BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Bùi Hồng Quân
KỸ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ CỦA THIẾU NIÊN ĐANG SỐNG
TẠI CÁC TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Bùi Hồng Quân
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐC : Đối chứng
ĐLC : Độ lệch chuẩn
ĐTB : Điểm trung bình
KN : Kỹ năng
TĐG : Tự đánh giá
TN : Thiếu niên
TNg : Thực nghiệm
T – Test : Trị số kiểm nghiệm T
Sig : Mức ý nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, con người phải không ngừng tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Nhân
cách của con người được hình thành thông qua sự lĩnh hội nền văn hóa xã hội trong quá trình
gia nhập vào các mối quan hệ xã hội. Sự thành công của cá nhân trong các mối quan hệ khác
nhau sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành, phát triển nhân cách và ngược lại. Để thành công
trong các mối quan hệ đó, cá nhân phải biết đánh giá một cách khách quan, trung thực, chính
xác về bản thân mình. Có nhận thức, đánh giá đúng về bản thân thì cá nhân mới có thể định
cực, khách quan hay chủ quan… bởi TĐG là khâu quan trọng để các em chọn lựa cho mình một
tương lai: hòa nhập, học tập, học nghề, về gia đình hay tiếp tục lang thang và thậm chí là trở
thành kẻ tội phạm. Quan trọng hơn, KN TĐG của các em ở mức độ nào? Chỉ khi nào xác định
được thực trạng KN TĐG của các em mới có thể đề ra những biện pháp tác động nhằm nâng
cao nó. Qua đó, giúp cho các em xác định đúng đắn, khách quan vai trò, vị trí của m
ình trong
các mối quan hệ xã hội khác nhau để không còn mặc cảm, tự ti khi hòa nhập. Tuy nhiên, có rất
ít công trình nghiên cứu về KN TĐG của những đối tượng này.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “KN TĐG của TN tại các trung tâm
bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết và có ý nghĩa.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định t
hực trạng KN TĐG của TN tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu một số nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên. Từ đó, đề xuất
một số biện pháp nhằm nâng cao KN TĐG của TN để giúp các em tự tin hơn, bản lĩnh hơn khi
hòa nhập với cộng đồng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KN, KN sống, KN TĐG.
3.2. Khảo sát thực trạng KN TĐG của TN tại các trung
tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến KN này.
3.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao KN TĐG của TN tại các trung tâm bảo trợ
xã hội và thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm nâng cao KN TĐG của các em.
4. Đối tượng và k
hách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
KN TĐG của TN tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu chính là những TN phát triển bình thường, không bị khuyết tật tại ba
trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
nghiên cứu có liên quan để xác định các khái niệm công cụ; tổng hợp và phân tích nguồn gốc,
các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG; các thao tác trong KN TĐG của TN.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Chúng tôi xây dựng ba bảng hỏi k
hác
nhau dành cho các em TN và các thầy, cô trực tiếp quản lý, nuôi dưỡng các em để tìm hiểu về
TĐG và mức độ KN TĐG của TN.
7.2.2. Phương pháp quan sát
Phương pháp này được thực hiện nhằm ghi nhận những biểu hiện về mặt tâm
lý thông qua
hành vi của TN trong các buổi sinh hoạt chuyên đề (được tổ chức lồng ghép với chuyên đề KN
TĐG) và trong sinh hoạt hàng ngày của các em tại trung tâm. Qua đó, có thể nhận định rõ hơn
về thực trạng KN TĐG của TN (xem mẫu quan sát ở phụ lục).
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn đối với các TN, các thầy, cô – những người trực tiếp nuôi dưỡng,
quản lý các em và lãnh đạo của các trung tâm để có thể làm rõ thêm thực trạng TĐG của TN.
Bên cạnh đó, qua thông tin của các lãnh đạo, có thể tìm hiểu thêm về một số trường hợp TN
từng được nuôi dưỡng tại các trung tâm
, đã trưởng thành, tự lập cuộc sống để có cơ sở nhận
định thêm về ảnh hưởng của TĐG đối với cuộc sống của các em khi “vào đời”.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này được thực hiện nhằm để đánh giá hiệu quả tác động của các biện pháp
thực nghiệm nhằm
nâng cao KN TĐG của TN. Chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên hai nhóm:
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm. Tiến hành tác động đối với nhóm thực nghiệm, sau đó
so sánh mức độ KN TĐG giữa nhóm đối chứng – nhóm thực nghiệm và của nhóm thực nghiệm
trước - sau thực nghiệm.
7.4. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phần mềm SPSS for Windows phiên bản 11.5 để xử lý thống kê như: tính tần số,
2].
Ở Liên Xô, A.I.Lipkina đã xuất bản cuốn “TĐG của học sinh”, trong đó bà đã nêu khái
niệm TĐG “Là thái độ của con người đối với những năng lực, khả năng, phẩm chất của nhân
cách cũng như với bộ mặt bên ngoài của mình”. [19].
Tác giả J.A. Andrusenco nghiên cứu “Những điều kiện tâm
lý để hình thành sự TĐG của
học sinh cấp I” [16, tr.13]. Ông chia TĐG thành bốn nhóm:
- Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích đối tượng.
- Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích hoạt động của bản thân.
- Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích những điều kiện của hoạt động.
- Nhóm TĐG dựa trên sự phân tích thành công hay thất bại trong kinh nghiệm đã qua hoặc
dựa vào sự đánh giá bên ngoài.
F.I. Ivasenco nghiên cứu “Những đặc điểm TĐG của học sinh lớn trong học tập – lao động”
[
24]. Tác giả cho rằng những học sinh có thành tích học tập khác nhau có sự TĐG khác nhau. Sự
TĐG của cá nhân không chỉ khác nhau về mức độ phù hợp mà còn khác nhau trong việc lựa chọn
luận cứ đánh giá.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu TĐG đã bắt đầu được quan tâm trong những năm gần đây.
Có thể kể ra một số công trình như sau:
Luận án tiến sỹ của t
ác giả Lê Ngọc Lan về mối quan hệ giữa khả năng TĐG phù hợp của
học sinh đối với thái độ học tập và động cơ học tập, tác giả cho rằng: TĐG có mối liên quan với
những yếu tố tâm lý khác của nhân cách. Sự TĐG thái độ học tập có liên quan chặt chẽ với
động cơ học tập. Khả năng TĐG phù hợp đối với thái độ học tập ở học sinh lớp 6 và lớp 8 còn
chưa cao. TĐG thái độ học tập ở các em gái phù hợp hơn ở các em trai [23].
Công trình nghiên cứu “Những tổn thương tâm lý của TN do bố mẹ ly hôn” của nhóm tác
giả thuộc Viện Tâm lý học thực hiện năm
2002 dưới sự chủ trì của tác giả Văn Thị Kim Cúc, đã
so sánh TĐG giữa trẻ trong các gia đình ly hôn và trẻ trong các gia đình bình thường. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, các các em trong gia đình ly hôn và trong gia đình bình thường đều có
hiện một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [17].
Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “KN là giai đoạn giữa của việc
nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên
quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến
mức độ kỹ xảo” [7]
.
Tác giả N.D.Levitovxam xét KN gắn liền với kết quả hành động. Theo ông, người có KN
hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực
hiện hành động có kết quả. Ông nhấn mạnh, muốn hình thành KN con người vừa phải nắm
vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [7
].
Quan niệm thứ hai, coi KN là một biểu hiện năng lực của con người.
Từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận
được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [20, tr.157].
Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa “KN là năng lực vận
dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện
những nhiệm vụ tương ứng” [8, tr.131].
Các t
ác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng quan niệm
KN là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả [16].
K.K.Platonov và G.G.Glolubev (1977) cho rằng KN là năng lực của con người thực hiện
công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những
khoảng thời gian tương ứng [7]. K.K.Platonov (1963) khẳng định “KN luôn được nhận thức.
Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều
kiện và phương thức thực hiện hành động” [7].
A.V.Petrovski cho rằng: Năng lực sử dụng các dữ kiện, các t
ri thức hay khái niệm đã có,
năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết
thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định được gọi là KN [7].
cảnh khác nhau đòi hỏi những thao tác khác nhau. Do vậy, để thực hiện hành động một cách
hiệu quả thì con người phải nắm chắc mặt kỹ thuật của thao tác hành động trong từng bối cảnh
cụ thể.
Nếu thiếu một trong hai mặt trên thì con người sẽ rất khó thực hiện hành động, hoạt động
có hiệu quả.
1.2.1.2. Các mức độ và giai đoạn hình thành kỹ năng
Về mức độ hình thành KN, có nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu đến vấn đề này. Theo
quan điểm của V.P. Bexpalko, có năm mức độ KN sau:
- KN ban đầu: người học biết về nội dung một dạng KN nào đó, khi cần thiết có thể tái
hiện những thao tác, hành động nhất định dưới sự hướng dẫn của người dạy.
- KN mức thấp: người học tự thực hiện được trình tự những thao tác cần thiết của một KN
nào đó trong tình huống quen t
huộc, tương tự nhưng chưa di chuyển được sang tình huống mới.
- KN trung bình: người học tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình
huống quen thuộc. Tuy vậy, việc di chuyển của các KN sang các tình huống mới còn hạn chế.
- KN cao: người học tự lựa chọn các hệ thống các thao tác cần thiết trong các tình huống
khác nhau. Bước đầu, người học đã biết di chuyển KN trong phạm vi nhất định.
- KN hoàn hảo: người học nắm được thành thạo hệ thống các thao tác khác nhau mà không
gặp khó khăn gì [1].
Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lý học của Nga và cũng là quan niệm của tác giả
K.K. Platonov và G.G. Golubev [7]
, đưa ra 5 mức độ hình thành KN, đó là:
- Mức 1: có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu
biết và kinh nghiệm.
- Mức 2: biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ.
- Mức 3: có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ.
- Mức 4: có những KN chuyên biệt để hành động.
- Mức 5: vận dụng sáng tạo những KN trong các tình huống khác nhau.
Từ góc độ Tâ
m lý học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) quan niệm: “KN sống là một tổ hợp
phức tạp của một hệ thống KN nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện
công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngà
y có kết quả, trong những điều kiện xác định của
cuộc sống” [41, tr.1 - 4].
Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với quan niệm của tác giả Huỳnh Văn Sơn (2009)
về KN sống “là những KN tinh thần hay những KN tâm lý, KN tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho
cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống” [34, tr7]. Những KN này giúp cho cá nhân thể
hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển. KN
sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm
lý – xã hội, giúp cho cá
nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ
hội.
1.2.2.2. Phân loại KN sống
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), chia KN sống làm ba nhóm:
- Nhóm một - KN nhận thức, bao gồm những KN cơ bản như: tự nhận thức bản thân, tự
đặt mục tiêu và xác định giá trị, KN tư duy, KN sáng tạo, KN ra quyết định và giải quyết vấn
đề.
- Nhóm hai - nhóm
KN liên quan đến cảm xúc, bao gồm những KN như: KN nhận biết và
chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, KN tự giám sát, tự điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của
bản thân.
- Nhóm ba - nhóm KN xã hội, bao gồm các KN như: KN hợp tác, KN gây thiện cảm, KN
giao tiếp – truyền thông, KN thích ứng với cảm xúc của người khác.
Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNES
CO) phân chia KN
sống thành hai chóm chính:
- Nhóm một, bao gồm các KN chung như: KN nhận thức, KN cảm xúc, KN xã hội.
- Nhóm hai, bao gồm các KN chuyên biệt như: các KN liên quan đến môi trường thiên
- Planning/Organizing: lên kế hoạch
- Goal Setting: thiết lập mục tiêu
* Thinking: tư duy
- Service Learning: rèn luyện ý thức phục vụ
- Critical Thinking: tư duy phê phán
- Problem Solving: giải quyết vấn đề
- Decision Making: ra quyết định
- Learning to Learn: trau dồi tri thức
Hình 1.1. MÔ HÌNH KỸ NĂNG SỐNG 4-H (Steve McKinley)
2. HEART
* Caring: chu đáo
- Nurturing Relationships: chăm sóc mối quan hệ thân thuộc
- Sharing: chia sẻ
- Empathy: thấu cảm
- Concern for Others: quan tâm đến người khác
* Relating: Liên kết
- Accepting Differences: chấp nhận sự khác biệt
- Conflict Resolution: giải quyết xung đột
- Social Skills: thích ứng xã hội
- Cooperation: hợp tác
- Communication: giao tiếp
3. HAND
* Giving: cho đi
- Community Service Volunteering: tham gia dịch vụ công tự nguyện
- Leadership: lãnh đạo
- Responsible Citizenship: thực thi trách nhiệm công dân
- Contribution to Group Effort: đóng góp vào nỗ lực của nhóm
* Working: làm việc
- Marketable Skills: làm việc hiệu quả
1.2.3. Tự ý thức
Trước hết, tự ý thức là một phạm trù của Triết học. Tự ý thức được xem xét ở việc “con
người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, nhận thức quan hệ của mình, nhận thức quan hệ
của mình với thế giới, nhận thức bản thân m
ình với tính cách một cá nhân, nhận thức các cử
chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, lợi ích của mình” [16].
Trong Tâm lý học, tự ý thức là một vấn đề cơ bản trong nhiều công trình nghiên cứu lý
luận và thực tiễn.
Trong từ điển thuật ngữ Tâm lý học và Phân tâm học xuất bản tại New York [47, tr.486],
tự ý thức được hiểu theo ba nghĩa:
- Một là, điều kiện cảm
xúc của sự tập trung chú ý cao đến cái ấn tượng về những người
khác và do đó, về những mặt hành vi của bản thân xem như nền tảng của những ấn tượng đó.
- Hai là, ý thức về bản thân mình.
- Ba là, ý thức về sự tồn tại của bản thân mình như một cá nhân có bản sắc riêng.
Nhìn chung, về mặt thuật ngữ, tự ý thức được hiểu là ý thức của cá nhân hướng vào chính
bản thân m
ình đồng thời với việc phát hiện ra mình như một nhân cách độc đáo, tự ý thức phải
đi đến xác định được vị trí, giá trị của bản thân trong mối quan hệ với những người khác trong
xã hội.
Về bản chất Tâm lý học, tự ý thức được xem như là “ý thức xuất hiện như năng lực hiểu
được chính mình” [13, tr.71].
A.G.Xpirkin cho rằng “Tự ý thức là sự tự giác của con người về hành động cũng như kết
quả hành động của bản thân m
ình, về tư tưởng, tình cảm, bộ mặt đạo đức, hứng thú, lý tưởng,
động cơ và hành vi. Đó là sự đánh giá tổng thể về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống”
[17, tr.19].
Từ các định nghĩa trên cho thấy, nội dung của tự ý thức là toàn bộ những đặc điểm, thuộc
tính về cơ thể, tâm lý, nhân cách của bản thân chủ thể. Tuy nhiên, các nội dung của tự ý thức
không xuất hiện cùng một thời điểm
hành vi của mình).
- Tự ý thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình [14, tr.40 – 47].
Các công trình nghiên cứu trên học sinh cho thấy, không phải toàn bộ các nét tính cách
được cá nhân bắt đầu ý thức cùng một lúc mà những phẩm chất có liên quan đến nhiệm vụ học
tập được các em ý t
hức trước. Sau đó là những phẩm chất thể hiện thái độ đối với bản thân.
Cuối cùng là những phẩm chất tổng hợp, thể hiện mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách.
Như vậy, sự phong phú về nội dung của tự ý thức tùy thuộc vào trình độ phát triển nhân
cách và sự phong phú trong hoạt động, giao tiếp của mỗi cá nhân.
Xét về mặt cấu trúc của tự ý thức, tác giả V.V. Xtolin cho rằng “tự ý thức là thể thống nhất
không thể tách rời của ba mặt: tự nhận thức, tự tỏ thái độ và tự điều chỉnh” [24, tr.245]
.
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành cũng khẳng định
thành phần của tự ý thức bao gồm “khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với
bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình” [43, tr.48]. Như vậy, cấu trúc của tự ý
thức cũng giống như ý thức có ba mặt: mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt năng động của ý thức.
Theo góc độ chức năng, các tác giả đếu có sự thống nhất cho rằng tự ý thức là yếu tố bên
trong điều khiển, điều chỉnh hành vi, thái
độ của con người. Nhà Tâm lý học I.I. Chexnocova
khẳng định “Tự ý thức là một dạng đặc biệt của ý thức trong đời sống tâm lý của nhân cách, có
chức năng tự điều chỉnh, nhận thức bản thân mình và mối quan hệ với chính mình” [16, tr.329].
Còn tác giả Phạm Hoàng Gia quan niệm rằng “tự ý thức biểu hiện ra ở dấu hiệu tự nhận thức về
mình, có thái độ đối với mình và có khả năng tự kìm chế, tự thúc đẩy, tự kiểm
tra… và là kết
tinh của hoạt động tự giáo dục” [37, tr.13]. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cũng
thống nhất rằng “Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức. Thông thường, tự ý thức biểu
hiện ở những đặc điểm: chủ thể tự nhận thức về bản thân mình, có thái độ rõ ràng đối với bản
thân, tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác, chủ thể có khả năng tự giáo dục,
tự hoàn thiện” [39, tr.80 – 81]
.
Theo sự phát triển tâm lý lứa tuổi, tự ý thức bắt đầu xuất hiện ở tuổi lên 3, khi đứa trẻ biết
sử dụng đúng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít để nói về bản thân m
ình. Trong quá trình
phát triển của trẻ, việc nhận thức người khác luôn xảy ra trước việc nhận thức bản thân, nhận
biết người khác để làm cơ sở nhận biết bản thân. Sự xuất hiện của tự ý thức là sự thay đổi về
chất trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ - các em đã bắt đầu nhận biết về bản thân với
những đặc điểm cơ bản nhất.
Tác giả Lê Văn Hồng khi nghi
ên cứu về sự phát triển nhân cách của học sinh trung học cơ
sở cho rằng “Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, của trí tuệ và đặc biệt là do sự phát triển của
các mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở thiếu niên đã xuất hiện nhu cầu quan
tâm đến đời sống nội tâm
của mình, đến những phẩm chất nhân cách riêng, xuất hiện nhu cầu
TĐG, so sánh mình với người khác… Mức độ tự ý thức của các em TN cũng có khác nhau. Ban
đầu, các em nhận thức hành vi của mình (những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, sau đến toàn bộ hành
vi nói chung). Tiếp đến, là nhận thức những phẩm chất và năng lực của mình trong các phạm vi
khác nhau. Trước hết là những phẩm chất liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ học tập (sự
chú ý, chuyên cần, kiên trì…). Rồi đến những phẩm chất thể hiện thái độ đối với người khác v
à
bản thân. Cuối cùng mới là những phẩm chất phức tạp thể hiện mối quan hệ nhiều mặt của nhân
cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng…)” [14, tr 45 – 46].
Qua quan niệm của các tác giả khi xem xét tự ý thức dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể
thấy những điểm chung là:
- Tự ý thức là ý thức về bản thân, bao gồm năng lực nhận thức và xác định thái độ đối với
bản thân, năng lực tự điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi cũng như sự phát triển nhân cách.
- Tự ý thức hình t
hành và phát triển trong mối quan hệ gắn bó với ý thức, là mức độ phát
triển cao của ý thức.
- TĐG là một mặt biểu hiện, là mức độ phát triển cao của tự ý thức.
Là mặt biểu hiện của tự ý thức ở mức độ cao, TĐG là một khái niệm hẹp hơn, xuất hiện
của bản thân, họ sẽ thể hiện thái độ đối với chính mình, có thể là sự trân trọng hay phủ nhận,
yêu quý hay chối bỏ, hài lòng hay không hài lòng… Đồng thời với việc tỏ thái độ, cá nhân sẽ
điều khiển và điều chỉnh hành vi của m
ình sao cho phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của xã
hội hay của nhóm mà cá nhân là thành viên. Đơn cử như một học sinh nhận thấy mình học chưa
tốt môn Toán, em đó sẽ cố gắng đầu tư, chịu khó nghe giảng trên lớp, chuyên cần học bài ở
nhà, tích cực hỏi thêm thầy, cô, bạn bè để nâng cao kết quả học môn Toán của mình lên. Sở dĩ
em học sinh làm được như vậy chính là do vai trò của tự ý thức. Nhờ có tự ý thức mà con người
không ngừng điều chỉnh bản thân cho ngày càng phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.2.4. Tự đánh gi
á
TĐG là mức độ cao của tự ý thức. Tự ý thức phát triển đến một mức độ nhất định thì TĐG
mới xuất hiện. Khi cá nhân có thể nhận thức rõ ràng về các giá trị của bản thân thì cá nhân mới
có thể đưa ra những nhận định, những đánh giá về các giá trị đó. Có thể nói, tự ý thức chính là
nền tảng, là cơ sở dữ kiện để con người TĐG bản thân.
1.2.4.1. Khái niệm TĐG
Để hiểu về TĐG, trước hết chúng tôi tì
m tiểu về đánh giá. Theo cách hiểu thông thường
“đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật” [36, tr.142].
Trong Tâm lý học, đánh giá được hiểu là “những kết luận được rút ra từ những bằng
chứng, phê phán có suy xét về sự kiện và con người” [49, tr.157].
Dựa vào đối tượng đánh giá, có thể chia đánh giá thành hai loại: đánh giá về những đối
tượng bên ngoài bản thân như về người khác, về sự vật, hiện tượng khách quan… và đánh giá
chính m
ình. Đánh giá về chính bản thân mình còn gọi là TĐG.
Có nhiều nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu về TĐG và có những nét riêng trong quan
niệm của mỗi tác giả khi nghiên cứu về vấn đề này. Một số quan niệm về TĐG có thể kể đến
như sau:
Tác giả V.P Lecovic cho rằng “TĐG là giai đoạn phát triển cao của tự ý thức, nó bao gồm
không chỉ năng lực nhận thức về bản thân mà cả sự đánh giá đúng sức lực, khả năng và
trọng, chính yếu của tiến trình phát triển. Sullivan phân biệt rõ giữa lo lắng và sợ hãi. Sự lo lắng
được phát sinh khi
có một mối đe dọa liên ngôi vị đối với lòng tự trọng của cá nhân, sự sợ hãi
phát sinh từ một mối đe dọa ở bên ngoài đối với sự tồn tại hay sự hội nhập về mặt sinh học.
Hậu quả của lo lắng không hoàn toàn tiêu cực. Lo lắng là một hiện tượn
g tâm lý xuất hiện khi
một cá nhân thực tế bị bản thân hay người khác chối bỏ hoặc hạ thấp. Nếu ai đó đánh giá bản
thân thấp, thì có thể giả thuyết rằng trong lịch sử cuộc đời người đó đã từng bị những người
quan trọng xung quanh đánh giá thấp và người này cảm thấy được sự xúc phạm trong hoàn
cảnh hiện tại [31].
Sullivan cũng đề cập đến việc làm
thế nào con người học cách giảm bớt hoặc chống lại
những ảnh hưởng tiêu cực đối với sự TĐG bản thân của một người. Con người học cách giải
quyết với những ảnh hưởng tiêu cực như vậy trong các dạng khác nhau và với mức độ khác
nhau. Khả năng làm giảm hoặc tránh các tổn thương trong sự TĐG bản thân để duy trì
sự tự tin
ở mức độ tương đối cao là rất quan trọng. Ông tập trung vào mối quan hệ liên nhân cách là nền
tảng của sự TĐG bản thân, sự quan trọng đặc biệt của cha, mẹ, anh, chị, em ruột và sự quan
trọng của các biện pháp làm giảm các sự kiện liên quan đến nguồn gốc của sự TĐG bản thân.
Nhà Tâm lý học S. Franz quan niệm, “sự TĐG là một hình thức đặc biệt của hoạt động
nhận thức”. Đó là “nhận thức của cá nhân về mức độ biểu hiện của các hiện tượng tâm lý, các
phương thức thái
độ… đang tồn tại ở bản thân” [16, tr.25].
Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Ngọc Khanh đưa ra khái niệm “TĐG là một hình thức phát triển
cao của sự tự ý thức, là sự đánh giá tổng thể của một cá nhân về các giá trị bản t
hân với tư cách
là một con người trong hoạt động và giao tiếp với những người khác” [17].
Như vậy, có nhiều quan niệm của các tác giả khác nhau về TĐG. Để thống nhất cho
nghiên cứu này, chúng tôi xác định khái niệm TĐG như sau:
TĐG là mức độ phát triển cao của tự ý thức, là sự đánh giá của cá nhân đối với mặt bên
Những thông tin bên ngoài có thể phù hợp hoặc không phù hợp với nhận thức của bản thâ
n
về những đặc điểm tâm lý đã có. Đối với những thông tin phù hợp thì cá nhân tiếp nhận một
cách dễ dàng. Khi những thông tin bên ngoài không phù hợp với tự nhận thức của bản thân thì
sẽ xuất hiện một khoảng cách về nhận thức giữa cá nhân với những người xung quanh. Nhưng
theo xu hướng chung, cá nhân có nhu cầu đồng nhất về mặt xã hội với nhóm cơ sở. Từ đó, cá
nhân sẽ tìm cách xóa bỏ khoảng cách trên. Tuy nhiên, cách thức tiến hành để xóa bỏ khoảng
cách đó mang tính chủ thể của mỗi cá nhân.
Ở bước thứ hai, sau khi đã thu nhận thông tin về mình, cá nhân sẽ so sánh những thông tin
đó với tự nhận thức của bản thân để xác định những hiện tượng tâm lý này có hay không tồn tại
ở bản thân.
Ở bước thứ ba, cá nhân xem
xét những hiện tượng tâm lý đã được xác định đó trên một
thước đo mang tính chủ quan (đó chính là những giá trị, chuẩn mực đạo đức của xã hội, của
nhóm mà cá nhân tiếp thu được thông qua lăng kính chủ quan của mình). Kết thúc quá trình
này, cá nhân xác định được các hiện tượng tâm lý của mình đang tồn tại ở mức độ nào.
Đến bước thứ tư, cá nhân đưa ra sự phát biểu về bản thân m
ình dưới hình thức TĐG.
Khi diễn ra bốn bước trên, cá nhân có sự liên hệ với hệ thống quan điểm về giá trị và tỏ
thái độ với đặc điểm riêng của bản thân mà S.Franz xem đó là tự phê phán.
Khái niệm TĐG mà S. Franz đưa ra cũng như sự phân tích cơ chế TĐG theo quan niệm
của ông đã làm sáng tỏ một số điểm quan trọng về lý luận TĐG. Ông nhìn nhận TĐG như một
quá trình tự nhận thức đặc biệt, bao gồm các bước tiếp nối nhau trong một cấu trúc vừa chặt chẽ
về logic vừa linh hoạt trong sự so sánh, đối chiếu với đánh gi
á bên ngoài, với hệ thống các tiêu
chuẩn khách quan. Với cách nhìn nhận đó đã cho phép đi sâu vào cơ chế của quá trình phức tạp
này. TĐG là một hiện tượng tâm lý phức tạp nhưng có thể điều chỉnh được. Chúng ta có thể lần
theo từng bước của quá trình để tìm
ra nguyên nhân sai sót và khắc phục:
- Có thể cá nhân bị thiếu sót trong việc thu nhận thông tin từ bên ngoài hay tự quan sát.