xây dựng một số câu hỏi trắc nghiệm về lịch sử vật lý - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA VẬT LÝ
 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:

XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU HỎI
TRẮC NGHIỆM VỀ LỊCH SỬ
VẬT LÝ GVHD : Th.S NGUYỄN THỊ THẾP
SVTH : NGƠ THỊ DIỆU HIỀN
KHĨA : K30
soạn các câu trắc nghiệm sẽ giúp em rèn luyện và nâng cao kỹ năng soạn các câu
hỏi trắc nghiệm phục vụ cho quá trình giảng dạy của bản thân sau này.
Trong quá trình hoàn thành luận văn, mặc dù em đã hết sức cố gắng tham
khảo nhiều tài liệu, nhưng do Lòch sử vật lý là một bộ môn có phạm vi kiến thức
rất rộng, cũng như kỹ năng soạn thảo các câu trắc nghiệm của em còn nhiều hạn
chế, nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến quý báu của giáo viên hướng dẫn và các thầy cô trong khoa. Tháng 5 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Ngô Thò Diệu Hiền
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền
PHẦN I

LÝ LUẬN CHUNG
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền
đến nay.

* Những điểm khác nhau giữa trắc nghiệm và tự luận:

(1) Một câu hỏi thuộc loại tự luận đòi hỏi thí sinh phai tự mình soạn câu trả lời
và diễn tả nó bằng ngơn ngữ của chính mình. Mặt khác, một câu hỏi trắc nghiệm buộc thí
sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn.
(2) Một bài tự luận gồm số câu hỏi tương đối ít và tính cách tổng qt, đòi hỏi thí
sinh phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khi một bài trắc nghiệm thường
gồm nhiều câu hỏi có tính cách chun biệt chỉ đòi hỏi những câu trả lời ngắn gọn.
(3) Trong khi làm một bài tự luận, thí sinh phải bỏ phần lớn thời gian để suy nghĩ
và viết. Mặt khác, trong khi làm một bài trắc nghiệm,thí sinh dùng nhiều thời giờ để đọc
và suy nghĩ.
(4) Chất lượng của một bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kỹ năng
của người soạn thảo bài trắc nghiệm ấy; ngược lại, chất lượng của một bài tự luận tùy
thuộc chủ yếu vào kỹ năng của người chấm bài.
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền(5) Một bài thi theo lối tự luận tương đối dễ soạn nhưng khó chấm và khó cho
điểm chính xác; trong khi bài trắc nghiệm khó soạn, nhưng việc chấm và cho điểm tương
đối dễ dàng và chính xác hơn.
(6) Với loai tự luận, thí sinh có nhiều tự do bộc lộ cá tính của mình trong câu trả
lời, và người chấm bài cũng tự do cho điểm các câu trả lời theo xu hướng riêng của mình.
Mặt khác, với một bài trắc nghiệm, người soạn thảo có nhiều tự do bộc lộ kiến thức và
các giá trị của mình qua việc đặt câu hỏi, nhưng chỉ cho thí sinh quyền tự do chứng tỏ
mức hiểu biết của mình qua tỉ lệ câu trả lời đúng.
(7) Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ học tập của người học, và cơ sở trên
đó giám khảo thẩm định mức độ hồn thành các nhiệm vụ đó, được phát biểu một cách

thể, bằng lối đốn mò, tình cờ đạt được điểm số cao hơn là nếu anh ta cẩn thận suy nghĩ
về từng câu hỏi để cố gắng đưa ra câu trả lời đúng. Thế nhưng, trong thực tế, ít khi thí
sinh có kỳ vọng đạt được điểm cao trên một bài trắc nghiệm dài, gồm nhiều câu hỏi và
mỗi câu có nhiều lựa chọn. Do đó, tuy rằng thí sinh có thể đốn mò với một bài trắc
nghiệm, lối đốn mò ấy rất hiếm khi đem đến lợi lộc gì cho họ.
Lối áp dụng cơng thức điều chỉnh lại điểm số trắc nghiệm bằng cách trừ điểm các
câu làm sai được đặt trên giả định sai lầm là tất cả những câu làm sai đều là những câu
đốn mò. Thật ra, khơng phải lúc nào thí sinh cũng áp dụng lối đốn mò. Thí sinh chỉ
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềnđốn mò trong một bài thi khi họ khơng có chút kiến thức nào liên quan đến câu hỏi, khi
đã gần hết giờ làm bài, hay khi họ khơng còn hứng thú để cố gắng lựa chọn câu tra lời có
suy nghĩ. Thơng thường hơn, thí sinh khơng hẳn là đốn mò mà chi là khơng chắc chắn
hồn tồn về câu trả lời hay lựa chọn của mình.
Một trong các phương pháp tìm hiểu xem các thí sinh có đốn mò hay khơng là
xem xét độ tin cậy của bài trắc nghiệm ấy. Nếu bài trắc nghiệm của ta có hệ số tin cậy
cao, ta có thể tin tưởng rằng sự đốn mò chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào các điểm số
của thí sinh.
Dẫu sao, việc ngăn ngừa sự đốn mò, cũng như các kỹ thuật sửa chữa sự đốn
mò vẫn là mối quan tâm đặt biệt của các nhà nghiên cứu trắc nghiệm hiện đại.

b. Trắc nghiệm chỉ đòi hỏi người học nhận ra thay vì nhớ thơng
tin?

Một chỉ trích thứ hai vẫn thường được nêu ra về trắc nghiệm là cho rằng trắc
nghiệm chỉ đòi hỏi thí sinh “nhận ra” những gì đã học qua các câu trả lời cho sẵn, thay vì
“nhớ” các thơng tin ấy và viết ra trên giấy. Cũng như phần nhiều các chỉ trích khác, lối
phê phán này thường dựa trên cảm tính hơn là trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềncác nhà làm trắc nghiệm phân tích được những khả năng nào mà bài trắc nghiệm họ soạn
thảo đã có thể khảo sát được.

d. Trắc nghiệm khơng khảo sát đuợc khả năng sáng tạo?

Như Robert L. Ebel đã nêu, với tự luận thí sinh có quyền tự do diễn tả ý tưởng
của mình bằng văn viết, trong khi trắc nghiệm chỉ cho phép họ lựa chọn trong số các giả
đáp cho sẵn. Như vậy phải chăng trắc nghiệm khơng khuyến khích khả năng sáng tạo?
Người ta vẫn thường cho rằng tự luận khuyến khích sự sáng tạo. Quả thật điều
này là một trong các ưu điểm của tự luận. Nhưng trong thực tế, nhất là trong các kỳ thi ở
nước ta, các bài thi tự luận thường chỉ nhằm khảo sát khả năng “nhớ” hay học thuộc long
những gì học sinh đã học hay đã đọc qua các bài giảng hay sách vở. Khả năng sáng tạo,
khả năng đưa ra những tư tưởng độc đáo ít khi được thể hiện, trái lại có thể gây bất lợi
cho thí sinh. Dẫu sao đây chỉ là một trong các khuyết điểm do sự áp dụng chưa đúng
phương pháp soạn thảo đề thi và chấm thi theo lối tự luận. Trên ngun tắc, bài tự luận
cho phép thí sinh tổ chức các ý tưởng của mình và trình bày các ý tưởng ấy bằng chính
ngơn ngữ của mình, thay vì diễn tả lại như vẹt những gì đã có sẵn từ các nguồn thơng tin
khác. Do đó, về mặt ngun tắc, tự luận có thể khêu gợi tinh thần sáng tạo và phát huy
khả năng ấy.
Mặt khác, trắc nghiệm hồn tồn khách quan gồm những câu hỏi với câu trả lời
cho sẵn mà thí sinh chỉ việc lựa chọn, và điểm số của bài thi dựa vào tổng số các câu trả
lời đúng. Như vậy, một bài trắc nghiệm hồn tồn khách quan khó có thể khảo sát khả
năng sáng tạo. Vì vậy gần đây, các nhà soạn thảo trắc nghiệm thường xen vào bài trắc
nghiệm những câu hỏi thuộc loại điền khuyết hay trả lời ngắn. Các câu trả lời này được
đánh giá theo mức độ đạt được các tiêu chuẩn sáng tạo đã định sẵn. Như vậy, trắc
nghiệm loại này khơng còn hồn tồn khách quan nữa, vì có các yếu tố chủ quan xen

tự luận để khảo sát thành quả học tập trong những trường hợp dưới
đây:

(1) Khi nhóm học sinh được khảo sát khơng q đơng và đề thi chỉ được sử dụng
một lần, khơng dùng lại nữa.
(2) Khi giáo viên cố gắng tìm mọi cách có thể được để khuyến khích và tưởng
thưởng sự phát triển kỹ năng diễn ta bằng văn viết.
(3) Khi giáo viên muốn thăm dò thái độ hay tìm hiểu tư tưởng của học sinh về
một vấn đề nào đó hơn là khảo sát thành quả học tập của chúng.
(4) Khi giáo viên tin tưởng vào tài năng phê phán và chấm bài tự luận một cách
vơ tư và chính xác hơn là khả năng soạn thảo những câu trắc nghiệm thật tốt.
(5) Khi khơng có nhiều thời gian soạn thảo bài khảo sát nhưng lại có nhiều thời
gian để chấm bài.

Ta nên sử dụng trắc nghiệm trong những trường hợp:

(1) Khi ta cần khảo sát thành quả học tập của một số đơng học sinh, hay muốn
rằng bài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác.
(2) Khi ta muốn có những điểm số đáng tin cậy, khơng phụ thuộc vào chủ quan
của người chấm bài.
(3) Khi các yếu tố cơng bằng, vơ tư, chính xác là những yếu tố quan trong nhất
của việc thi cử.
(4) Khi ta có nhiều câu trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn để có thể lựa chọn và
soạn lại một bài trắc nghiệm mới, và muốn chấm nhanh để sớm cơng bố kết quả.
(5) Khi ta muốn ngăn ngừa nạn “học tủ”, “học vẹt”, và gian lận thi cử.

Cả trắc nghiệm và tự luận đều có thể sử dụng để:

(1) Đo lường mọi thành quả học tập.
(2) Khảo sát khả năng hiểu và áp dụng các ngun lý.

người soạn trắc nghiệm khơng cần phải tìm ra phần trả lời cho học sinh lựa chọn.
- Độ may rủi cao (50%) do đó dễ khuyến khích người trả lời đốn mò.

c. Những u cầu khi soạn câu trắc nghiệm Đ – S:

- Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu
phức tạp, bao gồm q nhiều chi tiết.
- Lựa chọn những câu phát biểu sao cho một người có khả năng trung bình khơng
thể nhận ra ngay là (Đ) hay (S) mà khơng cần suy nghĩ.
- Những câu phát biểu mà tính chất (Đ), (S) phải chắc chắn, có cơ sở khoa học.
- Tránh những câu phát biểu trích ngun văn từ sách giáo khoa, như vậy sẽ
khuyến khích học sinh học thuộc lòng máy móc.
- Tránh dùng các từ: thơng thường, đơi khi, một số người, … vì thường là câu
phát biểu (Đ).

2. Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (Multiple choice
question, thường viết là MCQ).
a. Cấu trúc
:

Gồm 2 phần: phần gốc và phần lựa chọn.
* Phần gốc: là một câu hỏi (kết thúc là dấu hỏi) hay câu bỏ lửng (chưa hồn tất).
Trong phần gốc, người soạn trắc nghiệm đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ
ràng giúp cho người trả lời hiểu rõ câu trắc nghiệm ấy muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu
trả lời thích hợp.
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền

+ Bước 3: Thống kê phân loại các câu trả lời sai và ghi tần số xuất hiện từng loại
câu sai.
+ Bước 4: Ưu tiên chọn những câu sai có tần số cao làm mồi nhử.
3. Loại đối chiếu cặp đơi (Matching test)

a. Cấu trúc
:

Gồm 3 phần:
- Phần chỉ dẫn cách trả lời.
- Phần gốc (cột 1): gồm những câu ngắn, đoạn, chữ…
- Phần lựa chọn (cột 2): gồm những câu ngắn, chữ, số…
Trong phần chỉ dẫn cần chỉ ra cho người làm trắc nghiệm biết cách ghép các từ,
các đoạn, chữ của 2 cột với nhau cho đúng, có ý nghĩa, hợp logic.

b. Chú ý
:

- Khơng nên đặt số lựa chọn ở hai cột bằng nhau vì như vậy làm cho học sinh dự
đốn được sau khi biết một số trường hợp.
- Khơng nên soạn các lựa chọn q dài làm mất thời gian của học sinh.
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền
4. Loại câu điền khuyết (filling test).

a. Cấu trúc
: có 2 dạng

trọng tâm và mức độ cho các mục tiêu khảo sát, viết được các câu hỏi phù hợp.

2. Cần những hiểu biết và khả năng khéo léo trong kỹ thuật ra đề
trắc nghiệm. Nói gọn là: “Am hiểu kỹ thuật soạn trắc nghiệm”.

Khả năng này khơng tự nhiên mà có, phải được học và rèn luyện dần dần qua
nhiều lần soạn thảo câu trắc nghiệm.
Mỗi giáo viên cần tích cực nghiên cứu trắc nghiệm, có ý thức tìm và tham khảo
kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm do các nhà chun mơn và các giáo viên có kinh
nghiệm soạn thảo.

3. Cần rèn luyện khả năng diễn đạt ý tưởng một cách chính xác
bằng những câu văn ngắn gọn, rõ ràng. Nói gọn là: “Khả năng viết
ngắn, rõ, chính xác các ý tưởng”.

Phần câu hỏi của các loại câu trăc nghiệm đều phải làm rõ ý muốn hỏi, bảo đảm
tính đơn nhất, chỉ tập trung vào một khía cạnh, một dấu hiệu, một chủ điểm.
Các câu lựa chọn (của loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn) phải được diễn đạt
sao cho tách bạch rõ ý câu chọn đúng, câu chọn sai. Trong các câu sai phải có chứa
điều hợp logic, có phần đúng nhưng là cái đúng khơng thuộc bản chất.
Về mặt kỹ năng soạn, muốn có một bài trắc nghiệm tốt thường đòi hỏi nhiều thời
gian và cơng sức. Khi soạn câu trắc nghiệm, giáo viên phải tn thủ các u cầu về nội
dung trọng tâm, các mục tiêu về nhận thức. Các chủ điểm quan trọng phải có nhiều câu
hơn. Độ khó, độ phức tạp về sự đan chen mức độ biết, hiểu, áp dụng,… đều phải được
quyết định trên cơ sở tính chất quan trọng, u cầu phải đạt về các tri thức và kỹ năng
hơn là tùy hứng của giáo viên đối với các phần đã giảng dạy.


Chương I. Vật lý học thời Cổ đại và Trung đại

Chương II. Cuộc cách mạng khoa học lần I. Sự ra đời của Vật lý học thực
nghiệm.

Chương III. Cơ học Newton và sự hoàn thành cuộc cách mạng khoa học lần I.

Chương IV. Bước đầu hình thành Vật lý học cổ điển (Vật lý học ở thế kỷ 18)

Chương V. Vật lý học thời phát triển công nghiệp tư bản chủ nghóa (Vật lý học
nửa đầu thế kỷ 19)

Chương VI. Sự hoàn chỉnh Vật lý học cổ điển (Vật lý học nửa cuối thế kỷ 19)

Chương VII. Cuộc cách mạng mới trong Vật lý học. Sự ra đời của Vật lý học
hiện đại

  
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu HiềnBÀI MỞ ĐẦU Câu 1. “Sự phát triển của Vật lý học do nhu cầu thực tiễn xã hội quyết đònh”. Đó là
quy luật nào của sự phát triển của Vật lý học?

a) Nhiệm vụ của Lòch sử vật lý
b) Đối tượng của Lòch sử vật lý
c) Cả a, b đều đúng
d) Cả a, b đều sai

Câu 5
. Quá trình phát triển của Vật lý học có đặc điểm:
a) Tiến lên liên tục từ cái chưa biết đến cái đã biết
b) Từ những tri thức chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ đến những tri thức ngày càng
hoàn chỉnh và chính xác hơn
c) Là một quá trình có tính lòch sử
d) Cả a, b, c đều đúng
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiền
Câu 6. Lòch sử vật lý có bao nhiêu nhiệm vụ chính?
a) 2
b) 3
c) 4
d) 5

Câu 7
. Hãy ghép các mô hình ở cột A với loại mô hình tương ứng ở cột B

A
1 – Chất điểm là mô hình của chiếc xe
đang chuyển động trên đường.
2 – Mô hình electron có thể là một hạt

Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu HiềnCâu 9. Có bao nhiêu loại mô hình được các nhà khoa học xây dựng khi sử dụng
phương pháp mô hình trong quá trình phát triển của Vật lý học?
a) 2
b) 3
c) 4
d) 5

Câu 10. Việc sử dụng phương pháp tương tự trong quá trình nhận thức khoa học đôi
khi cũng tạo ra sự cản trở việc hình thành những tư tưởng mới, phương pháp mới:
a) Đúng
b) Sai

Câu 11. “Giả sử A có các tính chất (a
1
, a
2
, a
3
, a
4
) (đã biết)
B có các tính chất (b
1
, b
2
, b

(ở thế kỷ18) thì kể từ đó triết học đã không còn ảnh hưởng đến sự phát triển của Vật
lý học”
Câu phát biểu trên là đúng hay sai?
a) Đúng
b) Sai

Câu 13. “Nếu như trong xã hội xuất hiện một nhu cầu kỹ thuật thì nó sẽ thúc đẩy
khoa học tiến lên nhiều hơn một chục trường đại học”.
Câu nói thể hiện mối quan hệ giữa Vật lý học và sản xuất trên là của ai?
a) Newton
b) Descartes

c) Engels
d) Bacon

Câu 14
. Vật lý học trước thế kỷ 16 phát triển chậm chạp với các quan điểm triết
học tự nhiên của Aristote. Đây là thời kỳ nào của sự phát triển Vật lý học?
a) Tiến hoá yên tónh
b) Tiến hoá bất động
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềnc) Biến đổi yên tónh
d) Biến đổi bất động

Câu 15. Chọn câu phát biểu sai.
a) Lòch sử vật lý có ba nhiệm vụ chính.
b) Trong quá trình phát triển, Vật lý học thường sử dụng phương pháp tương tự và

a) Tư tưởng Vật lý học của Aristote
b) Thuyết nguyên tử sơ khai của Democrite
c) Hệ nhật tâm của Copernic
d) Hệ đòa tâm của Ptolemée

Câu 3
. Những mầm mống của khoa học ra đời ở đâu?
a) Hy Lạp cổ đại
b) Ấn Độ
c) Phương Đông cổ đại
d) Trung Quốc

Câu 4. Phương pháp nghiên cứu khoa học chủ đạo ở thời kỳ cổ đại và trung đại là:
a) Phương pháp thực nghiệm
b) Phương pháp quy nạp
c) Phương pháp diễn dòch
d) Phương pháp giáo điều kinh viện

Câu 5
. Ai là người đã đưa ra luận điểm “Vật chất là do các nguyên tử tạo thành”
đầu tiên?
a) Pythagore
b) Democrite

c) Aristote
d) Platon

Câu 6. Môn Thiên Văn học là môn khoa học đầu tiên của nhân loại ra đời từ nhu
cầu sản xuất:
a) Đúng

d) Sự phối hợp và biến đổi của Âm, Dương tạo thành vật chất.

Câu 10. Vật lý học thời cổ đại và trung đại phát triển chậm chạp với các quan
điểm triết học tự nhiên của Aristote. Đây là thời kỳ nào của sự phát triển Vật lý học?
a) Tiến hóa bất động
b) Tiến hóa yên tónh
c) Biến đổi chậm chạm
d) Biến đổi lòch sử

Câu 11
. “Tìm ra một chứng minh khoa học đối với tôi còn đáng giá hơn là thu phục
được cả vương quốc Ba Tư”. Đây là câu nói của ai?
a) Democrite
b) Archimede
c) Elée
d) Pythagore

Câu 12. Quyển sách “Vật lý học” đầu tiên của nhân loại được viết bởi:
a) Aristote
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềnb) Democrite
c) Copernic
d) Pythagore

Câu 13
. Quan điểm “các con số có vai trò thần thánh, điều khiển thế giới” là của
trường phái nào?

c) Năm 105
d) Năm 127

Câu 18
. Chiếc đồng hồ nước đầu tiên để tính thời gian lấy đơn vò là gì?
a) Là thời gian để một khối nước nhất đònh chảy khỏi một bình hình lập phương
có kích thước nhất đònh
b) Là thời gian để một khối nước nhất đònh chảy khỏi một bình hình cầu có thể
tích nhất đònh
c) Cả a, b đều đúng
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềnd) Cả a, b đều sai

Câu 19
. Theo Aristote “vật nặng phải luôn rơi nhanh hơn vật nhẹ”. Điều đó chứng
tỏ:
a) Ông phủ nhận chân không
b) Ông công nhận chân không
c) Ông không xét đến yếu tố chân không
d) Cả a, b, c đều sai

Câu 20
. Theo quan điểm của Aristote: thế giới từ Mặt Trăng trở lên là thế giới của
trời, chuyển động theo những quỹ đạo hình gì?
a) Đường thẳng
b) Đường tròn
c) Đường Elip

Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu Hiềnb) 3200 TCN – 576
c) 2300 TCN – 476
d) 2300 TCN – 576

Câu 25
. Nội dung nào sau đây không thuộc tác phẩm “Vật lý học” của Aristote?
a)
Công nhận sự tồn tại khách quan của vật chất.
b) Phủ nhận chân không, vật nặng phải luôn rơi nhanh hơn vật nhẹ.
c) Toàn bộ vật chất trong vũ trụ được tạo thành bởi bốn yếu to.á
d) Không có cái gì ngẫu nhiên xảy ra, cái gì xảy ra cũng có nguyên nhân của nó
và là tất yếu.

Câu 26. Theo Aristote, các yếu tố vật chất trong vũ trụ được tác động bởi hai lực là:
a) Lực hút và lực đẩy
b) Lực hấp dẫn và lực nâng
c) Lực nén và lực kéo dãn
d) Lực kéo xuống và lực nâng

Câu 27. Trong quyển sách “Vật lý học” đầu tiên của nhân loại (của Aristote) không
hề có thí nghiệm vì:
a) Xã hội chiếm hữu nô lệ lúc đó coi khinh lao động chân tay, coi thường thí
nghiệm
b) Vì Aristote không có điều kiện làm thí nghiệm
c) Cả a, b đều đúng
d) Cả a, b đều sai

  
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Ngô Thò Diệu HiềnCHƯƠNG II

CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC LẦN I.
SỰ RA ĐỜI CỦA VẬT LÝ HỌC THỰC NGHIỆM Câu 1. Quan điểm “Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời” đã xuất hiện từ
thời cổ đại trước khi có thuyết nhật tâm của Copernic.
a) Đúng
b) Sai

Câu 2. Trong tác phẩm “Về sự quay của các thiên cầu” của Copernic, nội dung
nào được đánh giá là cách mạng nhất?
a) Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất.
b) Trái đất và các hành tinh khác quay xung quanh Mặt Trời trên các quỹ đạo
tròn với tốc độ không đổi.
c) Mặt trời bất động là trung tâm của vũ trụ.
d) Các vì sao bất động và nằm trên một mặt cầu rất xa.

Câu 3
. Hãy ghép cột A với cột B để thành câu đúng khi nói đến vai trò của các nhà
khoa học trong cuộc cách mạng khoa học lần I.
A
1 – Decartes
2 – Newton

c) Ptolémée


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status