phân tích thống kê thực trạng chi tiêu cho y tế của hộ gia đình - Pdf 14

Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH THỐNG KÊ THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO
Y TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH
(Theo số liệu khảo sát mức sống dân cư của TCTK năm 2004, 2006)
Giáo viên hướng dẫn : TH.S CHU THỊ BÍCH NGỌC
Sinh viên : NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
Chuyên ngành : Thống kê kinh tế xã hội
Lớp : Thống kê 47A
Khóa : 47
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
6
CHƯƠNG 1 6
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ 6
1.1 Các khái niệm cơ bản về chi tiêu cho y tế của hộ 6
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho y tế của hộ gia đình 8
1.4 Đặc điểm số liệu và phương pháp nghiên cứu 19
1.4.1 Nguồn số liệu 19
1.4.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH 24
2.1 Khảo sát, phân tích tình hình chi tiêu cho y tế thực tế của hộ gia đình 24
2.1.1 Chi tiêu cho y tế bình quân đầu người/tháng phân theo khu vực 25
theo khu vực 25
Nguồn: Tính toán dựa vào kết quả KSMS của TCTK năm 2006 25
2.1.3 Phân tích cơ cấu chi cho y tế phân theo dân tộc 30
2.1.4 Phân tích cơ cấu chi cho y tế phân theo 5 nhóm và giới tính chủ hộ 32
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ

2.4 Thực trạng đến các cơ sở y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của hộ 55
2.4 Thực trạng đến các cơ sở y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của hộ 55
B. ĐỒ THỊ
LỜI MỞ ĐẦU 4
6
6
CHƯƠNG 1 6
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ 6
1.1 Các khái niệm cơ bản về chi tiêu cho y tế của hộ 6
1.4 Đặc điểm số liệu và phương pháp nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH 24
2.1 Khảo sát, phân tích tình hình chi tiêu cho y tế thực tế của hộ gia đình 24
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ
gia đình 44
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ
gia đình 44
2.3 Phân tích biến động của chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình (dựa
vào số liệu khảo sát mức sống dân cư năm 2004, 2006) 51
2.3 Phân tích biến động của chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình (dựa
vào số liệu khảo sát mức sống dân cư năm 2004, 2006) 51
2.4 Thực trạng đến các cơ sở y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của hộ 55
2.4 Thực trạng đến các cơ sở y tế và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của hộ 55
LỜI MỞ ĐẦU
Mức sống của người dân luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Để tìm ra
biện pháp nâng cao và phát triển mức sống dân cư của người dân, của hộ gia đình
Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều cuộc điều tra, đặc biệt với sự giúp đỡ của
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
các nước khác Tổng cục Thống kê (TCTK) đã tiến hành các cuộc khảo sát mức
sống dân cư ở các năm 1993; 1999; 2002; 2004 và đặc biệt là năm 2006_cuộc khảo

được phần nào thực trạng chi tiêu cho y tế và mức sống của dân cư năm 2006.
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phần phục lục và danh mục
tài liệu tham khảo, đề tài còn bao gồm 2 phần sau:
Chương 1: Khái quát chung về chi tiêu cho y tế của hộ gia đình Việt Nam
Chương 2: Phân tích chi tiêu cho y tế của hộ gia đình Việt Nam năm 2006
(Dựa trên số liệu KSMS của TCTK năm 2004, 2006)
Tuy có nhiều cố gắng nhưng do thời gian có hạn và trình độ còn hạn chế nên
bài trình bày không tránh khỏi thiếu sót, em kính mong được các thầy cô chỉ bảo và
các bạn góp ý để bài trình bày được tốt hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ
1.1 Các khái niệm cơ bản về chi tiêu cho y tế của hộ
1.1.1 Hộ gia đình
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
Là đơn vị cơ bản của phân tích trong cuộc khảo sát mức sống dân cư của
Tổng cục Thống kê. Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn
chung. Những người này có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có
hoặc không có mối quan hệ ruột thịt.
1.1.2 Chi tiêu cho y tế hộ gia đình
Là tổng số tiền của hộ gia đình phải chi cho tất cả các khoản có liên quan
đến y tế, bao gồm phòng bệnh, nâng cao sức khỏe và khám, chữa bệnh. Chi của hộ
gia đình có thể là các khoản chi trước khi bị ốm (mua bảo hiểm y tế…) hoặc chi
trực tiếp từ tiền túi khi sử dụng dịch vụ (trả viện phí, mua thuốc…)
Chi tiêu trực tiếp từ tiền túi cho y tế khi sử dụng dịch vụ là khoản tiền hộ
gia đình phải trả trực tiếp cho dịch vụ y tế khi sử dụng dịch vụ, chủ yếu là chi mua
thuốc, chi trả viện phí, phí xét nghiệm, chuẩn đoán cận lâm sàng và các chi phí khác
liên quan đến khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân (trong đó có
việc tự mua thuốc). Các khoản chi trực tiếp này thường tạo gánh nặng chi phí cho
người bệnh, là một trong các nguyên nhân gây nghèo đói, bất công bằng trong chăm

- Đặc điểm hộ:
• Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các
thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định.
Thu nhập của hộ gia đình bao gồm: Thu từ tiền công; tiền lương; Thu từ sản
xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); Thu từ
sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế
sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài
sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)
Thu nhập bình quân đầu người =
Tổng thu nhập của dân cư
Dân số trung bình
Mức thu nhập bình quân đầu người phản ánh mức thu nhập đại biểu chung
nhất của từng vùng, từng địa phương, từng nước.
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
Chia theo tổng số hộ theo 5 nhóm thu nhập (mỗi nhóm 20% số hộ): Nhóm 1:
Nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm nghèo nhất); Nhóm 2: Nhóm có thu nhập dưới
trung bình; Nhóm 3: Nhóm có thu nhập trung bình; Nhóm 4: Nhóm có thu nhập
khá; Nhóm 5: Nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm giàu nhất)
• Chi tiêu của hộ gia đình là tổng số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các
thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng trong một thời gian nhất định, bao gồm cả tự
sản, tự tiêu về lương thực, thực phẩm, phi lương thực, thực phẩm và các khoản chi
tiêu khác (biếu, đóng góp…). Các khoản chi tiêu của hộ không bao gồm chi phí sản
xuất, thuế sản xuất, gửi tiết kiệm, cho vay, trả nợ và các khoản chi tương tự.
Chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình trong một thời kỳ là toàn bộ số
tiền và giá trị hiện vật mà hộ gia đình và các thành viên của hộ đã chi cho tiêu dùng
bình quân cho một người trong một thời gian nhất định (thường là một tháng, một
năm). Được tính theo công thức:
Chi tiêu bình quân đầu
người/tháng của hộ kỳ
báo cáo

tăng
Tốc độ
tăng (%)
Thu nhập bình quân đầu người/tháng 484,4 636,5 152,1 31,4
Chi tiêu bình quân đầu người/tháng 396,8 511,4 114,6 28,88
Chi cho y tế bình quân đầu người/tháng 25,3 29,3 4 15,81
Tỷ lệ hộ nghèo (%) 18,1 15,5 -2,6 -14,36
Nguồn: Khảo sát mức sống dân cư của TCTK 2004, 2006
Từ năm 2004 đến năm 2006 thu nhập bình quân đầu người/tháng tăng từ
484,4 nghìn đồng năm 2004 lên tới 636,5 nghìn đồng năm 2006, lượng tăng tuyệt
đối là 152,1 nghìn đồng, tốc độ tăng năm 2006 so với năm 2004 đạt 31,4%. Khi
phân theo thành thị và nông thôn: ta thấy thu nhập bình quân đầu người/tháng ở
thành thị và nông thôn ngày càng tăng nhưng tốc độ tăng lại khác nhau:
Xét đến chi tiêu bình quân đầu người/tháng ta thấy chi tiêu bình quân đầu
người/tháng của hộ gia đình năm 2004 đến năm 2006 cũng tăng nhưng tốc độ tăng
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
thấp hơn so với thu nhập bình quân đầu người/tháng cụ thể: từ 396,8 nghìn đồng
năm 2004 tăng lên 511,4 nghìn đồng năm 2006 tức tăng: 114,6 nghìn đồng, tốc độ
tăng là 28,88%. Mặt khác, năm 2004 chi tiêu bình quân đầu người/tháng chiếm
81,92% trong tổng số thu nhập bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình, sang
năm 2006 tỷ lệ này là đã giảm xuống còn 80,35%.
Đặc biệt khi phân tích chi tiêu bình quân đầu người/tháng theo các khoản chi
ta thấy năm 2006 chi cho đời sống đạt 460 nghìn đồng chiếm 90% trong tổng chi
tiêu và chi tiêu khác 51 nghìn đồng chỉ chiếm 10%. Trong chi tiêu cho đời sống có
tới 243 nghìn đồng chi ăn, uống, hút chiếm 52,83% trong tổng chi tiêu cho đời sống
và 218 nghìn đồng chi cho ăn uống hút. Xét về lượng tuyệt đối các chỉ tiêu này đề
tăng so với năm 2004 như chi tiêu cho đời sống năm 2004 chỉ có 360 nghìn đồng,
chi cho ăn, uống, hút đạt 193 nghìn đồng chiếm 53,61% trong chi cho đời sống của
hộ gia đình Việt Nam vẫn là một nước nghèo vì tỷ trọng chi cho ăn, uống, hút so
với chi tiêu cho đời sống vẫn còn cao (53,61% năm 2004 và 52,83% năm 2006) tuy

vấn là “mọi người đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe”, tình trạng bất bình đảng
giữa các nhóm thu nhập, các khu vực được giảm thiểu. Vì vậy, Nhà nước ta đã ngày
càng quan tâm và chi ngân sách nhiều hơn cho y tế. Cụ thể:
Bảng 1.2: Quyết toán chi ngân sách nhà nước
Đơn vị: Tỷ đồng
2004 2006
TỔNG CHI 214.176 308.058
Trong đó
Chi đầu tư phát triển 66.115 88.341
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội 107.979 161.852
Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo 25.343 37.332
Chi sự nghiệp y tế 6.009 11.528
Chi dân số kế họach hoá gia đình 397 489
Chi sự nghiệp khoa học và CNMT 2.362 2.540
Chi sự nghiệp văn hoá, thông tin 1.584 1.874
Chi sự nghiệp phát thanh, truyền hình 1.325 1.184
Chi sự nghiệp thể dục, thể thao 883 956
Chi lương hưu, đảm bảo xã hội 17.282 22.157
Chi sự nghiệp kinh tế 10.301 14.212
Chi quản lý hành chính 15.901 18.515
Chi bổ sung quĩ dự trữ tài chính 78 135
Nguồn: Niên giám thống kê của TCTK năm 2007
Từ bảng số liệu ta thấy, trong tổng chi của ngân sách nhà nước cho phát triển
sự nghiệp kinh tế năm 2006 thì chi sự nghiệp y tế đứng thứ 4 sau chi sự nghiệp giáo
dục, đào tạo; chi lương hưu, đảm bảo xã hội; chi quản lý hành chính và chi cho sự
nghiệp kinh tế. Tổng chi từ ngân sách cho sự nghiệp y tế ngày càng tăng từ 6.009
tỷ đồng năm 2004 lên 11.528 tỷ đồng năm 2006 tăng 5.519 tỷ đồng và tăng 91,85%
so với năm 2004 (gần gấp đôi so với năm 2004). Trong năm 2004, chi sự nghiệp y
tế chiếm
6.009

Y sĩ 49,2 48,8
Y tá 49,2 55,4
Bác sĩ bình quân cho 1 vạn dân (người) 6,1 6,3
Cán bộ ngành dược
Dược sĩ cao cấp 5,6 5,5
Dược sĩ trung cấp 9,1 10,8
Dược tá 7,9 7,9
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2006
Ta thấy y sĩ, dược sĩ cao cấp, dược tá năm 2006 so với năm 2004 còn các cán
bộ y tế khác năm 2006 đều tăng so với năm 2004 nhưng tốc độ tăng lại quá thấp cụ
thể: năm 2006 bác sĩ chỉ tăng có 2,7 nghìn người so với năm 2004, y tá tăng từ 49,2
nghìn người năm 2004 lên 55,4 nghìn người năm 2006 tăng 6,2 nghìn người tức
tăng 12,6% trong khi đó dân số trung bình của nước ta lại khá đông và tiếp tục tăng
từ 82.031,7 nghìn người năm 2004 lên 84155,8 nghìn người năm 2006_tăng hơn so
với năm 2004 là 2.124,1 nghìn người. Mặt khác nhìn vào bảng ta thấy, bác sĩ bình
quân cho một vạn người chỉ có 6,3 người và số bác sĩ trực thuộc sở y tế năm 2006
thì tập trung chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Hồng với 9.866 bác sĩ trên 18.207,9 nghìn
người bác sĩ bình quân cho một vạn dân là 5,42 người và ở Đông Nam Bộ với
7.544 bác sĩ trên 13.798,4 nghìn người (bác sĩ bình quân cho một vạn dân là 5,47
bác sĩ) trong khi đó Tây Bắc chỉ có 1.130 bác sĩ trên 2.606,9 nghìn người (bác sõ
bình quân cho một vạn dân chỉ có 4,33 bác sĩ).
Bảng 1.4: Tình trạng sức khỏe của các nhóm thu nhập năm 2006
Đơn vị: %
Tỷ lệ người mắc
bệnh/chấn thương
Tỷ lệ người có khám,
chữa bệnh
Tỷ lệ dân số có
bảo hiểm y tê

các chính sách thích hợp để vừa nâng cao mức sống của người dân vừa hạn chế tình
trạng bất bình đẳng giữa các nhóm, các vùng.

1.3 Ảnh hưởng của các nhân tố đến chi tiêu cho y tế của hộ gia đình
Nếu như ở Mỹ vào năm 1986 chi phí y tế cho một đầu người chỉ có 1.872
USD thì đến năm 2000 chi phí này đã tăng đến 5.039 USD và ước tính đến năm
2010 có thể lên đến 8.228 USD. Vấn đề này có nhiều nguyên do trong đó có việc
xuất hiện của ngày càng nhiều các trang thiết bị chẩn đoán và điều trị đắt tiền nhất
là các trang thiết bị mới. Ở nhiều nước tình trạng tăng chi phí dành cho y tế còn có
nguyên do từ việc xuất hiện nhiều bệnh do lối sống trong đó có bệnh tim mạch, tiểu
đường, các rối loạn tâm thần kể cả nhiều bệnh lây như AIDS, bệnh lây qua đường
tính dục…Vậy ở nước ta thì sao, chi cho y tế của hộ gia đình như thế nào? và ảnh
hưởng của các yếu tố đến cho y tế ra sao?
Ta cũng biết, một trong những mục tiêu hàng đầu của ngành y tế Việt Nam
là đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất
lượng. Tuy nhiên vẫn có những chênh lệch về chi cho y tế của hộ gia đình ở thành
thị và nông thôn; ở các vùng với nhau. Cụ thể, khi chia nước ta ra thành 8 vùng:
Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung
Bộ, Tây nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long ta có: chi cho y tế
bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình ở Đông Nam Bộ là cao nhất lên tới
40,14 nghìn đồng chiếm 3,77% trong tổng thu nhập bình quân đầu người/tháng ;
sau đó đến Đồng Bằng Sông Cửu Long là 32,31 nghìn đồng; và thấp nhất là Tây
Bắc chỉ có 11,54 nghìn đồng chiếm 3,09% trong tổng thu nhập bình quân đầu
người/tháng và chỉ bằng 0,29 lần so với chi cho y tế bình quân đầu người/tháng của
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
hộ gia đình ở khu vực Đông Nam Bộ.
Đặc biệt, thu nhập của hộ là nhân tố quan trọng quyết định khả năng chi trả
các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nó cũng ảnh hưởng đến lợi ích thu được khi tìm
kiếm việc chăm sóc. khi ta quan tâm đến thu nhập bình quân đầu người/tháng của
hộ gia đình ta thấy: những khu vực có thu nhập cao thì chi cho y tế cũng cao và

viết và số học ở trường và tiếp xúc với xã hội hiện đại nói chung thông qua học có
thể tăng cường khả năng của người mẹ để chữa trị bệnh tật trẻ em thay đổi thái độ
của mình đối với các phương pháp nâng cao điều trị các vấn đề về sức khỏe: biết
kết hợp các thức ăn và hàng hóa phù hợp với sức khỏe của trẻ cong…ngoài ra giáo
dục còn giúp phụ nữ tăng thu nhập cho gia đình. Do đó giáo dục phải kết hợp với
sức khỏe.
Sức khỏe chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố do đó để nâng cao sức khỏe
không chỉ là chăm sóc y tế mà còn là tổng thể phát triển của xã hội, văn hóa, kinh tế
và giáo dục.
1.4 Đặc điểm số liệu và phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nguồn số liệu
Nguồn số liệu chính được sử dụng trong đề tài này là kết quả điều tra mức
sống dân cư năm 2006 với mẫu khảo sát thu nhập và chi tiêu là 9.189 hộ; được chọn
đại diện từ 8 vùng và 3.063 xã phường. Tuy nhiên do vấn đề thiếu thông tin trong
một số quan sát, chỉ có 8.615 hộ được sử dụng trong đề tài này. Các số liệu đã công
bố trên trang web: http://www.gso.gov.vn của Tổng cục Thống kê.
Ngoài các thông tin về hộ như thu nhập, chi tiêu của hộ, đặc điểm chủ hộ
(giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn…)…Cuộc điều tra cũng thu nhập số liệu về
các điều kiện đường xá, cơ sở y tế…
1.4.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chi tiêu cho y tế của các hộ gia đình Việt Nam năm
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
2006 phân theo các khoản chi; theo vùng; theo khu vực; theo dân tộc và theo 5
nhóm (thu nhập; chi tiêu và theo chi tiêu cho y tế của hộ gia đình). Ngoài ra còn
nguyên cứu chi phí một lần khám, chữa bệnh ngoại trú-nội trú, số lần đến cơ sở y tế
và lý do đến cơ sở y tế đó của các thành viên trong hộ gia đình Việt Nam năm 2006.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài cơ bản dựa vào kết quả của cuộc khảo sát
mức sống dân cư của TCTK năm 2004 và 2006.
Tuy thu nhập và chi tiêu của hộ mang tầm quan trọng hàng đầu thể hiện mức
sống của dân cư nhưng tình hình y tế của cả nước và chi tiêu cho y tế của hộ gia

Để phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian ta có thể tính
các chỉ tiêu sau: mức độ bình quân qua thời gian; lượng tăng hoặc giảm tuyệt đối
(liên hoàn hay từng kỳ, định gốc, bình quân); tốc độ phát triển (liên hoàn, định gốc,
bình quân); tốc độ tăng hoặc giảm (liên hoàn, định gốc, bình quân); và cuối cùng là
giá trị tuyệt đối 1 % của tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn.
Trong chuyên đề này chủ yế em sử dụng chỉ tiêu lượng tăng giảm tuyệt đối
của chi tiêu cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình qua các năm: để
phản ánh sự biến động về mức độ chi tiêu cho y tế bình quân đầu người/tháng tuyệt
đối giữa hai thời gian. Ngoài ra trong đề tài còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ phát triển
của chi tiêu cho y tế bình quân đầu người/tháng của hộ gia đình qua 2 năm 2004 và
2006: cho phép phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của chi tiêu cho y tế bình
quân đầu người/tháng năm 2006 so với 2004.
 Phân tích hồi quy và tương quan
Phân tích hồi quy là một phân tích thống kê để xác định xem các biến độc
lập (biến thuyết minh) quy định các biến phục thuộc (biến được thuyết minh) như
thế nào.
Liên hệ tương quan là mối liên hệ không hoàn toàn chặt chẽ giữa tiêu thức
Nguyễn Thị Thu Hương Chuyên đề thực tập
nguyên nhân và tiêu thức kết quả: cứ mỗi giá trị của tiêu thức nguyên nhân sẽ có
nhiều giá trị tương ứng của tiêu thức kết quả. Các mối liên hệ này không hoàn toàn
chặt chẽ, không được biểu hiện một cách rõ ràng trên từng đơn vị cá biệt. Do đó, để
phản ánh mối liên hệ tương quan thì phải nghiên cứu hiện tượng số lớn_tức là thu
thập tài liệu về tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả của nhiều đơn vị.
Phân tích tương quan trước hết là đo mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tương
quan được thực hiện thông qua việc tính toán các hệ số tương quan, tỷ số tương
quan, hệ số tương quan bội, hệ số tương quan riêng phần. Dựa vào kết quả tính toán
có thể kết luận về mức độ chặt chẽ của mối liên hệ, giúp việc nhận thức hiện tượng
được sâu sắc, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể.
Nhiệm vụ của phân tích hồi quy là căm cứ vào nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
để chọn ra một, hai, ba…tiêu thức nguyên nhân và một tiêu thức kết quả. Các tiêu

0 0 0 1 0 0
0 1 0
*
x f x f x f
f f f
x f x f x f
f f f
=
∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑
Hệ thống chỉ số phân tích chỉ tiêu bình quân trên ta áp dụng để phân tích chi
tiêu cho y tế bình quân đầu người/tháng chung cả nước do ảnh hưởng của chi tiêu
bình quân đầu người/tháng của khu vực và cơ cấu dân cư.
- Hệ thống chỉ số phân tích biến động tổng lượng biến tiêu thức
Các mô hình phân tích biến động chi tiêu cho y tế bình quân một nhân
khẩu/tháng của hộ gia đình năm 2006 so với năm 2004:
Tổng mức chi tiêu cho y tế
( ) * *
i
f
i i i i i
T x f x f x d f= = =
∑ ∑ ∑ ∑
i
x
: chi tiêu cho y tế bình quân nhân khẩu / 1 tháng năm i.
i
f

hợp để nâng cao mức sống dân cư.
+/ Mô hình 2: Tổng mức chi tiêu cho y tế một tháng năm 2006 so với năm 2004 do
ảnh hưởng của chi tiêu cho y tế bình quân cả nước và tổng dân số cả nước.
Được phân tích qua công thức:
1 1 1 1 0 1
0 0 0 1 0 0
*
x f x f x f
x f x f x f
=
∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑
+/ Mô hình 3: Tổng mức chi tiêu cho y tế một tháng năm 2006 so với năm 2004 do
ảnh hưởng của chi tiêu cho y tế cá biệt từng khu vực, cơ cấu dân số và tổng dân số :
1 1 1 1 01 1 0 1
0 0 01 1 0 1 0 0
* *
x f x f x f x f
x f x f x f x f
=
∑ ∑ ∑ ∑
∑ ∑ ∑ ∑
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHI TIÊU CHO Y TẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH
(Dựa trên số liệu khảo sát mức sống dân cư của TCTK năm 2004, 2006)
2.1 Khảo sát, phân tích tình hình chi tiêu cho y tế thực tế của hộ gia đình
Như là một hệ quả của phát triển kinh tế, khoảng cách giữa người giàu và
nghèo càng ngày càng gia tăng, nhất trong lĩnh vực sức khỏe. Một xu hướng chung
trên thế giới ngày nay là các nước giàu có chi tiêu cho y tế nhiều hơn các nước
nghèo, dù sức khỏe của họ nói chung tốt hơn so với các nước nghèo. Ở nước ta

tế/tháng
Chi tiêu cho y tế bình
quân đầu người/tháng
Chung 36.643 1.076.613,53 29,3
Vùng 1 6.972 224.010,4 32,13
Vùng 2 5.346 106.920 20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status