!"
#
1. Hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người, được sản xuất với mục đích trao đổi mua bán
chứ không phải để tự tiêu dùng, không phải vật phẩm nào cũng là
hàng hóa.
Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc ở dạng phi
vật thể (dịch vụ vô hình)
Hàng hóa là một phạm trù lịch sử
• Mối quan hệ của hai thuộc tính với tính chất hai mặt của lao động
sản xuất hàng hóa.
Hàng hóa có hai thuộc tính không phải do có hai thứ lao động
khác nhau kết tinh trong đó, mà là lao động của người sản
xuất hàng hóa có tính chất hai mặt, vừa mang tính chất cụ
thể , vừa mang tính chất trừu tượng.
+ Lao động cụ thể: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của
những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi một lao động cụ thể có
mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả
lao đông riêng. Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ
thể khác nhau.
Ví dụ: lao động của người thợ may và lao động của người thợ
mộc.
Lao động của người thợ may Lao động của người thợ mộc
- Có mục đích làm ra quần áo
- Phương pháp là may
- Công cụ lao động là kim, chỉ,
máy may
- Tạo ra quần, áo
- Có mục đích làm ra bàn ghế
2. Mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa
cao hơn so với mức tiêu hao mà xã hội có thể chấp nhận, khi
đó hàng hóa cũng không bán được hoặc bán được nhưng
không thu hồi đủ chi phí lao động bỏ ra.
• Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm
mống của mọi mâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì
những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động phát
triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng.
$%& '
1. Hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người, được sản xuất với mục đích trao đổi mua bán
chứ không phải để tự tiêu dùng, không phải vật phẩm nào cũng là
hàng hóa.
Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc ở dạng phi
vật thể (dịch vụ vô hình)
Hàng hóa là một phạm trù lịch sử.
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng.
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính đó vì lao động sản xuất có tính
chất hai mặt: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Lao động cụ thể: Là sự hao phí sức lao động giữa một ngành
nghề chuyên môn nhất định. Lao động này tạo ra giá trị sử dụng
của hàng hóa.
Lao động trừu tượng: Là sự hao phí sức lao động của người
sản xuất hàng hóa không kể đến các hình thức cụ thể của nó.
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa.
Giá trị sử dụng:
Là công dụng của vật phẩm có thể thỏa ma4n nhu cầu nào đó
của con người và do thộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa
quyết định.
1.Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
Hàng hóa có hai thuộc tính không phải là do có hai thứ lao động
khác nhau kết tinh trong nó, mà là do lao động của người sản xuất
hàng hóa có tính chất hai mặt.C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra
tính chất hai mặt đó. Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
a.Lao động cụ thể:
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của
những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương
tiện riêng, phương pháp riêng và kết quả riêng.
Mỗi lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng nhất định nhau là do
có nhiều loại lao động cụ thể khác nhau. Nếu phân công lao
động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng
khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội.
b. Lao động trừu tượng:
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa
khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác,
đó chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần
kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung.
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị, làm cơ sở cho sự ngang bằng
trong trao đổi.
Lao động trừu tượng là 1 phạm trù lịch sử riêng có của sản xuất
hàng hóa.
Cần lưu ý,ở đây không phải có 2 thứ lao động khác nhau mà chỉ là lao
động của người sản xuất hàng hóa nhưng lao động đó mang tính 2 mặt:
vừa lao động cụ thể vừa lao động trừu tượng.
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa còn lao động trừu
tượng tạo ra giá trị của hàng hóa. Có thể nói, hàng hóa có tính hai mặt
bởi vì nó có hai thuộc tính.
Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng
Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
L5MN
Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp
chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng
riêng, phương pháp riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng. Ví dụ: lao
động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn, cái ghế, đối
tượng lao động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về bào,
khoan, đục; phương tiện được sử dụng là cái cưa, cái đục, cái bào, cái
khoan; kết quả lao động là tạo ra cái bàn, cái ghế.
Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động cụ
thể càng nhiều loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau. Các
lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động "O . Cùng với
sự phát triển của khoa học, PQR , các hình thức lao động cụ thể ngày
càng đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công
lao động xã hội. Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều
kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái PS - xã hội nào. Cần chú
ý rằng, hình thức của lao động cụ thể có thể thay đổi.
TL5UVWX
Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi là sự hao phí sức lực nói
chung của con người, không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào,
thì gọi là lao động trừu tượng. Lao động của người thợ mộc và lao động
của người thợ may, nếu xét về mặt lao động cụ thể thì hoàn toàn khác
nhau, nhưng nếu gạt tất cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì
chúng chỉ còn có một cái chung, đều phải tiêu phí sức óc, sức bắp thịt
và sức thần kinh của con người. Lao động trừu tượng chính là lao động
hao phí đồng chất của con người. Lao động bao giờ cũng là sự hao phí
sức lực của con người xét về mặt sinh lý. Nhưng không phải sự hao phí
sức lao động nào về mặt sinh lý cũng là lao động trừu tượng. Lao động
Còn trong dài hạn thì yếu tố quyết định nhất vẫn là trình độ
tay nghề của người lao động
Ngoài việc đề ra biện pháp nâng cao năng suất, cải thiện nên
kinh tế đất nước. Việc nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng
hơn là giúp ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng thừa của nền kinh
tế.
()_.(-+,.-81`)-9ab1c).1A-402()+.)d-e
b;-40:;-<)/+.=-9.>0
# .&'
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu
nào đó của con người, được sản xuất với mục đích trao đổi mua bán
chứ không phải để tự tiêu dùng, không phải vật phẩm nào cũng là
hàng hóa.
Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc ở dạng phi
vật thể (dịch vụ vô hình)
Hàng hóa là một phạm trù lịch sử
Một vật phẩm muốn trở thành hàng hóa thì phải có đủ hai
thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.
$# :!"#
Sản xuất hàng hóa dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế, trong
đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu
của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, mà là để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi mua bán.
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặc căn bản trong lịch sử
phát triển của xã hội loài người, xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát
triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nân cao hiệu quả kinh tế xã
hội
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện:
- Phân công lao động xã hội
- Sự tách biệt tương đối về mặt kin tế của những người sản
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có quan hệ với
tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng
hóa.
Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, người sản xuất sản
xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu là việc riêng của mỗi người, không ai
có quyền can thiệp. Họ là người sản xuất độc lập. do đó nó có tính
chất tư nhân, và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư
nhân của họ.Song song đó, lao động của người sản xuất hàng hóa
lại là lao động xã hội, là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội.
Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự gắn bó những người sản
xuất hàng hóa với nhau. Người này sản xuất ra để cho người khác
dùng và ngược lại, người này cần sản phẩm của người kia. Những
người sản xuất hàng hóa làm việc cho nhau thông qua việc trao đổi
hàng hóa, nên phải quy lại các loại lao động cụ thể thành lao động
trừu tượng. Do đó lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã
hội.
Trong nền sản xuất dựa trên chế độ tư hữu, tính chất xã hội
của người lao động, của người sản xuất hàng hóa có thể được xã
hội chấp nhận và cũng có thể không dược thừa nhận, không bán
được hàng hóa có nghĩa là không được xã hội thừa nhận.
Tóm lại một mặt do có phân công lao động xã hội nên có trao
đổi và có lao động xã hội, lao động xã hội biểu hiện thành lao động
trừu tượng và lao động trừu tượng tạo ra giá trị. Mặt khác, do có
chế độ tư hữu nên có lao động tư nhân, lao động tư nhân biểu hiện
thành lao động cụ thể, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng.
Trong sản xuất hàng hóa, giữa lao động tư nhân và lao động
xã hội có mâu thuẫn với nhau. Mâu thuẫn đó là mâu thuẫn cơ bản
của nền sản xuất hàng hóa giản đơn. Mâu thuẫn này được biểu
hiện:
+Giữa giá trị và giá trị sử dụng: người sản xuất ra hàng hóa
không thì lỗ. Mà muốn hao phí nhỏ phải cải tiến kỹ thuật để nâng cao
năng suất LĐ;
- Trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc
ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một
lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực
hiện với giá cả bằng giá trị của nó.
VD: 1 cây búa được làm ra trong 8 giờ (1).
10kg thóc cũng được làm ra trong 8 giờ (2).
(1) và (2) ⇒ 1 cây búa = 10kg thóc (đều 8 giờ).
- Trên thực tế mọi việc sản xuất và trao đỗi hàng hóa đều chịu sự
chi phối của quy luật giá trị. Tuân theo yêu cuầ đó của quy luật
giá trị thì người sản xuất mới có lãi, mới tồn tại và phát triển
được, ngược lại họ sẽ bị thua lỗ ,phá sản.
fSIl59+
+
bNl59+
: QLGT buộc những người SX và trao đổi
phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường.
+ C
fSR
: Nếu sức mua của đồng tiền ko thay đổi.
H
vt
, giá cả thị trường sẽ tương đồng với giá trị;
Pwt
agiá cả < giá trị;
Pxta
giá cả > giá trị. Nếu
xét trên phạm vi XH thì tổng giá cả = tổng giá trị.
$# +IqMrRIUY
sản.
Như vậy, tất cả hàng hóa đều có thể trao đổi, mua bán như thế chỉ trừ
hàng quốc cấm.
VD: Gạo AG giá thấp nhưng đem lên Tây Nguyên bán thì giá cao và ngược
lại gỗ ở Tây Nguyên giá rẻ nhưng đem xuống AG bán giá cao.
yH!SPQRSTaX[\I !"a{
{ a|I ![}#
u Các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện khác
nhau, do đó có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị
trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao
động xã hội cần thiết.
- Người sản xuất hàng hóa nào cũng muốn có nhiếu lợi nhuận .
Người có nhiều lợi nhuận hơn là người sản xuất hàng hóa có giá trị cá biệt
thấp hơn nhiều so với giá trị xạ hội của hàng hóa đó trên thị trường, nếu
các điều kện khác giống nhau. Muốn vậy, những người sản xuất hàng hóa
tìm mọi cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng
thành tựu kỹ thuật mới của khoa học – công nghệ vào sản xuất, cải tiến tổ
chức quản lý sản xuất,thực hành tiết kiệm chặc chẽ. Sự cạnh tranh cáng
thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn.kết quả là năng suất lao
động tăng lên nhanh chóng.
- VD:1 máy ĐTDĐ giá thị trường 1.500.000 đồng nhưng nhờ
cải tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật sẽ tăng năng suất và hạ giá thành chỉ
còn 1.20.0000 đồng. Người khác sẽ làm theo và lúc đầu chỉ 1,2 người
nhưng về sau điễn ra đồng loạt.
yW~ !"a•#
- Những người sản xuất hàng hóa nào có mức hao phí lao động cá
biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán
hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị
- Đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt kinh tế HTX,
tư bản tư nhân… tất cả đều bình đẳng trước pháp luật nhằm khuyến khích
kinh tế phát triển.
- Đối với các doanh nghiệp, NN phải tạo điều kiện thuận lợi để
họ được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật và tay nghề cho
CNLĐ.
- Phát triển hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ tốt
cho nhu cầu lưu thông HH.
H5
Quy luật giá trị là 1 trong những quy luật quan trọng đối đối
với quá trình phát triển SX HH ở nước ta, nó vừa có tác động tích
cực, vừa có tác động tiêu cực. Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy
sản xuất hàng hóa phát triển như hiện nay; Nhà nước cần có
những biện pháp để nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta hiện nay./
()ƒ71B)H1A-n07„1a73+nF-9%=F)+.G40:;-
<)/+.=-9.>0#
1.Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa.
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ
chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa. Sản xuất
hàng hoá ra đời vào cuối chế độ công xã nguyên thuỷ, phát triển đến đỉnh
cao dưới chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời, khi có đủ hai điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất: Do phân công lao động xã hội một cách tự phát thành
các ngành nghề khác nhau, dẫn tới chuyên môn hóa trong sản xuất.
Người sản xuất thừa sản phẩm do mình làm ra nhưng lại thiếu các sản
phẩm cần thiết khác cho nhu cầu cuộc sống của mình, dẫn tới sự cần
( Giá trị hàng hóa có hai mặt :chất và lượng ;chất là lao động trừu
tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, còn lượng là
thời gian lao động xã hội cần thiết).
a/ Thước đo lượng giá trị của hàng hóa hay thời gian lao động xã hội cần
thiết.
- Khi sản xuất hàng hóa, từng chủ thể thực hiện theo hao phí lao động
cá biệt, hao phí lao động cá biệt này có người thấp, có người cao,có người
lười biếng, vụng về phải tốn nhiều thời gian để làm ra hàng hóa phải
chăng hàng hóa của người đó có giá trị cao hơn?
- Khi trao đổi hàng hóa không thực hiện theo hao phí cá biệt mà thực
hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết.Vậy hao phí lao động xã hội
cần thiết là gì?
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra
một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình
độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động
trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.
Nhân tố thư nhất: là năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng
số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng
thời gian cần thiết để sản xuất ra một sản phẩm
-Thời gian lao động xã hội cần thiết không phải là một đại lượng bất biến
mà nó cũng luôn thay đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lạo động và tỷ lệ
thuận với thời gian lao động xã hội hao phí.
-Năng suất lao động xã hội tăng lên, thời gian lao động xã hội cần thiết để
sản xuất hàng hoá giảm xuống, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm
giảm xuống. Ngược lại năng suất lao động giảm thì thời gian lao động xã
hội cần thiết để sản xuất hàng hoá tăng lên, lượng giá trị của một đơn vị
sản phẩm cũng tăng lên tương ứng.
- Thời gian lao động xã hội cần thiết tỷ lệ thuận với lao động xã hội đã
- Trong sản xuất, quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho
mức hao phí sức lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí
sức lao động xã hội cần thiết, có như vậy họ mới có thể tồn tại được.
- Trong trao đổi, hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá:
Hai hàng hoá trao đổi được với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động
như nhau, hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả
bằng giá trị.
- Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thể hiện cả trong trường hợp
giá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá
trị.
Ý nghĩa : - Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá được thể hiện trong
hai trường hợp sau:
+ Thứ nhất: Nếu như một mặt hàng nào đó có giả cả cao hơn giá trị,
hàng hoá bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô
sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặt khác, những
người sản xuất hàng hoá khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt
hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên,
quy mô sản xuất càng được mở rộng.
+ Thứ hai, nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị
lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt
hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản
xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi ở ngành khác lại có thể tăng
lên.
Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có
thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản
xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ưng nhu cầu
của xã hội.
Tác động điều tiết lưu thông hàng hoá của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ
nó thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, và do đó,
cực của nó, đặc biệt trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.