Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH VŨ THỊ HỒNG HUỆ
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
hướng dẫn của PGS. TS. Đỗ Anh Tài trong suốt quá trình viết và hoàn thành
luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng khoa
học, Khoa sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh - Đại
học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của NHNo&PTNT
Thành phố Thái Nguyên trong thời gian hoàn thành luận văn./.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn Vũ Thị Hồng Huệ Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
ĐIỆN TỬ 3
1.1. Dịch vụ Ngân hàng Điện tử 3
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ 3
1.1.2. Ngân hàng thương mại và các hoạt động cơ bản 4
Thành Phố Thái Nguyên 39
3.2. Phân tích thực trạng dịch vụ ngân hàng điện tử tại NHNo&PTNT Thành
Phố Thái Nguyên 46
3.2.1. Thực trạng về việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở các ngân
hàng khác ở Việt Nam 46
3.2.2. Thực trạng dịch vụ Ngân hàng điện tử tại NHNo&PTNT Thành Phố
Thái Nguyên 52
3.3. Đánh giá về sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử tại NHNo Thành
Phố Thái Nguyên 66
3.3.1. Kết quả đạt được 66
3.3.2. Những hạn chế 67
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 68
CHƢƠNG 4. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
TẠI NHNo&PTNT THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 71
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
v
4.1. Phương hướng mục tiêu phát triển ngân hàng điện tử của NHNo Thành
Phố Thái Nguyên 71
4.2. Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng 72
4.2.1. Giải pháp về vốn 72
4.2.2. Giải pháp về công nghệ 73
4.2.3. Hoàn thiện công tác marketing tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông Thôn Thành Phố Thái Nguyên 74
4.2.4. Phát triển nguồn nhân lực 75
4.2.5. Nâng cao năng lực quản trị phòng ngừa rủi ro 76
4.2.6. Hoàn thiện bộ máy tổ chức và phương thức cung cấp dịch vụ 76
4.2.7. Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng điện tử 77
4.2.8. Phát triển mạng lưới giao dịch và trang bị thêm máy móc phương tiện
Tổ chức tín dụng
NV&KHTH
:
Nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp
KTKTNB
:
Kế toán và kiểm toán nội bộ
KDNT&TTQT
:
Kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế
GD
:
Giao dịch
TD
:
Tín dụng
KTNQ
:
Kế toán ngân quỹ
HCNS
:
Hành chính nhân sự
NHĐT
:
Ngân hàng điện tử
SMS Banking
:
Dịch vụ ngân hàng qua tin nhắn SMS
Internet Banking
:
Biểu đồ 3.9. Độ tuổi 61
Biểu đồ 3.10. Thời gian giao dịch với NHNo&PTNT 61
Biểu đồ 3.11. Nghề nghiệp 61
Biểu đồ 3.12. Loại hình công ty đang làm việc 62
Biểu đồ 3.13. Dịch vụ đang sử dụng 62
Biểu đồ 3.14. Nguồn nhận biết thông tin 62
Biểu đồ 3.15. Tiện ích sử dụng 63
Biểu đồ 3.16. Tần suất sử dụng mỗi tháng 63
Biểu đồ 3.17. Lý do sử dụng dịch vụ 63
Biểu đồ 3.18. Lý do chưa sử dụng dịch vụ 64
Biểu đồ 3.19. Biểu đồ doanh thu từ Dịch vụ ngân hàng điện tử 66
Biểu đồ 3.20. Thị phần thị trường ngân hàng điện tử tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên 68
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
1
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây ngành công nghệ thông tin phát triển như vũ
bão, hình thức kinh doanh qua các phương tiện điện tử đang trở thành hình
thức kinh doanh mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại. Ở các nước phát triển
công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi vào hầu hết các lĩnh vực. Cùng
với sự phát triển của ngành kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập quốc tế
các ngành nghề ở Việt Nam đang dần dần phát triển theo hướng ứng dụng
công nghệ thông tin triệt để vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Ngành ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ, các NHTM bước đầu ứng
dụng công nghệ thông tin vào các dịch vụ của mình đã mang lại hiệu quả
đáng kể không những cho ngân hàng mà còn mang lại nhiều tiện ích cho
khách hàng và xã hội.
Nắm bắt kịp thời xu thế đó, một số ngân hàng thương mại Việt Nam
như Vietcombank, Vietinbank, Techcombank, ACB… tiên phong trong việc
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành Phố Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thành Phố Thái Nguyên
Em xin chân thành cảm ơn! Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
3
CHƢƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
1.1. Dịch vụ Ngân hàng Điện tử
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ
Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản
phẩm vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Tổng
thu nhập của một quốc gia cũng như doanh thu của một doanh nghiệp không
thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ. Ở các nước phát triển,
tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường rất cao: cụ thể ở Mỹ
80% GDP là từ dịch vụ. Nhiều tổ chức kinh tế, cá nhân đầu tư không ít tiền
của công sức vào các hoạt động dịch vụ bởi nó đem lại hiệu quả kinh tế cao
và đang là xu thế của thời đại. Vậy dịch vụ là gì? Các Mác cho rằng dịch vụ là
con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển
mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt, liên tục để thỏa mãn
nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển.
Như vậy bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra
nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ.
Vào những năm cuối thế kỷ 20, dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế
quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa
Kinh doanh dịch vụ
1.1.3. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Trong dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là một trong những loại
hình dịch vụ xuất hiện sớm nhất. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các
dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển đa dạng về chủng loại và phong phú
về hình thức. Cũng giống như khái niệm dịch vụ, hiện vẫn còn nhiều cách
hiểu khác nhau về dịch vụ ngân hàng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
5
Trong cuốn “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, David Cox” cho rằng “hầu
hết các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại gọi là dịch vụ ngân hàng
hoặc là cơ sở điều kiện để mỏ rộng và phát triển dịch vụ ngân hàng”. Ông cũng
giải thích: “Mọi ngân hàng hoạt động với ba chức năng cơ bản là nhận và giữ
các khoản tiền gửi, cho phép rút tiền và vận hành hệ thống chuyển tiền, cho vay
các khoản tiền gửi tới khách hàng có nhu cầu vay vốn. Đây là chức năng cơ bản
nhất, nhưng bước sang những năm 90, hệ thống ngân hàng hiện đại còn có các
dịch vụ khác rộng rãi hơn, tinh vi hơn nhiều. Trong thực tế, một ngân hàng lớn
thường có khoảng 300 dịch vụ khác nhau cho khách hàng là các cá nhân hay
doanh nghiệp”. Như vậy theo cách hiểu của Ông thì dịch vụ ngân hàng là tất cả
các hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả các hoạt động truyền thống và các
dịch vụ thu phí mang tính chất kinh doanh.
Ở Việt Nam, lĩnh vực dịch vụ ngân hàng chịu sự điều chỉnh của Luật
các tổ chức tín dụng nhưng luật này không đưa ra định nghĩa và giải thích như
thế nào là dịch vụ ngân hàng. Trong một số sách báo tạp chí chuyên ngành,
khi đề cập đến khái niệm dịch vụ ngân hàng,thay vì định nghĩa khái niệm, các
tác giả chỉ thường liệt kê các loại hình thuộc dịch vụ ngân hàng. Vậy khái
quát lại dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu theo hai khía cạnh:
Thứ nhất, theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ những
trước hết sẽ xây dựng một giao diện trực tuyến để khách hàng đăng nhập vào
hệ thống, thực hiện lệnh giao dịch của mình trên máy tính tại bất kỳ đâu. Lệnh
này của khách hàng sau đó được chuyển đến bộ phận xử lý giao dịch điện tử
của ngân hàng để nhân viên ngân hàng tiếp tục hoàn chỉnh lệnh. Có thể nói
dịch vụ ngân hàng điện tử mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng.
Đối với khách hàng, họ không còn phải mất thời gian và chi phí giao dịch.
Đối với ngân hàng, họ không cần phải mở quá nhiều chi nhánh và điểm giao
dịch mà vẫn phục vụ được khách hàng. Hơn nữa, số lượng giao dịch được
thực hiện trong ngày cũng sẽ được cải thiện đáng kể do nhân viên giao dịch
chỉ thực hiện bước cuối cùng của khâu giao dịch là hoạch toán vào hệ thống
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
7
sổ sách kế toán ngân hàng mà không mất thời gian nhập chi tiết thông tin vào
màn hình giao dịch.
Vậy dịch vụ ngân hàng điện tử được giải thích như khả năng của một
khách hàng có thể truy nhập từ xa vào một Ngân hàng nhằm: thu thập các
thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản
lưu ký tại Ngân hàng đó, đăng ký các dịch vụ mới. Đây là một khái niệm rộng
dựa trên khả năng của từng ngân hàng trong việc ứng dụng công nghệ thông
tin vào các sản phẩm dịch vụ của mình. Nói cách khác, dịch vụ ngân hàng
Điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay
mua dịch vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình
với ngân hàng.
1.1.5. Sự ra đời và xu hướng phát triển của ngân hàng điện tử
Vào những năm 1950 một thương nhân người Mỹ đã sáng chế ra chiếc
thẻ thanh toán đầu tiên như một phương thức chi trả. Vào năm 1969 Chemical
Bank phát động chiến dịch quảng cáo ATM rầm rộ với khẩu ngữ “ kể từ ngày
2/9 ngân hàng chúng tôi sẽ mở cửa lúc 9h sáng và sẽ không bao giờ phải đóng
dịch vụ ebanking trở nên quen thuộc trong cuộc sống của người dân Mỹ.
Theo thống kê năm 1998 có 7 triệu hộ gia đình Mỹ giao dịch qua internet.
Không chỉ ở Mỹ ngân hàng điện tử có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển.
Đầu những năm 2000, rất nhiều dịch vụ ngân hàng điện tử khác được
một số ngân hàng thương mại lớn triển khai như Phone Banking, Mobile
Banking và Internet Banking với nhiều tiện ích ngày càng hấp dẫn. Thời gian
đầu ở Việt Nam hầu như chỉ có Vietcombank là cung cấp các dịch vụ ngân
hàng điện tử, tuy nhiên đến nay thì hầu hết các ngân hàng Thương mại ở Việt
Nam đều tham gia vào thị trường này và đều đã được triển khai được một số
dịch vụ ở một mức độ nhất định. Đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua thẻ tín
dụng ngày càng được áp dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các ngân hàng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
9
1.1.6. Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử
1.1.6.1. Đối với ngân hàng
a. Dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời tạo thêm nhiều cơ hội gia tăng
lợi nhuận cho các ngân hàng
Ngân hàng thương mại kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Nếu như
trước đây các ngân hàng truyền thống chủ yếu thu lợi nhuận dựa trên chênh
lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, các khoản thu phí chiếm tỷ
trọng nhỏ, trong đó phần lớn từ dịch vụ thanh toán, thì ở các ngân hàng hiện
nay do áp dụng công nghệ hiện đại, tỷ trọng lợi nhuận thu được trên các
khoản vay đang ngày càng giảm xuống, tỷ trọng từ các khoản thu phí ngày
càng tăng lên. Ngoài ra việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng điện tử còn làm
tăng tính chuyên nghiệp của ngân hàng và đảm bảo mang lại nguồn thu nhập
cao cho ngân hàng khi thực hiện chiến lược kinh doanh của mình.
Thực tiễn phát triển lĩnh vực ngân hàng ở Mỹ đã chứng minh điều này.
mang lại là tiền đề cho sự đa dạng các loại hình dịch vụ ngân hàng như: hệ
thống máy rút tiền tự động ATM, Phone Banking, Internet Banking, Mobile
Banking (ngân hàng tại nhà) …
Mặc dù thời gian xuất hiện tương đối ngắn so với sự phát triển của hệ
thống ngân hàng nhưng các loại dịch vụ điện tử đã góp phần đáng kể vào sự lớn
mạnh của ngân hàng trong việc giao dịch với khách hàng (cả về không gian, thời
gian lẫn mức phí). Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch, các dịch vụ ngân
hàng 24h/ngày, 7 ngày trong tuần và bất cứ ở nơi nào thậm chí ở bất kỳ con phố
nào) chỉ với một vài thao tác đơn giản với mức phí vô cùng cạnh tranh.
Việc áp dụng những thành tựu của khoa học công nghệ đã bổ khuyết
cho các hạn chế của từng loại hình đơn lẻ trong hệ thống dịch vụ của ngân
hàng, cung cấp ngày càng nhiều tiện ích cho khách hàng cũng như tăng cường
khả năng phục vụ khách hàng trong khi giảm được mức phí giao dịch và giảm
khối lượng công việc cho đội ngũ nhân viên.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
11
d. Phát triển ngân hàng điện tử giúp ngân hàng nâng cao năng lực
cạnh tranh
Việc ứng dụng có hiệu quả các thành tựu của khoa học công nghệ, và
thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với khách hàng tạo điều kiện giúp ngân hàng
nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, chất lượng các dịch vụ càng cao bao
nhiêu thì danh tiếng cũng như uy tín của ngân hàng ấy càng cao bấy nhiêu.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, với sự phát triển và bùng nổ
của lĩnh vực tài chính ngân hàng như hiện nay, năng lực tài chính càng mạnh,
uy tín và thị phần càng cao thì các ngân hàng phát triển càng bền vững.
e. Tạo thuận lợi cho các ngân hàng trong việc hội nhập kinh tế quốc
tế, mở rộng sự xâm nhập và liên kết các dịch vụ tài chính trên toàn thế giới
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các ngân hàng thương
nhanh chóng và chính xác. Khách hàng hầu như có thể thực hiện được hầu hết
các giao dịch mà không cần phải đến tận ngân hàng, do đó họ có thể tiết kiệm
được thời gian và công sức để đầu tư cho việc khác.
Dịch vụ ngân hàng điện tử giúp khách hàng tiếp cận với ngân hàng
nhanh và hiệu quả hơn.
Với các dịch vụ E-Banking, mọi khách hàng, dù là doanh nghiệp hay cá
nhân, dù tại văn phòng hay tại nhà, chỉ trong chốc lát với các phương tiện
truyền dẫn hiện đại, đều có thể kiểm tra tài khoản của mình, xem số dư,
chuyển tiền, thanh toán phí dịch vụ, xem tỷ giá trao đổi ngoại tệ, chứng
khoán, thanh toán thông qua thẻ tín dụng, mua vé máy bay…để kịp thời nắm
bắt các cơ hội đầu tư kinh doanh một cách nhanh chóng và hiệu quả. Với thời
gian giao dịch 24/24 khách hàng có thể thực hiện giao dịch của mình bất cứ
lúc nào, trong khi các dịch vụ ngân hàng truyền thống chỉ thực hiện được
trong giờ hành chính và có khi còn phải xếp hàng chờ. Ngày nay khi mà
thương mại điện tử phát triển các hoạt động mua bán qua mạng ngày càng
phổ biến thì dịch vụ ngân hàng điện tử càng trở nên không thể thiếu được, đó
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
13
là khách hàng chỉ cần cung cấp số thẻ tín dụng của mình mà không cần phải
đến địa điểm giao dịch của ngân hàng để thanh toán. Với mạng lưới ngân
hàng được liên kết điện tử vói nhau như Banknet hay Smartlink khách hàng
có thể giao dịch với bất cứ ngân hàng nào nằm trong hệ thống liên minh. Mặt
khác khách hàng khi ở nước ngoài vẫn có thể có thể thanh toán bình thường
thông qua thẻ mà không cần mang tiền mặt theo. Nó còn tiện lợi hơn đối với
các sinh viên khi đi du học, gia đình có thể thực hiện chuyển tiền thông qua
thẻ quốc tế nhanh và chi phí thấp hơn so với chuyển tiền qua bưu điện.
1.2. Nội dung của dịch vụ ngân hàng điện tử
1.2.1 Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại
tài khoản cá nhân dùng để thanh toán. Sau đó ngân hàng sẽ cung cấp mã số
định danh (ID) cho khách hàng. Mã số này không phải số điện thoại và nó sẽ
được chuyển thành mã vạch để dán lên điện thoại di động, giúp cho việc cung
cấp thông tin khách hàng khi thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn giản
hơn tại các thiết bị đầu cuối của điểm bán hàng hay cung ứng dịch vụ. Cùng
với mã số định danh khách hàng còn cung cấp một mã số cá nhân (PIN) để
khách hàng xác nhận giao dịch thanh toán khi nhà cung cấp dịch vụ thanh
toán yêu cầu. Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết thì khách hàng sẽ là thành
viên chính thức và đủ điều kiện để thanh toán thông qua điện thoại di động.
Khi có nhu cầu khách hàng chỉ cần soạn tin nhắn gửi tới tổng đài này
theo các mẫu được quy định sẳn của ngân hàng để truy vấn thông tin và thực
hiện thanh toán. Ngoài ra hệ thống còn có thể tự động gửi tin nhắn về số điện
thoại của khách hàng khi có các thông tin cập nhật về các sản phẩm dịch vụ
mới hay các chương trình khuyến mãi của ngân hàng.
Đây là một dịch vụ khá mới mẻ và rất tiện ích cho khách hàng vì khách
hàng chỉ cần sử dụng một chiếc điện thoại di động rất gọn nhẹ mà vẫn có thể
thực hiện được các giao dịch một cách hiệu quả mọi lúc mọi nơi.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
15
1.2.1.3. Dịch vụ Internet Banking
Ngày nay công nghệ thông tin phát triển như vũ bảo, hầu hết các doanh
nghiệp đều đăng tải thông tin trên mạng Internet để khách hàng có thể dễ
dàng tìm hiểu hơn. Các ngân hàng ngoài cung cấp thông tin còn sử dụng
internet vào các hoạt động như giao dịch tài chính trên, khách hàng cũng có
thể truy cập vào website của ngân hàng để mua hàng và thực hiện thanh toán
1.2.3. Dịch vụ thẻ
1.2.3.1. Khái niệm dịch vụ thẻ
Dịch vụ thẻ là dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời sớm nhất trên thế giới
lãi (Nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn) để mua sắm hàng
hóa dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này.
Phân loại theo đặc tính kỹ thuật
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính
với một dãi băng từ chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ.
Thẻ điện tử có bộ xử lý Chip-thẻ thông minh (Smart Card): là thế hệ
mới nhất của thẻ thanh toán, thẻ thông minh dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học
nhờ gắn vào thẻ “Chip” điện tử có cấu trúc như một máy tính hoàn hảo. Thẻ
thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của “Chip” điện tử khác nhau.
Phân theo chủ thể phát hành
Thẻ do ngân hàng phát hành: Đây là loại thẻ giúp cho khách hàng sử
dụng linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do
ngân hàng cấp.
Thẻ do tổ chức phi ngân hàng cấp: Đó là loại thẻ du lịch và giải trí của
các tập đoàn kinh doanh lớn phát hành như Diner Club, Amex.
Phân loại theo phạm vi sử dụng
Thẻ nội địa: Do tổ chức tài chính hoặc ngân hàng trong nước phát hành
hoặc mang thương hiệu của tổ chức quốc tế được sử dụng trong nước.
Thẻ quốc tế: Là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng các
ngoại tệ mạnh để thanh toán.