PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây tiêu (Piper nigum L. ), thuộc họ hồ tiêu Piperaceae có nguồn gốc nhiệt
đới ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm ở vùng Ghast tây và Assam
được biết đến từ rất lâu đời, khoảng 100 năm TCN. Cây tiêu du nhập vào nước ta từ
cuối TK XIX và phát triển nhanh.
Cây tiêu là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Nó mang lại nguồn thu
nhập chính cho nhiều hộ gia đình ở nước ta. Hạt tiêu là một loại gia vị được ưa
chuộng trên khắp thế giới. Hạt tiêu có vị cay, có mùi thơm là gia vị không thể thiếu
của nhiều món ăn.
Ngoài ra, tiêu còn được dùng trong công nghiệp chế biến hương liệu, nước hoa
và trong Y học. Việt Nam là nước nhiệt đới có điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai
tương đối phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây tiêu nên đã hình thành nhiều vùng
trồng chính: Miền Đông Nam bộ, các tỉnh Tây Nguyên, Quảng Trị, Hà Tiên, Phú
Quốc…
Trong vài năm gần đây, giá hồ tiêu trên thị trường khá ổn định, tiêu đã trở
thành một trong những mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Vì thế, đã kích thích
nghề trồng tiêu phát triển mạnh về diện tích và đầu tư thâm canh chiều sâu.
Hiện nay, diện tích trồng tiêu của Đăk Lăk khoảng 7.778 ha, được trồng chủ
yếu ở các huyện như EaHleo, Krôngnăng, CưM’gar… Buôn Đôn cũng là một trong
những huyện có diện tích trồng tiêu đáng kể 671 ha vào năm 2013 (Nguồn: Sở NN
& PTNT, 2013).
Việc gia tăng về diện tích trồng cũng như việc hình thành các vùng độc canh
cây tiêu đã tạo điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh hại phát triển phong phú cả về
chủng loại cũng như số lượng. Trước tình hình đó, để tìm hiểu về hiện trạng canh
tác, tình hình sâu hại trên tiêu nhằm góp phần hạn chế tác hại do sâu hại trên tiêu ở
địa bàn huyện vì thế đề tài “Điều tra hiện trạng canh tác và diễn biến của một số
loài sâu hại chính trên cây tiêu tại huyện Buôn Đôn – tỉnh Đăk Lăk” được tiến
hành.
1.2. Giới hạn của đề tài
Do thời gian thực hiện đề tài ngắn (từ tháng 3/2014 đến tháng 5/2014) nên chỉ
Sản lượng hồ tiêu của Ấn Độ ổn định 50 ngàn tấn/năm trong giai đoạn từ 2008
– 2010, sau đó giảm còn 40 ngàn tấn/năm vào năm 2011 sau đó lại tăng lên 50 ngàn
tấn vào năm 2013. Sản lượng hồ tiêu của Brazil có xu hướng tăng nhẹ. Sản lượng
hồ tiêu của Indonesia có xu hướng tăng trong giai đoạn năm 2008 – 2010, đến năm
2011 giảm mạnh còn 41 ngàn tấn, đến năm 2013 còn 40 ngàn tấn. Nguyên nhân là
do tiêu đen xuất khẩu trong giai đoạn này khá thấp, khoảng 1400 – 1500 USD/tấn,
nên nông dân không chăm sóc tốt vườn tiêu, làm cho cây tiêu bị sâu bệnh gây hại
nặng giảm năng suất, sản lượng và diện tích. Trong khi đó, sản lượng hồ tiêu của
Malaysia và Srilanca có xu hướng tăng nhẹ.
3
Bảng 2.1. Sản lượng hồ tiêu trên thế giới giai đoạn 2008 – 2013 (1000 tấn)
Quốc gia
Năm
2008 2009 2010 2011 2012 2013
Ấn Độ 50,00 50,00 50,00 40,00 40,00 50,00
Brazil 33,00 40,70 34,00 35,00 35,00 34,00
Indonesia 46,00 47,50 52,00 41,00 41,00 40,00
Malaysia 23,00 22,70 23,50 27,00 28,00 26,00
Srilanca 15,00 13,81 16,73 13,00 13,00 18,00
Việt Nam 87,00 100,00 110,00 105,00 100,00 120,00
Quốc gia khác 16,00 37,00 24,80 47,00 13,00 45,00
Tổng cộng 289,23 318,62 316,38 308,50 360,60 365,00
(Nguồn: Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam, 2013)
Tổng quan phản ánh diện tích, sản lượng tiêu toàn cầu hơn 6 năm qua không
tăng, nguyên nhân chủ yếu là do tác động xấu bởi thời tiết, sâu bệnh, diện tích tiêu
già cỗi chết, năng xuất thấp, diện tích trồng mới gần đây có tăng nhưng thu hoạch
chưa nhiều. Chi phí sản xuất ngày càng tăng (Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam, 2013).
2.1.2. Tình hình sản xuất hồ tiêu ở Việt Nam
Hồ tiêu được trồng từ Nghệ An trở về phía Nam, gồm có 22 tỉnh với 5 vùng
trồng tiêu chính đó là: Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên,
quan trọng, là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao trên thị trường trong nước
cũng như trên thế giới, do vậy người dân có xu hướng chuyển đổi những diện tích
cà phê và các cây trồng khác không phù hợp cho năng suất thấp sang trồng tiêu
ngày càng nhiều hơn (Sở NN & PTNT Đăk Lăk, 2013).
Trên diện tích đất trồng tiêu còn kết hợp trồng xen cây cà phê và các loại cây
ăn quả khác, mục đích để che bóng cho tiêu đồng thời tăng thêm thu nhập.
Theo báo cáo thống kê của cục thống kê Đăk Lăk, đến ngày 31/12/2013 toàn
tỉnh có 7.778 ha tiêu, trong đó diện tích cho thu hoạch là 5.200 ha, năng suất đạt
27,5 tạ/ha, sản lượng 14.040 tấn hạt tiêu (Sở NN & PTNT Đăk Lăk, 2013).
Cây tiêu được trồng ở 14 huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Các
huyện có diện tích trồng tiêu lớn là: huyện EaH’leo 2.363 ha, Cưkuin 1.390 ha,
Cưmgar 970 ha, Krông Năng 890 ha, thị xã Buôn Hồ 500 ha Từ năm 2008 đến
nay diện tích tiêu của tỉnh có xu hướng tăng chậm nhưng về mặt năng suất và sản
lượng thì có bước phát triển vượt bậc. Nếu năm 2008 năng suất tiêu trung bình chỉ
đạt 22,3tạ/ha thì đến năm 2013 năng suất trung bình đạt 27,5 tạ/ha tăng khoảng 1,2
lần so với năm 2008. Điều này thể hiện trình độ thâm canh cây tiêu của người dân
trong tỉnh đã được cải thiện đáng kể, nhất là việc áp dụng các biện pháp sản xuất
thâm canh cây tiêu theo hướng bền vững. Huyện có sản lượng tiêu lớn nhất là
5
EaH’leo (3610 tấn), CưM’gar (2570 tấn), Cưkuin (2030 tấn), Krông Năng (1325
tấn) Về mặt năng suất, thành phố Buôn Ma Thuột có năng suất bình quân cao nhất
(39,2 tạ/ha), CưM’gar (35,5 tạ/ha), Krông Buk (33,9 tạ/ha), thị xã Buôn Hồ (32,7
tạ/ha) và Ea Kar (28 tạ/ha) (Sở NN & PTNT Đăk Lăk, 2013).
2.2. Vị trí và phân loại của cây tiêu
Cây tiêu có tên khoa học là Piper nigrum L., thuộc lớp Magnoliophyta, bộ
Piperales, họ Piperaceae, chi Piper là một chi quan trọng về kinh tế và sinh thái học
trong họ tiêu Piperaceae bao gồm khoảng 1000 đến 2000 loài cây thân bụi, thân
thảo và cây dây leo. Sự đa dạng trong chi này được quan tâm trong nghiên cứu và
tìm hiểu sự tiến hóa của thực vật (Dyer L.A. và Palmer A.N., 2004).
2.3. Nguồn gốc và sự phân bố
Cấu tạo thân tiêu gồm nhiều bó mạch libe có kích thước khá lớn, nên có khả năng
vận chuyển nước, muối khoáng từ dưới đất lên thân rất mạnh. Do vậy khi thiếu
nước cây tiêu héo rất nhanh. Thân cây tiêu có màu đỏ nhạt (non) đến nâu xám, nâu
xanh, xanh lá cây đậm. khi già hóa mộc thì màu nâu sẫm. nếu phát triển tốt thì có
thể vươn tới 10 m (Phan Quốc Sủng, 1998).
Trên cây tiêu có 3 loại thân: thân tược, thân lươn và thân cho trái
Thân tược (thân vượt) mọc ra từ các mầm nách lá ở những thân tiêu nhỏ hơn 1
tuổi, mọc thẳng hợp với thân chính một góc nhỏ hơn 45 độ, thân này phát triển rất
mạnh nếu làm hom để giâm thân thì cây tiêu ra hoa chậm hơn thân mang trái nhưng
tuổi thọ kéo dài hơn (25 - 30 năm) (Phan Hữu Trinh và ctv, 1987).
Thân lươn là thân phát sinh từ các mầm nách gần sát gốc của bộ khung thân
chính của cây tiêu trưởng thành. Đặc trưng của thân lươn là bò sát đát và các lóng
rất dài. Chúng làm tiêu hao nhiều dinh dưỡng cần xén bỏ hàng năm (Phan Hữu
Trinh và ctv, 1987).
Thân cho trái còn gọi là thân ngang hay thân ác được phát sinh từ các mầm
nách trên cây tiêu lớn hơn một năm tuổi. Thân này ngắn hơn thân tược, lóng ngắn,
khúc khuỷu và thường mọc thân cấp 2, lấy thân này nhân giống mau ra trái nhưng
tuổi thọ thấp (Phan Quốc Sủng, 1998).
Lá tiêu thuộc loại lá đơn, có nhiều dạng: bầu tròn, thuôn dài, hình trứng. Gân
lá chìm hay nổi, nhiều hay ít tùy theo giống (Nguyễn Mạnh Chinh và Trần Đăng
Nghĩa, 2007).
Hoa tiêu thuộc loại hoa đơn tính hoặc lưỡng tính. Các giống tiêu trồng đa số là
đơn tính (Nguyễn Mạnh Chinh và Trần Đăng Nghĩa, 2007).
7
Quả tiêu thuộc loại quả mọng, lúc non màu xanh, khi chín chuyển sang màu
vàng và đỏ (Nguyễn Mạnh Chinh và Trần Đăng Nghĩa, 2007).
Trái tiêu chỉ mang một hạt có dạng hình cầu, đường kính 4 - 8 mm (thay đổi
tùy giống, điều kiện chăm sóc, sinh thái). Từ khi hoa nở đến trái chín kéo dài 7 – 10
tháng (Phan Hữu Trinh và ctv, 1987).
2.3.3. Yêu cầu sinh thái
thức nhân giống chọn cây giống có năng suất cao, chất lượng tốt không nhiễm sâu
bệnh hại.
Hom giống: thân tược (dây thân): mau cho quả, năng suất cao và tuổi thọ kéo
dài (15 - 20 năm), tỷ lệ hom sống 90%; thân lươn: cho quả chậm hơn và phải đôn
tiêu, thường năm thứ tư sau khi trồng.
8
Kỹ thuật cắt hom: lấy hom bánh tẻ, mỗi hom 4-6 đốt. Không sử dụng đoạn
hom cách ngọn 20 - 25cm, cắt hom vào mùa mưa khi cây mẹ 1 - 2 năm tuổi . hom
tiêu cắt xong cần ươm ngay, vận chuyển xa phải tưới nướcc đều.
Xử lí hom giống để tiêu mau ra rễ, trước khi giâm hom tiêu được ngâm trong
dung dịch NAA nồng độ 500 - 1000 ppm hoặc IBA nồng độ 50 - 55ppm. Ươm hom
sau khi xử lí có thể ươm vào luống hay bầu.
Khoảng cách và mật độ trồng
Theo Nguyễn Tăng Tôn (2007) tiêu được trồng trên trụ sống ở mỗi vùng khác
nhau.
Đông Nam bộ: cây keo dậu (Leucaena leucocephala), lồng mức (Wrighita
annamensis), gòn (Ceiba pentandra), đỗ quyên (Gliricidia sepium) trồng với
khoảng cách 2,5 x 2,5 hay 2,5 x 3 mật độ 1300 - 1600 trụ/ha ngoài ra, cây tiêu còn
tận dụng cho leo lên 1 số loài cây khác như muồng, cườm, xà cừ, bơ , mít nhưng ít
phổ biến.
Duyên hải miền trung: lồng mức, keo dậu, mít (Artocarpus heterophyllus)
trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5 hay 2,5 x 3 mật độ 1300 - 1600 trụ/ha ngoài ra, cây
tiêu còn tận dụng cho leo lên 1 số loài cây khác như hoa sữa, núc nác, muồng,keo
nhưng ít phổ biến.
Tây nguyên keo dậu, giả anh đào, muồng đen (Cassi siamea), lồng mức trồng
với khoảng cách 2,5 x 2,5 hay 2,5 x 3 mật độ 1300 - 1600 trụ/ha.
Thời vụ trồng tiêu
Tùy thuộc vào điều kiện khí hậu của từng vùng, thường trồng vào đầu mùa
mưa, khi mưa đã đều và kết thúc trước mùa khô khoảng 2 – 2,5 tháng.
2.5. Sâu hại và thiên địch trên cây tiêu
Pseudococcus sp., P. longispinus (Targioni) và P. orchidicola Takahashi
(Homoptera: Pseudococcidae) được ghi nhận gây hại trên tiêu. Rệp sáp thường gây
hại trên những bộ phận non của cây tiêu như chồi non, lá non, quả non, thường
không quan sát được triệu chứng gây hại rõ ràng trên vườn; tuy nhiên, sự gây hại
nghiêm trọng của P. longispinus trên chồi non làm héo cây con trong vườn ươm.
Tập đoàn Planococcus sp. gây hại các bộ phận dưới đất làm biến vàng dẫn đến
chết những dây tiêu non trên đồng và trong vườn ươm (Devasahayam và ctv, 1988;
Koya và ctv, 1996).
Bọ cánh cứng ăn lá được ghi nhận trên tiêu gồm Neculla pollinaria Baly
(Coleoptera: Chrysomelidae), Pagria costatipennis Jacoby (Coleoptera:
Chrysomelidae) (Nair,1975) (trích bởi Devasahayam, 2000), Hermaeophaga sp.
10
(Coleoptera: Alticidae) và Lanka sp. (Coleoptera: Chrysomelidae) (Premkumar và
Nair, 1987b) ở Kerala và Tegyrius sp. (Coleoptera: Chrysomelidae) ở Karnataka
(Premkumar và Nair, 1987b). Eugnathus curvus Faust (Coleoptera: Curculionidae)
(Nair, 1975) và Myllocerus sp. (Coleoptera: Curculionidae) (Pillai, 1978) tất cả
những loài này thường ăn lá non tạo thành những lỗ nhỏ (trích bởi Devasahayam,
2000).
Theo Nguyễn Thị Chắt (2001) sâu hại chính trên cây tiêu tại Phú Yên, Bình
Phước và Bà Rịa – Vũng Tàu gồm: mối, Coptotermes sp. (Isoptera:
Rhinotermitidae); rầy mềm nâu, Toxoptera sp. (Homoptera : Aphididae); rệp sáp
giả một cặp đuôi ngắn Pseudococus sp. (Homoptera: Pseudococidae); rệp sáp giả
vằn, Ferrisia virgata CKII (Homoptera: Pseudococidae); ruồi trắng, Aleyrodicus sp.
(Homoptera: Aleyrodidae); bọ đầu dài, Lophobaris sp. (Coleoptera: Curculionidae);
Diconocoris sp. (Hemiptera: Tingidae); Meloidogyne sp., Nematode.
2.5.2. Thiên địch
Có năm loài kí sinh thuộc bộ cánh màng, một loài tuyến trùng ăn thịt và một
loài nhện là kẻ thù tự nhiên của Cydia hemidoxa (Devasahayam và Koya, 1994a).
Tại Peruvannamuzhi, trong số các loài thiên địch, Hexamermis sp. (Nematoda:
Mermithidae) và Apanteles cypris Nixon (Hymenoptera: Braconidae) có hơn 76,7%
xịt trong tháng 7 và tháng 10 mang lại hiệu quả hơn trong việc kiểm soát sự gây hại
của Longitarsus nigripennis (Premkumar và ctv, 1986). Trong nhóm thuốc cùng
gốc được thử nghiệm, 9 loại thuốc được sử dụng ở quận Kozhikode và Kottayam:
endosulfan, quinalphos, methamidophos and methyl parathion (0,05%) có hiệu quả
trong việc kiểm soát sự gây hại của côn trùng khi phun vào tháng 6 và tháng 9
(Premkumar và Nair, 1987a). Định kì phun endosulfan 0,05% ba lần vào các tháng
5, tháng 7 và tháng 9 cũng có thể kiểm soát sự gây hại của Longitarsus nigripennis
(Nandakumar và ctv, 1987).
Các loài nấm kí sinh côn trùng như nấm Beauvaria bassiana Bals. (Vuill.) và
B. brongniartii (Sacc.) Petch. mang lại kết quả đầy triển vọng trong việc kiểm soát
ấu trùng Longitarsus nigripennis. Các chất được chiết từ lá và hạt của cây nêm và
cây mã tiền có thể chống lại sự gây hại của pollu (Devasahayam và Leela, 1997).
Một số sản phẩm thương mại của cây neem mang lại kết quả tốt trong việc chống
lại sự gây hại của côn trùng (Devasahayam và Anandaraj, 1997).
Côn trùng gây hại nghiêm trọng ở các vườn tiêu non. Một vài loại thuốc trừ
sâu được đánh giá là có hiệu lực trong kiểm soát dịch hại. trong khu vực có sự gây
hại của Longitarsus nigripennis, khuyến cáo sử dụng endosulfan 0,05% cũng mang
12
lại hiệu quả trong phòng trừ Cydia hemidoxa (Banerjee và ctv, 1981b) (trích bởi
Devasahayam, 2000). Phun monocrotophos 0,05% hai lần trong năm vào tháng 6 và
tháng 9 có thể kiểm soát dịch hại (NRCS, 1990).
Một số loại thuốc trừ sâu được giới thiệu để kiểm soát Dasynus piperis, gồm
malathion 0,125% , nicotine 0,15 %, carbaryl 0,2 %, BHC 0,02 %, azinophos-ethyl
0,1%, deltamethrin 0,2 %, diazinon 0,2% và carbofuran 3G (Deciyanto và Suprapto,
1992).
PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Cây tiêu ở giai đoạn kinh doanh từ 5 – 10 tuổi trên vườn trồng thuần.
13
Các loại sâu hại chủ yếu trên cây tiêu tại khu vực huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk
thụ hàng hóa, trao đổi kỹ thuật công nghệ thông tin và kinh nghiệm quản lý kinh
doanh.
Trực thuộc huyện Buôn Đôn gồm 7 xã: Cuôr Knia, Ea Bar, Ea Huar, Ea Nuôl,
Ea Wer, Krông Na, Tân Hòa.Và gồm có 99 thôn buôn. Thị trấn Buôn Đôn nằm ở
trung tâm huyện cách Buôn Ma Thuột khoảng 25km. Cơ quan hành chính huyện
nằm ở địa bàn xã Tân Hòa
3.3.1.2. Địa hình
Địa hình huyện Buôn Đôn được chia thành 3 dạng chính đó là đồi núi thấp,
cao nguyên núi lửa và thung lũng ven sông.
14
Địa hình đồi núi thấp có diện tích khoảng 115346 ha chiếm 82% tổng diện tích
tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Tây bắc của huyện gồm bán bình nguyên với các
đồi thoải và các dãy núi nhô lên uốn lượn bắt đầu từ biên giới Việt Nam Campuchia
tới gần trung tâm huyện .
Địa hình cao nguyên núi lửa có diện tích 17910 ha chiếm 16,67% tổng diện
tích đất tự nhiên được phân bố ở phía Đông và phía Đông Nam của huyện, có độ
chia cắt nhẹ đến trung bình tạo thành những dãy đồi lượn sóng có độ dốc cao từ 8
0
đến 15
0
. Đất ở dạng địa hình này có nguồn gốc từ phun trào bazan hoặc trầm tích
với đất nâu đỏ hoặc đất đỏ vàng. Địa hình này thích hợp để bố trí các loại cây công
nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, ca cao, cao su, hồ tiêu, điều…
Dạng địa hình trũng thấp được phân bố dọc theo các sông, suối lớn thuộc lưu
vực sông Sêrêpốk tạo nên những vùng tương đối bằng phẳng có độ dốc trung bình
từ 0
0
đến 3
0
, mùa mưa thường ngập úng. Địa hình này khoảng 1146 ha chiếm 0,8%
mạnh thường gây khô nóng, lượng bốc hơi nước bề mặt lớn làm đất khô hạn gây tác
hại xấu tới cây trồng và vật nuôi.
Độ ẩm không khí tương đối cao trung bình từ 80% đến 85%, tháng có độ ẩm
thấp nhất là tháng 3 với độ ẩm 75%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9 với độ ẩm
91%.
Lượng bốc hơi nước trung bình trong năm là 1689,4 mm.
Biểu đồ 3.1. Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa năm 2014 huyện Buôn Đôn
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn huyện Buôn Đôn)
3.3.1.4. Thổ nhưỡng
Huyện Buôn Đôn hiện có 15 loại đất thuộc 5 nhóm như sau
Nhóm đất đỏ: có diện tích 12138,53 ha chiếm 8,61% tổng diện tích đất tự
nhiên được phân bố ở xã Ea Nuôl, Ea Bar, Tân Hòa, Ea Wer. Nhóm đất này thích
hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, điều
Nhóm đất có tầng sét chặt, cơ giới dị phân: có diện tích 1582,51 ha chiếm
3,25% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bố ở các xã Ea Wer và Krông Na.
Nhóm đất này thích hợp cho việc trồng cây lúa nước và cây trồng hàng năm như
ngô, sắn …
Nhóm đất xám: là nhóm đất chính của huyện với diện tích 71791,15 ha chiếm
50,9% tổng diện tích đất tự nhiên được phân bố ở hầu hết các xã trên địa bàn của
huyện. Nhóm đất này thích hợp cho việc bố trí các loại cây trồng hàng năm và lâu
năm.
16
Nhóm đất nâu: Có diện tích 47163,8 ha chiếm 33,44% tổng diện tích đất tự
nhiên của toàn huyện. Nhóm đất này thích hợp cho việc trồng các loại cây hoa màu
và cây công nghiệp hàng năm.
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: có diện tích 5327,01 ha chiếm 3,78% tổng diện
tích đất tự nhiên được phân bố trên các đỉnh núi cao như CưMinh, CưMao xã Krông
Na. Nhóm đất này bị xói mòn rửa trôi mạnh hầu như không có khả năng sản xuất.
3.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.2.1. Dân số và lao động
huyện Buôn Đôn
a. Phương pháp
Điều tra theo phương pháp phỏng vấn nông dân tại 3 xã Ea Wer, Ea Bar, Tân
Hòa qua phiếu điều tra có nội dung đã soạn thảo trước. Số lượng phiếu điều tra 50
phiếu. Sau khi điều tra tổng hợp và xử lí số liệu. Nội dung phiếu điều tra tham khảo
ở phần phụ lục.
b. Chỉ tiêu điều tra
Thông tin chung (diện tích trồng, thời vụ trồng, giống, tuổi, trụ tiêu, loại trụ ).
Kĩ thuật canh tác (làm đất, mật độ trồng, phân bón ).
Bảo vệ thực vật (loại thuốc, liều dùng, số lần phun ).
c. Lịch điều tra
Tiến hành điều tra 1 lần trước khi triển khai đề tài và có bổ sung trong quá
trình nghiên cứu.
3.6.2. Điều tra thành phần và diễn biến của một số loài sâu hại chủ yếu trên cây
tiêu và thiên địch.
a. Phương pháp
Điều tra theo phương pháp quan sát trực tiếp và phỏng vấn nông dân qua phiếu
điều tra có nội dung đã soạn thảo trước.
Tiến hành điều tra trên giống tiêu Vĩnh Linh, trồng thuần, các vườn tiêu ở giai
đoạn tuổi kinh doanh (5 - 10 năm tuổi). Tổng số vườn điều tra là 3 vườn.
Mỗi vườn có ít nhất 100 trụ. Tiến hành điều tra theo phương pháp 5 điểm phân
bố đều trên 1 hàng, tịnh tiến không lặp lại, các điểm điều tra được bố trí như sơ đồ
3.1, mỗi điểm điều tra 3 trụ, mỗi vườn quan sát 15 trụ. Trên trụ đã chọn, điều tra
theo bốn hướng (đông – tây – nam – bắc) và ba tầng lá (tầng dưới – tầng giữa – tầng
trên). Thu thập tất cả các loài sâu hại và thiên địch trên tiêu cho vào các hộp nhựa
có chứa cồn 70%, trên hộp có ghi địa điểm thu mẫu, vườn thu mẫu đem về phòng
18
thí nghiệm để định danh ghi nhận thành phần và đếm số lượng các loài sâu hại
chính để quy đổi mật số.
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ điều tra về thành phần sâu bệnh hại và thiên địch trên vườn
(17,88%). Ngoài ra có 2 xã không trồng tiêu là Krông Na và Ea Huar do điều kiện
về đất đai không phù hợp với cây hồ tiêu. Số liệu cụ thể ở các xã được thể hiện qua
bảng sau
Bảng 4.1. Phân bố diện tích trồng hồ tiêu trên địa bàn huyện Buôn Đôn năm
2013
STT Tên xã
Tổng diện
tích tiêu
(ha)
Diện tích
tiêu kinh
doanh (ha)
Năng suất
ước đạt
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
1 Krông Na - - - -
2 Ea Huar - - - -
3 Ea Wer 180 80 2.6 208
4 Tân Hòa 170 110 2.5 275
5 Cuôr Knia 54 25 2.6 65
6 Ea Nuôl 120 60 2.6 156
7 Ea Bar 147 90 2.6 234
Toàn
huyện
671ha 365ha 938 tấn
( Nguồn: Phòng Nông Nghiệp huyện Buôn Đôn, 2013).
Năm 2011, diện tích trồng tiêu của huyện là 340 ha, đạt sản lượng 760 tấn.
Đến năm 2013, diện tích này đã tăng lên đến 671 ha, đạt tốc độ tăng bình quân
Hơn 1 ha
10
33
7
20
66
14
3
Giống tiêu
Tiêu Sẻ Lộc Ninh
Tiêu Trâu
Tiêu Vĩnh Linh
5
18
27
10
36
54
4
Tuổi vườn tiêu
Dưới 5 năm tuổi
Từ 5 – 10 năm tuổi
Trên 10 năm tuổi
7
28
15
14
56
30
5
5
13
32
10
26
64
2
Thời vụ trồng
Tháng 6
Tháng 7
32
18
64
36
3
Hình thức trồng
Xen
Thuần
15
35
30
70
4
Loại trụ
Sống
Chết
17
33
34
66
23
2m là phổ biến chiếm tỷ lệ 64%. Với khoảng cách trồng là khoảng 2.5 x 2.5m thì
chiếm tỷ lệ 26% và chỉ có 10% hộ trồng với khoảng cách 3 x 2,5 m.
Trụ trồng tiêu được sử dụng đa dạng, trong đó trụ chết chiếm tỉ lệ cao (66%),
trụ sống ít được dùng trong sản xuất chỉ chiếm tỉ lệ 34%. Các vườn tiêu mới được
trồng trong những năm gần đây có sự chuyển hướng sang trồng tiêu trên cây trụ
sống. Một số hộ đã tiến hành trồng tiêu trên trụ sống xen vào trụ chết. Cây được sử
dụng làm cây trụ sống: lồng mức, keo dậu, muồng đen…
Số hom giống được trồng phổ biến là 2 hom/trụ, thời gian bắt đầu trồng hom là
vào khoảng tháng 6-7 dương lịch.
Đa số tiêu được trồng thuần, vườn tiêu có trồng xen chỉ chiếm 30%. Cây trồng
xen trong vườn tiêu chủ yếu là cà phê, nhất là những trồng mới sau năm 2009, khi
giá cà phê trên thị trường bất ổn khiến cho nông dân bị thua lỗ.
Kết quả điều tra trong sản xuất cho thấy, chỉ khoảng 50% số vườn tiêu có hệ
thống các rãnh thoát nước để tiêu nước trong mùa mưa. Biện pháp tưới dí trong bồn
gốc là phương pháp tưới được áp dụng chủ yếu chiếm tỷ lệ tới 90% và thường tưới
vào buổi sáng hoặc chiều mát với chu kì tưới là 7 ngày/lần. Một số hộ có điều kiện,
trong mùa thu hoạch số lần tưới nhiều hơn 3 ngày/lần.
Hầu hết nông dân trồng tiêu trong vùng đều có thể nhận biết được tác hại
không mong muốn của việc sử dụng thuốc trừ cỏ. Vì thế, biện pháp làm cỏ bằng tay
được áp dụng phổ biến chiểm 88% và chỉ có 12% hộ còn sử dụng thuốc trừ cỏ. Tuy
nhiên, việc làm quá sạch cỏ trong vườn tiêu sẽ làm cho cho nước chảy tràn trong
mùa mưa, phát tán nhanh và rộng nấm gây bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến
trùng, gây xói mòn và rửa trôi dưỡng chất trên đất dốc.
Nhìn chung, các hộ nông dân sử dụng phân đạm, phân lân cao hơn khuyến
cáo. Nông dân thường dùng phân hỗn hợp NPK để bón với liều lượng 1,5-2kg/trụ.
Ngoài ra, các loại phân khác như phân vi sinh, Magie, Bo, Zn,… cũng được sử dụng
khá nhiều. Ure được bón thúc vào đầu mùa mưa, kali bón đầu mùa khô, lúc tiêu có
trái non. Lượng phân hữu cơ dùng cho cây tiêu thấp 0.8 - 1kg/trụ.
Trong sản xuất nông nghiệp, dịch bệnh là yếu tố không thể tránh khỏi gây ảnh
96
3 Thuốc sử dụng trừ sâu hại
Bonus 40 EC
Actara 25 WG
Anboom 40EC
G8 rầy
Furadan 3 H
Diaphos 10 H
25
16
8
14
5
5
50
32
16
28
10
10
4 Thuốc sử dụng trừ bệnh hại
Aliette 80 WP
Ridomil MZ 72 WP
Carbenzim 500 FL
Tilt 250 EC
Viben C 50 BTN
4
16
29
35