước phát triển. Thống kê cho thấy ở Pháp, trong
vòng 10 năm cuối cùng của thế kỉ XX đã có hơn 20.000 nghiên cứu về sự TĐG bản
trị bản thân, tuy nhiên, ý thức đó chủ yếu nghiêng về mô tả bản thân hơn là TĐG.
Với những trẻ ở cuố
i bậc tiểu học, đã có sự gia tăng tính khác biệt, chính xác và ổn
định một cách tương đối trong ý thức về giá trị bản thân (TĐG) trong mối quan hệ
với bạn bè trang lứa, học tập, hành vi, thể thao và thể chất; TĐG tổng thể được trẻ
xây dựng trên ý thức tổng quát về giá trị của của bản thân.[40;28-55] Thành tựu của
Harter là một trong những nguồn tham khảo đáng lưu ý khi tìm hiể
u về TĐG, đặc
biệt, TĐG trong lĩnh vực cụ thể như PCYC của đề tài này.
Một số nhà nghiên cứu như C.H.Cooley, G.H.Mead, J.M.Blaldwin,… khẳng
định TĐG có nguồn gốc xã hội, là kết quả của sự tương tác xã hội với những người
xung quanh và tri giác bản thân. Lý thuyết về TĐG của C.H.Cooley dựa trên hình
ảnh ẩn dụ về “chiếc gương xã hội”, mỗi cá nhân nhìn vào đó và rút ra ý tưởng từ
ý
kiến của người khác về anh ta. Vì thế, TĐG của cá nhân là sự phản ánh xã hội, bao
gồm:“(1) hình dung về vẻ bên ngoài của một cá nhân của những người xung
quanh;(2) hình dung về ĐG của họ về vẻ bên ngoài đó;(3) một vài dạng cảm xúc về
bản thân, chẳng hạn như phản ứng xúc động, dẫn đến những ĐG mang tính phản
ánh xã hội. Những hiện tượng này dần trở nên khác bi
ệt với nguồn gốc xã hội ban
đầu thông qua quá trình tiếp thu có chủ định của cá nhân.”[40;18]. Cooley cho
rằng, TĐG là hiện tượng có xúc cảm đi kèm theo, đánh dấu vai trò chủ động của cá
nhân trong sự phát triển TĐG, đặc biệt là TĐG về cảm xúc như tình cảm tự hào và
xấu hổ. Như vậy, Cooley khẳng định nguồn gốc xã hội của TĐG, thái độ của những
người xung quanh đối v
ới cá nhân sẽ quy định ĐG của họ về bản thân.
Tương tự Cooley, G.H.Mead khẳng định vai trò của tương tác xã hội đối với
sự hình thành TĐG. Ông phát biểu: “Chúng ta thể hiện cái tôi của mình ở chừng
mực nào phụ thuộc mức độ bản thân chúng ta nắm bắt thái độ mà người khác đối
xử với mình.” [40;19] Từ đó, TĐG được hình thành từ thái độ của người khác đối
đóng góp trong nghiên cứu TĐG, nhất là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG.
Theo Rosenberg, Coopersmith cả Harter, mức độ quan tâm chăm sóc củ
a cha mẹ,
khả năng nhận thức của trẻ trong các lĩnh vực trẻ cho là quan trọng,… đều có tác
động đến TĐG của trẻ.[21;18]. Rosenberg cho rằng tôn giáo, thứ tự sinh cũng ảnh
hưởng đến TĐG, đặc biệt trẻ con một, trẻ nam có TĐG cao hơn [21;18]. Theo
- 13 -
Coopersmith nghề nghiệp, của cha mẹ, TĐG của cha mẹ, tình trạng hôn nhân, hành
vi ứng xử của cha mẹ, khả năng kết quả học tập cua trẻ có ảnh hưởng đến TĐG của
trẻ.[41;41-42][42;64]. Những kết quả này định hướng cho chúng tôi phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của trẻ trong kết quả thực tiễn của đề tài.
Điểm qua những nghiên cứu c
ủa các tác giả nước ngoài, chúng tôi thấy TĐG
được quan tâm nghiên cứu từ lâu, dưới nhiều góc độ khác nhau. W.James,
C.H.Cooley, G.H.Mead đã đặt những nền tảng đầu tiên cho lý luận về TĐG và ảnh
hưởng đến các nghiên cứu sau này. Họ tập trung vào những vấn đề cơ bản như khái
niệm, nguồn gốc của TĐG. Các nhà nghiên cứu thuộc thế hệ tiếp theo như
M.Rosenberg, S.Coopersmith S.Harter,…đã có những thành tựu nổi bậc như
: xây
dựng các thang đo TĐG và tiếp tục bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG. Tuy
nhiên, các vấn đề như cơ chế, vai trò của TĐG chưa được họ quan tâm. Các nhà tâm
lý học theo trường phái Mac-xít như A.I.Lipkina và L.A.Rưbak, V.P. Levcovic,
S.Franz,… có nhiều phát hiện quan trọng ở các vấn đề như: bản chất, cơ chế, vai trò
của của TĐG trong hình thành và phát triển nhân cách,…. Trong đó, lý luận của
Franz về TĐG dưới góc
độ nhận thức luận đã là kim chỉ nam cho những nghiên cứu
về TĐG ở Việt Nam trong những năm gần đây và là một trong những cơ sở lý luận
chính cho đề tài nghiên cứu này.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
TĐG được bắt đầu nghiên cứu ở Việt Nam vào những năm 80 của thế kỉ
để tìm hiểu sâu về TĐG. Năm 2003, Văn Thị Kim Cúc đã tiến hành Việt hóa và sử
dụng thang đo của các tác giả: Florece sordes – Adler, Gwenaelle Lévêque, Nathalie
Oubrayrie, Clare Safort – Mottay bao gồm các lĩnh vực: các tôi thể chất, cái tôi học
đường và cái tôi cảm xúc để Tìm hiểu sự ĐG bản thân (TĐG) của trẻ 10-15 tuổi.
Kết quả cho thấy trẻ từ 10-15 tuổi có TĐG khác nhau ở từng lĩnh vực cụ thể. Khi
TĐG, các em nhỏ tu
ổi hơn và các em nam có TĐG cao hơn ở cái tôi học đường và
thấp hơn ở cảm xúc tiêu cực so với các em lớn và các em nữ. [8;23] Khi nghiên
cứu: Tác động của mức độ kỳ vọng của cha mẹ tới sự ĐG bản thân của trẻ 16-17
tuổi ở Hà Nội (2005), bà đã nhận xét ảnh hưởng của mức độ kỳ vọng của bố mẹ và
TĐG của trẻ không gi
ống nhau ở các lĩnh vực khác nhau. Các em có bố mẹ đặt kỳ
vọng phù hợp với sức mình, TĐG về mặt “cảm xúc”, “học đường” cao hơn một
cách có ý nghĩa với những em có bố mẹ đặt kì vọng quá sức hay bố mẹ không mong
- 15 -
đợi gì.[7;21-22] Tóm lại, việc đặt kì vọng không đúng của cha mẹ gây ra những khó
khăn về cảm xúc và cản trở đời sống học đường của trẻ.
Đỗ Ngọc Khanh dựa trên lý luận và thang đo “Perceived compentence scale
for chilren” của S.Harter phát triển năm 1979 (có bổ sung sửa đổi) để tìm hiểu TĐG
của HSTHCS ở Hà Nội (2005). Ngoài bốn nội dung cơ bản trong thang đo của
Harter, tác giả đã bổ sung thêm n
ội dung đạo đức và lí giải “Trong văn hóa của
người Việt Nam, ĐG hay TĐG của một con người sẽ không là đầy đủ nếu bỏ qua
mặt đạo đức.…”[21;40]. Theo kết quả, HS THCS ở Hà Nội có TĐG tổng thế ở mức
độ trung bình; TĐG các mặt cụ thể như: học tập, đạo đức, xã hội ở mức trung bình
cao; TĐG thể chất và cảm xúc ở m
ức trung bình thấp. TĐG về cảm xúc tiêu cực
liên quan đến khía cạnh học tập và cảm xúc tích cực liên quan đến quan hệ xã hội
[22;36]. Văn Thị Kim Cúc và Đỗ Ngọc Khanh đã tạo ra hướng mới trong nghiên
thực thể hoạt động có cảm giác tư duy, hành vi, đạo đức và vị trí trong xã hội. TYT
có nguồn gốc từ hoạt động và giao tiếp của cá nhân, con người chỉ nhận thức bản
chất của mình trong quan hệ với người khác, trong hoạt động cải tạo thế giới. Trong
quá trình đ
ó, con người tự điều khiển bản thân theo các quan hệ, các quy tắc, chuẩn
mực do xã hội đề ra. Từ đây, vai trò của TYT là động lực điều khiển điều chỉnh
hành vi để tự hoàn thiện bản thiện bản thân. Những vấn đề lý luận về TYT của triết
học Mác - xít là phương pháp luận chỉ đạo nghiên cứu TYT trong tâm lý học. Thực
tế đã chứng minh, các nhà tâm lý học l
ỗi lạc của Liên Xô (cũ) như: L.X.Vygotsky,
A.N.Leonchiev, X.L.Rubinstein,… đã giải quyết các vấn đề ý thức và TYTtrên cơ
sở triết học Mác – Lênin.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư
Việt Nam, TYT là: “Việc con người nhận thức và ĐG bản thân mình về hiểu biết,
phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng của mình với tư cách là một nhân cách đang
tư duy
và hoạt động có ý thức. Nhờ TYT, con người tự tách mình khỏi thế giới xung
quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó. TYT hình thành
không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn,
nhỏ…”[42]
Theo từ điển tâm lý học do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ biên, TYT
được xem như là “quan niệm về cái tôi”, “hình ảnh cái tôi” của cá nhân – đó là “Hệ
thống biểu tượng của con người về
bản thân tương đối ổn định, ít nhiều được ý
thức, được trải nghiệm như là một hệ thống độc nhất vô nhị mà trên cơ sở của nó,
- 17 -
cá nhân xây dựng sự tác động qua lại của mình với những người khác, với thế giới
bên ngoài”[18;18]
Về mặt thuật ngữ, những định nghĩa trên có điểm chung là xem TYT là ý
thức con người hướng về bản thân mình, nhận thức về sự tồn tại, hành động, suy
- 18 -
Tóm lại, theo quan điểm Mac-xit, TYT là năng lực hiểu chính mình, sự ĐG
tổng thể về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống. Như S.Franz đã định nghĩa:
“TYT là ý thức về chính bản thân mình, là sự trở nên có ý thức đối với những hiểu
biết về bản thân, sự trở nên có ý thức về những xúc cảm riêng của bản
thân”.[18;18] Đây là cơ sở quan trọng để tìm hiể
u khái niệm TĐG và các vấn đề
quan trọng khác của nó.
Về mặt cấu trúc, theo quan điểm của các nhà tâm lý học, TYT được cấu
thành từ những mặt khác nhau, phát triển theo các cấp độ khác nhau.
Với I.Côn, hình ảnh cái tôi (TYT) bao gồm ba yếu tố phụ thuộc lẫn nhau:
- Nhận thức - sự hiểu biết về bản thân, biểu tượng về những phẩm chất và
thuộc tính của mình,
- Xúc cả
m – sự TĐG những phẩm chất và lòng tự ái, có liên quan đến TĐG
ấy, lòng tự trọng và những tình cảm tương tự khác,
- Hành vi – thái độ thực tế đối với bản thân xuất phát từ hai yếu tố nói trên.
[5;91]
Theo A.V.Petrovski, TYT là một cấu trúc tâm lý phức tạp gồm các thành
phần phát triển tiếp theo của sự phát triển tâm lý của cá nhân, cụ thể:
- Ý thức về tính đồng nhất của mình,
-
Ý thức về cái “tôi” của bản thân như là cơ sở tích cực hoạt động,
- Ý thức về những thuộc tính và phẩm chất của mình,
- Một hệ thống tự xác định những ý kiến TĐG về mặt đạo đức - xã hội.
Trong đó, ông khẳng định việc ý thức những phẩm chất tâm lý của mình và
sự TĐG có ý nghĩa to lớn trong nhất ở tuổ
i thiếu niên và tuổi thanh niên.[28;7].
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng TYT là mức độ phát triển cao của ý thức, thể
hiện ở các mặt:
Tóm lại, khi phân tích khái niệm TYT chúng tôi rút ra một số k
ết luận ban
đầu sau:
1/ TYT là hình thức phát triển cao của ý thức. Nên cấu trúc của TYT tương
tự như cấu trúc của ý thức, bao gồm: nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân.
2/ Bản chất của TYT là khả năng hiểu bản thân, “năng lực phân tích các hiện
tượng tâm lý trong ta, diễn biến của nó, dự kiến kết quả và khi có kết quả thì phân
tích lợi hại,…của kết quả”.
- 20 -
3/ Nội dung của TYT rất phong phú và phát triển không giống nhau ở mỗi cá
nhân cũng như mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau, từ bên ngoài vào bên trong, từ
phân biệt đến khái quát, từ đơn giản đến phức tạp,… Có thể nói, nội dung TYT phát
triển cùng với sự phát triển của trình độ lý luận và những yêu cầu của hoạt động học
tập và giao lưu của lứa tuổi.
4/ TYT phát triển đến giai đo
ạn nhất định sẽ xuất hiện TĐG. TĐG là một
mặt biểu hiện, mức độ phát triển cao của TYT.
Những kết luận trên là tiền đề, cơ sở để xem xét khái niệm TĐG và những
vấn đề cơ bản có liên quan.
1.2.1.2 Tự đánh giá
Trước tiên, chúng tôi muốn làm rõ khái niệm ĐG. Theo từ điển Tiếng Việt,
“ĐG” là: 1 Ước tính giá tiền. 2 Nhận
định giá trị. [29; 294] Như vậy, về mặt từ ngữ,
ĐG là nhận thức giá trị của người hay vật. Nếu hiểu theo nghĩa này, TĐG có nghĩa
là nhận thức giá trị của bản thân mình.
Từ điển Tâm lí học định nghĩa TĐG là “Cá nhân ĐG chính mình, ĐG những
năng lực, phẩm chất và vị trí của mình so với những người khác. Giá trị mà cá nhân
gán riêng cho mình hoặc cho những ph
ẩm chất riêng biệt của mình” [9;964]. Các
tác giả cũng đã nêu ra một số yếu tố như: mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, tính
này đã được các nhà nghiên cứu sau đó kế thừa.
Cho rằng có quá nhiều thuật ngữ chỉ cái tôi (tự ý thức, tự mô tả, tự điều
chỉnh, TĐ
G, tự xác định giá trị,…), Harter đã phân biệt khái niệm “tự mô tả” (self-
description) (tôi là gì ) và “TĐG” (self-evaluation) (tôi tốt như thế nào). Theo bà,
TĐG là việc cá nhân xem xét bản thân tích cực hay tiêu cực, gắn giá trị cụ thể cho
các thuộc tính của bản thân. [18;3]. Harter cũng phân biệt TĐG bao gồm TĐG khái
quát và TĐG những lĩnh vực đặc trưng. TĐG khái quát là nhận thức giá trị của cá
nhân như một con người, thể hiện ĐG nhữ
ng đặc tính tổng thể của cá nhân, ví dụ:
“Tôi là người quan trọng”. TĐG lĩnh vực cụ thể phản ánh ĐG của cá nhân đối với
các thuộc tính của những lĩnh vực cụ thể: nhận thức (tôi là người thông minh), xã
hội (tôi tốt giống như các bạn), thể chất (tôi giỏi thể thao), cảm xúc,…. [40;5]Hạn
chế của Harter là chưa làm rõ mối quan hệ giữa hai mức độ TĐG này và ch
ưa đề
cập đến vấn đề liệu TĐG trong một lĩnh vực cụ thể có thể dự đoán được TĐG khái
quát không, ngược lại, TĐG khái quát ảnh hưởng như thế nào đến TĐG lĩnh vực cụ
- 22 -
thể…Sự phân biệt hai mức độ TĐG của Harter đã khẳng định lần nữa tính đa
phương diện và đa cấp bậc của TĐG. Điều này đưa đến lưu ý rằng cần xác định lĩnh
vực cụ thể cũng như mối liên hệ giữa các mức độ TĐG khi nghiên cứu vấn đề này.
Rosenberg xem TĐG là thuật ngữ chỉ mộ
t dạng đặc biệt của thái độ, thái độ
này dựa trên cơ sở nhận thức ý kiến về giá trị của cá nhân như một con
người.[43;16] Ở đây không chỉ nhận thức bản thân mà còn là nhận thức những ý
kiến về bản thân, từ đó, cá nhân sẽ hình thành thái độ với chính mình. Nhưng việc
hình thành thái độ đối với chính mình rất phức tạp vì đối tượng của quá trình nhận
th
ức cũng là chủ thể của nó và thái độ của cá nhân liên quan đến việc họ ĐG như
thế nào về “giá trị” của mình: Một cá nhân đơn giản cảm thấy rằng anh là một
thức, thái độ,… đang tồn tại ở bản thân”[18; 25]. Bà xem TĐG là một dạng đặc biệt
của hoạt động nhận thức, tương ứng với ba quá trình đầu tiên của tự nhận thức:
- Những quá trình cung cấp tài liệu ban đầu;
- Những quá trình dẫn đến sự xác định đơn giản về bản thân;
- Những quá trình dẫn đến sự
TĐG;
- Những quá trình dẫn đến sự tự phê phán.
Từ đó Franz xác định cơ chế hình thành TĐG, gồm bốn bước:
Bước 1: cá nhân tiếp nhận thông tin;
Bước 2: cá nhân xử thông tin;
Bước 3: cá nhân xác định các hiện tượng tâm lý đang tồn tại ở mức độ nào;
Bước 4: cá nhân phát biểu về bản thân dưới dạng TĐG.
Xuyên suốt các bước này là hệ thống các giá trị chuẩn mực đạo đứ
c xã hội đã
được cá nhân đúc kết như là một thang đo chuẩn để cá nhân so sánh, nhận xét mình.
Cách tiếp cận của Franz đã làm sáng tỏ một số vấn đề phức tạp của TĐG.
Trước hết, bản chất của TĐG là quá trình tự nhận thức có đối tượng là: mức độ biểu
hiện của các hiện tượng tâm lí của cá nhân. Như vậy, TĐG chỉ xả
y ra khi nhận thức
phát triển ở trình độ cao, có khả năng phân biệt những các hiện tượng tâm lí và
những biểu hiện cụ thể của nó. Từ đó, ta có thể hiểu cơ chế hình thành TĐG: trên cơ
sở những hiểu biết các đặc điểm của mình, các hiện tượng tâm lý ở bản thân, cá
nhân ĐG mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý đó. Nắm
được cơ chế, ta có
thể điều chỉnh TĐG qua việc tác động vào quá trình nhận thức cá nhân. Lí luận này
gợi ý cho chúng tôi xây dựng chương trình thử nghiệm của đề tài.
Quan điểm của Franz và một số tác giả trên giúp chúng tôi rút ra một số vấn
đề trọng tâm về TĐG làm cơ sở nghiên cứu các vấn đề thực tiễn của đề tài này:
- 24 -
Một là, tiếp cận giá trị của James, Harter,… được đề cao khi nghiên cứu
của TĐG. Tuy nhiên, TĐG là một hoạt động nhận thức đặc biệt nên có đối tượng
(nội dung) riêng của nó. Điểm qua một số quan điểm: liệt kê thuần túy; xem xét nội
- 25 -
dung TĐG gắn với mức độ phát triển năng lực nhận thức và xem xét nội dung TĐG
dựa trên đặc trưng lứa tuổi, chúng ta sẽ hình dung được các nội dung cơ bản của nó.
Như đã đề cập ở trên, Harter nghiên cứu TĐG ở các nội dung cụ thể của cái
tôi, cụ thể: nhận thức (khái niệm học tập), giao tiếp, thể thao, cảm xúc. Sau đó bà
tiếp tụ
c bổ sung thành 9 nội dung: khả năng học tập, khả năng công việc, khả năng
thể thao, hình thức thể lực, sự chấp nhận xã hội của bạn cùng lứa, mối quan hệ bạn
thân, tình yêu, mối quan hệ với cha mẹ, đạo đức[21;40-41]. Các nội dung của TĐG
liên quan chặt chẽ với cấu trúc cái tôi và thể hiện nhiều mặt trong đời sống tâm lí cá
nhân. Tuy nhiên, các nội dung này vẫn chưa bao quát hết các khía c
ạnh trong đời
sống tâm lí con người, cần xem xét các hướng nghiên cứu khác.
Theo P.R.Tramata, các nội dung TĐG không xuất hiện cùng một lúc. TĐG
diễn ra theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu, đứa trẻ TĐG giới hạn trong những hành động, hành vi.
- Giai đoạn hai, TĐG bao gồm cả những trạng thái nội tâm, khả năng và những
phẩm chất đạo đức. Sự hình thành giai đoạn hai - giai đoạ
n cao của TĐG bắt đầu từ
tuổi vị thành niên kéo dài suốt cuộc đời con người cùng sự phát triển của trình độ
nhận thức và tích lũy kinh nghiệm. [18;31]
Nhà tâm lý học người Nga I.A.Paloxova đã chỉ ra con đường phát triển nội
dung của TĐG như sau:
- Khả năng dự đoán trước kết quả cụ thể của những hành động riêng lẻ.
- Khả năng ĐG nh
ững năng lực riêng của mình.
- Có sự hình dung khái quát về những khả năng của mình, những khát vọng
của bản thân đạt được đích ở những mức độ nhất định trong hoạt động xác định.