báo cao thực tập nhà máy xử lý khí dinh cố - Pdf 14

BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH XÃ HỘI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ DẦU KHÍ
KHOA DẦU KHÍ
BÁO CÁO THỰC TẬP
NHÀ MÁY XỬ LÝ KHÍ DINH CỐ
NHÀ MÁY XỬ LÝ KHÍ DINH CỐ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện: Phạm Minh Tú
Chuyên ngành : Vận hành thiết bị dầu khí.
Lớp :Vận hành I
Khóa : 2009 – 2012
Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 06 năm 2012
1
LỜI MỞ ĐẦU
Với những hành trang kiến thức thu thập trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường sẽ không đủ nếu không có quá trình thực tập thực tế tại các nhà máy xí nghiệp.
Trong quá trình thực tập, sinh viên sẽ vận dụng những kiến thức đã học vào những gì đang
diễn ra tại nhà máy, và qua quá trình tìm hiểu tại nhà máy sẽ giúp sinh viên tiếp thu những
kiến thức khác mà ở nhà trường không có điều kiện giảng dạy.
Đới với những sinh viên năm cuối như em, thực tập sẽ giúp ít một phần vào quá trình
tìm kiếm việc làm trong tương lai, cũng như định hướng lại chính ngành nghề mà mình đã
chọn. Kết quả của quá trình thực tập tại các nhà máy xí nghiệp sẽ đánh giá chính năng lực
tiếp thu của người sinh viên trong suốt thời gian học tập ở trường.
Trong quá trình thực tập tại Nhà máy xử lý khí Dinh Cố, luôn lắng nghe các anh các
chị kỹ sư vận hành tại Nhà máy để tích góp kinh nghiệm trong quá trình lao động, và luôn
luôn tuân thủ các nguyên tắc an toàn lao động.
Cuốn báo cáo thực tập tốt nghiệp này chính là công sức tích góp tất cả các tài liệu và
những ghi nhận từ thực tế thực tập tại Nhà máy về các chế độ công nghệ trong nhà máy.
SINH VIÊN THỰC TẬP TẠI GPP
2
LỜI CẢM ƠN
4
MỤC LỤC
5
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG
I. TÀI NGUYÊN KHÍ THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM:
Nền tảng cơ bản để phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam phải kế đến tiềm năng
nguồn khí. Việt Nam có nguồn tài nguyên dầu khí vào loại trung bình so với các nước trên
thế giới và đứng hàng thứ 3 trong khu vực (sau Indonesia và Malaysia).
Theo Petro Việt Nam Gas, tổng tiềm năng khí thiên nhiên có thể thu hồi vào khoảng
2.694 tỷ m
3
và trữ lượng đã phát hiện vào khoảng 672 tỷ m
3
, tập trung chủ yếu ở các bể
Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, Cửu Long và Sông Hồng.

Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 6
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
C
+
5
1,84 1,49 2,33
CO
2
, N
2
0,72 5,02 4,5
Các Cấu tử
Thành phần khí ( % vol )
Tiền Hải Rồng ( mỏ khí )
C
1
87,64 84,77
C
2
3,05 7,22
C
3
1,14 3,46
iC
4
0,12 1,76
iC
4
0,17
C

- Xuất, nhập khẩu các sản phẩm khí khô, LNG, CNG, LPG, Condensate và vật tư
thiết bị liên quan;
- Tham gia đầu tư các dự án khí thượng nguồn;
- Đầu tư tài chính; mua bán doanh nghiệp khí trong và ngoài nước.
2.2. Sản phẩm, dịch vụ:
- Khí khô
- Khí hóa lỏng (LPG)
- Condensate, CNG, LNG
- Vận chuyển, tàng trữ khí và sản phẩm khí
- Tư vấn thiết kế, vận hành, bảo dưỡng, sữa chữa công trình khí;
- Đầu tư tài chính.
Mỏ khí PM3
Mỏ khí
Nam Côn Sơn
Mỏ khí Bạch Hổ
Giàn nén khí
trung tâm
Giàn nén khí
trung tâm
Nhà máy xử lý
khí Nam Côn Sơn
Nhà máy xử lý
khí Dinh Cố
Trạm phân phối
khí Cà Mau
LPG
Hộ gia đình
Khu thương mại
Nhà máy chế biến
Condensate

Trạm xử lý khí Dinh Cố.
Trạm phân phối khí tại Bà Rịa.
Trạm điều hành trung tâm ở Vũng Tàu.
Các công trình tiêu thụ khí bao gồm các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ cũng được
triển khai xây dựng.
2.3.2. Dự án khí Nam Côn Sơn:
Dự án khí Nam Côn Sơn là dự án khí lớn nhất hiện nay tại Việt Nam bao gồm: giàn
khai thác, hệ thống đường ống dẫn khí từ ngoài khơi vào bờ dài 400km, Nhà máy xử lý khí
Dinh Cố, Trung tâm phân phối khí tại Phú Mỹ và hệ thống đường ống dẫn khí Phú Mỹ- Tp
Hồ Chí Minh.Dự án được đưa vào vận hành từ cuối năm 2002 hiện nay công suất của nhà
máy xử lý khí Nam Côn Sơn tại Dinh Cố đã đạt đến 20 triệu m
3
khí/ngày.
Hiện nay lượng khí dẫn vào bờ để cung cấp cho nhà máy chế biến khí Dinh
Cố và các nhà máy nhiệt điện phía Nam là 4,7 triệu tấn m
3
khí ngày đêm, lượng
này được dẫn từ mỏ Bạch Hổ và mỏ Rạng Đông. Trong thời gian tới lưu lượng khí
được dẫn vào bờ cung cấp cho các nhà máy này là 5,7 triệu m
3
khí ngày đêm.
Vào năm 2003 khí từ các mỏ Nam Côn Sơn cung cấp cho nhà máy chế biến khí
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 9
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
Nam Côn Sơn.
Ngoài khu vực trên, ở thềm lục địa Miền Trung cũng đã phát hiện một số mỏ
khí nhưng hàm lượng CO
2
có trong mỏ quá cao đến 75% trong đó hàm lượng
hyđrocacbon không đáng kể. Vì vậy khi sử dụng thì không có hiệu quả kinh tế, nên

Giai đoạn thiết bị cực tối thiểu (AMF) chỉ sản xuất condensate ổn định với công
suất 342 tấn/ngày và 3,8 triệu m
3
khí/ngày, hoạt động vào tháng 10/1998.
Giai đoạn thiết kế tối thiểu (MF) sản xuất condensate ổn định với công suất 380
tấn/ngày, hỗn hợp butan- propan với công suất 629 tấn/ngày và 3,5 triệu m
3
/ngày khí khô,
hoạt động vào tháng 12/1998.
Giai đoạn nhà máy hoàn chỉnh (GPP) sản xuất condensate ổn định, butan và
propan được tách độc lập và khí khô. Giai đoạn hoàn chỉnh với công suất khí đầu vào là
1,5 tỷ m
3
khí/năm thu hồi propan: 537 tấn/ngày; 417 tấn/ngày; condensate: 402 tấn/ngày và
khí
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 11
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
khô:3,34 triệu m
3
/ngày. Giai đoạn này sử dụng công nghệ Turbo-Expander với khả năng
thu hồi sản phẩm lỏng cao.
Hình 2.2. Nhà máy xử lý khí Dinh Cố ngày và đêm
CHƯƠNG III
QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 12
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
Để đảm bảo cho việc vận hành nhà máy được linh hoạt đề phòng một số thiết bị
chính của nhà máy bị sự cố, và hoạt động của nhà máy được liên tục khi thực hiện bảo
dưỡng, sửa chữa các thiết bị không gây ảnh hưởng đến việc cung cấp khí cho nhà máy
điện, đạm, nhà máy được lắp đặt và hoạt động theo các chế độ chính:

AMF hoặc MF để duy trì hoạt động của nhà máy.
Thực chất, nhà máy hoạt động với 3 chế độ chính là AMF, MF, GPP còn chế độ
MGPP là để đáp ứng những yêu cầu thực tế hiện tại trong quá trình cung cấp khí. Do nhu
cầu của thị trường không cần tách butane và propane riêng, mà chỉ cần hỗn hợp LPG sử
dụng cho nhu cầu đốt dân dụng nên tháp C3/C4 Splitter không được sử dụng. Mặc khác kể
từ năm 2002, nhà máy tiếp nhận thêm dòng khí từ mỏ Rạng Đông nâng lưu lượng dòng về
bờ là 5.7 triệu m
3
/ngày, tuy nhiên lưu lượng khí về bờ tăng nhưng áp lực đầu vào giảm
xuống còn 70 bar đến 80 bar, vì vậy để đảm bảo áp lực đầu vào và công suất vận hành của
nhà máy, nên đã lắp đặt thêm 4 máy nén K-1011A/B/C/D và đường rẽ qua bồn V-101.
I. CHẾ ĐỘ AMF – ABSOLUTE MINIMUM FACILITY:
Chế độ AMF là chế độ hoạt động tối thiểu, sử dụng những đường ống dẫn chính của
nhà máy. Trong chế độ này, quá trình khử nước không được thực hiện. Nguồn khí đồng
hành từ mỏ sau khi được tách sơ bộ tại Slug Catcher sẽ được đưa tới máy nén Jet
Compressor, áp suất đầu ra tại máy nén được duy trì ở 45 bar. Máy nén Jet Compressor có
nhiệm vụ duy trì áp suất ở tháp Deethanizer luôn ở 20 bar. Mục đích chính của chế độ
AMF là cung cấp nguồn khí cho nhà máy điện đạm, lượng lỏng thu hồi được rất ít.
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 14
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
Hình 3.1: Sơ đồ công nghệ chế độ AMF - Absolute Minimum Facility
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 15
Khí đồng hành
V-08
C-05
ME-13
Khí thương phẩm
E-07
V-03
Nước

tách nước (V-52) để xử lý. Tại đây nước được làm giảm áp tới áp suất khí quyển và
hydrocacbon bị hấp thụ sẽ được giải phóng đưa vào đốt ở hệ thống cột đuốc, nước sau đó
được đưa tới hầm đốt (ME-52).
Dòng lỏng đi ra từ Slug Catcher (SC) được giảm áp và đưa vào bình tách V-03 hoạt
động ở 75 bar và được duy trì ở nhiệt độ 20°C. V-03 có nhiệm vụ: Tách hydrocacbon nhẹ
hấp thụ trong lỏng nhờ giảm áp. Cùng với việc giảm áp suất từ 109 bar xuống 75 bar, nhiệt
độ cũng giảm thấp hơn nhiệt độ hình thành hydrate nên để tránh hiện tượng này, V-03
được gia nhiệt đến 20oC bằng dầu nóng nhờ thiết bị gia nhiệt E-07. Sau khi ra khỏi V-03
dòng lỏng này được trao đổi nhiệt tại thiết bị E-04A/B nhằm tận dụng nhiệt và làm mát cho
dòng condensate thương phẩm.
Dòng khí thoát ra từ Slug Catcher được dẫn vào bình tách lọc V-08 để tách triệt để
các hạt lỏng nhỏ bị cuốn theo dòng khí do SC không tách hết và lọc các hạt bụi trong khí
(nếu có) tránh làm hư hỏng các thiết bị sau.
Khí từ đầu ra của V-08 được đưa vào thiết bị hoà dòng EJ-01 A/B/C để giảm áp
suất từ 109 bar xuống 47 bar. Việc giảm áp này có tác dụng hút khí từ đỉnh tháp C-01.
Dòng ra là dòng hai pha có áp suất 47 bar và nhiệt độ 20°C cùng với dòng khí từ V-03 (đã
giảm áp) được đưa vào tháp C-05. Nhiệm vụ của EJ-10A/B/C:Giữ áp suất làm việc của
tháp C-01 ổn định. Tháp C-05 hoạt động ở áp suất 47 bar, nhiệt độ 20°C. Ở chế độ AMF
phần đỉnh của tháp hoạt động như bình tách khí lỏng thông thường. Tháp C-05 có nhiệm
vụ tách phần lỏng ngưng tụ do sự sụt áp của khí từ 109 bar xuống 47 bar khi qua EJ-01
A/B/C. Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-05 được đưa ra đường khí thương phẩm để cung cấp
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 16
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
cho các nhà máy điện. Lỏng tại đáy C-05 được đưa vào đĩa thứ 1 của tháp C-01. Chế độ
AMF tháp C-01 có 2 dòng nhập liệu :
- Dòng từ V-03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01.
- Dòng lỏng từ đáy của tháp C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01.
Áp suất hơi của Condensate giảm đi và được điều chỉnh trong tháp C-01 nhằm mục
đích: Phù hợp cho việc chứa trong bồn chứa ngoài trời. Với ý nghĩa đó, trong chế độ AMF
tháp C-01 hoạt động như là tháp ổn định Condensate. Trong đó, phần lớn hydrocacbon nhẹ

thể tích dòng ra, điều chỉnh áp suất của tháp tách ethane C-01 ở 20 BarA bằng cách cho
bypass 1 phần dòng khí qua Ejector khi công suất của hệ thống Ejector đủ để duy trì áp
suất C-01. Khi công suất của hệ thống Ejector nhỏ hơn cần thiết, lượng khí dư từ tháp tách
ethane sẽ được xả ra đuốc đốt qua van điều áp (PV-1303B) vì vậy hệ thống tách ethane
được bảo vệ không có hiện tượng quá áp.
1.4 Tháp tách C-05 Rectifier trong chế độ họat động AMF.
Dòng khí từ hệ thống Ejector và dòng khí từ bính tách V-03 được chuyển đến đĩa
thứ nhất của tháp C-05 (Rectifer) để tách lỏng ra khỏi khí ở nhiệt độ 20.7oC và áp suất 45
BarA được điều chỉnh bởi thiết bị điều chỉnh áp suất (PIC-1114) lắp đặt trên đường ống
dẫn khí thương phẩm. Phần trên của tháp C-05 lúc này có tác dụng như một bình tách lỏng
hơi (Gas-Liquid Seperator).
Trong chế độ họat động AMF, Turbo-Expander (CC-01) và thiết bị trao đổi nhiệt
khí lạnh/khí (E-14) không được đưa vào hoạt động, do vậy dòng khí từ đỉnh tháp tách C-05
được chuyển đến đường ống dẫn khí thương phẩm thông qua van PV-1114A được lắp đặt
trên đường ống để điều chỉnh áp suất đầu ra của nhà máy khoảng 45 BarA.
Dòng lỏng từ đáy tháp C-05 được điều khiển thông qua thiết bị điều chỉnh dòng
(FIC-1201) cùng với thiết bị điều chỉnh mức chất lỏng (LIC-1201A) đưa vào đĩa đầu tiên
của tháp tách Ethane (C-01).
1.5 Tháp tách Ethane trong chế độ hoạt động AMF.
Trong chế độ hoạt động AMF, tháp tách ethane (C-01, Deethanizer) có hai dòng
nguyên liệu đầu vào, đó là dòng lỏng đi ra từ bình tách V-03 và dòng lỏng đi ra từ đáy tháp
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 18
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
tách tinh C-05 (Rectifer). Dòng lỏng đi ra từ đáy tháp tách tinh C-05 được đưa vào đĩa đầu
tiên của tháp tách ethane C-01 bao gồm 80% phần mol chất lỏng và đóng vai trò như dòng
hồi lưu ngoài cho quá trình chưng cất. Dòng lỏng đi từ bình tách V-03 được đưa vào đĩa
thứ 14 của tháp tách ethane C-01, (đối với chế độ hoạt động MF và GPP thì đưa vào đĩa
thứ 20).
Áp suất hơi của condensate được điều chỉnh trong tháp C-01 xuống thấp hơn áp
suất khí quyển để lưu trữ trong các bồn chứa thông thường. Trong trường hợp này, tháp

Ở chế độ MF, khí gas sau khi được khử nước sẽ được làm lạnh qua 2 thiết bị trao
đổi nhiệt, cả 2 dòng này đều đóng vai trò nhập liệu cho tháp Rectifier nhằm tách lượng
lỏng có trong dòng khí. Khí sau khi được tách lỏng lại tháp Rectifier có nhiệt độ thấp được
dùng làm lạnh cho dòng nhập liệu, sau đó được đưa vào hệ thống ống dẫn khí thương
phẩm để đến nhà máy điện, đạm. Áp suất hoạt động tại tháp Deethanizer được điều chỉnh
bởi một máy nén ngoài. Mục đích chính của chế độ MF là thu hồi sản phẩm lỏng, trong đó
quá trình giản nỡ không đóng vai trò chính. Tháp tách C3/C4 Splitter không được sử dụng
trong chế độ này, do đó sản phẩm lỏng chỉ gồm condensate và bupro (hỗn hợp của propane
và butane).
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 20
Khí đồng hành
V-08
V-06A/B
E-15
E-18
SC
V-07
K-04
F-01
E-20
FV-1001
V-12
K-01
FV-1701
E-04
E-01A/B
V-15
FV-1301
E-02
V-02

Dòng khí từ Slug Catcher được đưa đến thiết bị tách lọc Dedydration Inlet
Filter/Separator (V-08), thiết bị này có chức năng: tách nước, hydrocacbon lỏng và các hạt
rắn nhằm bảo vệ lớp chất hấp phụ trong V-06AB khỏi bị hỏng, giảm hoạt tính. Sau khi
được loại nước tại Dehydration Adsorber (V-06A/B), dòng khí được đưa đồng thời đến 2
thiết bị Cold Gas/Gas Exchanger (E-14) và Gas/Cold Liquid Exchanger (E-20), sau đó vào
tháp Rectifier (C-05) để tách pha lỏng và pha khí riêng biệt. Khí ra từ đỉnh tháp Rectifier
(C-05) được sử dụng như tác nhân làm lạnh bậc 1 cho dòng nguyên liệu tại Cold Gas/Gas
Exchanger (E-14), nhiệt độ dòng nguyên liệu giảm từ 26.5
o
C xuống -17
o
C sau đó được làm
lạnh bậc 2 tại van FV-1001 bằng quá trình giảm áp. Dòng khí ra từ đỉnh Rectifier (C-05)
sau khi trao đổi nhiệt tại Cold Gas/Gas Exchanger (E-14), nhiệt độ dòng tăng lên đủ điều
kiện cung cấp cho các nhà máy điện.
Hai tháp hấp phụ Dehydration Adsorber (V-06A/B) được sử dụng luân phiên, khi
tháp này làm việc thì tháp kia tái sinh. Quá trình tái sinh được thực hiện nhờ sự cung cấp
nhiệt của thiết bị E-18 sử dụng dầu nóng gia nhiệt cho dòng khí thương phẩm nâng nhiệt
độ lên 220
o
C. Dòng khí sau quá trình tái sinh sau khi ra khỏi thiết bị Dehydration Adsorber
(V-06A/B) được làm mát tại hệ thống làm mát bằng không khí Dehydrator Regeneration
Gas Cooler (E-15) và được tách lỏng ở Dehydration Separator (V-07) trước khi dẫn vào
đường khí thương phẩm.
2.1.2. Dòng condensate:
Sơ đồ dòng condensate trong chế độ MF về cơ bản giống với chế độ AMF, thay vì
dòng khí ra từ thiết bị Slug Catcher Liquid Flash Drum (V-03) đến tháp Rectifier (C-05) thì
lại đến tháp Deethanizer (C-01).
Áp suất của Slug Catcher Liquid Flash Drum (V-03) được giữ ở 75 bar bởi van điều
khiển PV-1305A/B gắn trên đường ống dẫn trước khi vào mâm 2 và 3 của tháp

nguyên liệu vào tháp Deethanizer (C-01). Sau khi ra khỏi E-04A/B dòng lỏng này được
đưa đến làm lạnh tại thiết bị quạt làm mát bằng không khí E-09 trước khi đưa ra đường
ống hoặc bồn chứa condensate thương phẩm TK-21. Dòng hơi ra khỏi đỉnh tháp Stabilizer
(C-02) là hỗn hợp bupro, được ngưng tụ tại bình V-02, một phần được cho hồi lưu trở lại
tháp, phần còn lại theo đường ống dẫn sản phẩm LPG.
2.2.1. Các thiết bị bổ sung thêm vào so với chế độ MF
Trong chế độ hoạt động này, một số thiết bị được bổ sung vào so với chế độ AMF,
các thiết bị chủ yếu là tháp hấp thụ loại nước V-06A/B (Dehydration Adsorber), thiết bị
trao đổi nhiệt khí lạnh/khí E-14 (Cold Gas/Gas Exchanger), thiết bị trao đổi nhiệt khí/lỏng
E-20 (Gas/Cold Liquid Exchanger), máy nén khí ở đỉnh tháp tách enthane K-01
(Deethanizer OVHD Compressor) và tháp ổn định C-02 (Stabilizer).
2.2.2Quá trình làm khô và tái sinh chấp hấp phụ:
Trong chế độ hoạt động này, đầu tiên dòng khí từ Slug Catcher được chuyển đến
tháp loại nước V-08 (Dehydration Intel Filter/Seperator), và sau đó được đưa vào một
trong hai tháp hấp phụ loại nước hoạt động song song V-06A/B để tách nước có trong khí
và cuối cùng khí đã được loại nước đi qua hệ thống lọc F-01A/B.
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 23
Báo cáo thực tập Nhà máy xử lý khí Dinh Cố
2.2.3 Xử lý Condensate trong chế độ hoạt động MF.
Việc xử lý Condensate trong chế độ hoạt động MF cũng tương tự như trong chế độ
hoạt động AMF, có một sự khác nhau giữa hai chế độ hoạt động là trong chế độ hoạt động
MF dòng khí từ bình tách 3 pha được chuyển đến tháp tách ethane, còn trong chế độ hoạt
động AMF thì dòng khí này được chuyển đến tháp tách tinh.
Áp suất của bình tách 3 pha được điều chỉnh ở 75 BarA bằng van điều áp (PV-
1305A/B) được lắp đặt trên đường ống dẫn khí của nó và trước đầu vào tháp tách ethane ở
đĩa thứ 2 hoặc thứ 3, nhiệt độ đầu ra van điều áp là -7.9°C, thấp hơn nhiệt độ tạo thành
hydrate (13.4°C), vì vậy hai van (PV-1305A/B) được lắp đặt, trong đó một van dự phòng.
Trong trường hợp hydrate được hình thành ở một trong hai van thì có thể bơm methanol
vào hoặc là sử dụng van dự phòng.
Mục đích của việc chuyển khí từ bình tách V-03 đến tháp C-01 là vì khí này có thể

được đưa vào đĩa thứ nhất của tháp tách tinh (C-05, Rectifier). Trong tháp tách tinh (C-05,
Rectifier) một lượng khí chứa chủ yếu methane, ethane được tách ra khỏi Codensate ở
nhiệt độ hoạt động là -18.5°C và áp suất là 47.5BarA, nhiệt độ và áp suất làm việc được
điều chỉnh bằng van (PIC-1114) được lắp đặt trên đường ống dẫn khí thương phẩm. Phần
trên của tháp tách tinh (C-05, Rectifier) có tác dụng như một bình tách lỏng-khí.
Dòng khí từ tháp tách tinh (C-05, Rectifier) có nhiệt độ -18.5°C được dùng làm lạnh
dòng khí nguyên liệu đi vào trong thiết bị trao đổi nhiệt khí lạnh/khí (E-14, Cold Gas/Gas
Exchanger). Trong chế độ hoạt động MF, hệ thống tuabin giản/nén (CC-01,turbo-
Exchangerr/Compressor) không hoạt động, vì vậy nó được bỏ qua và khí được chuyển đến
đường ống dẫn khí thương phẩm sau khi được do dòng bằng thiết bị đo (FI-1105A/B). Van
điều áp (PV-1114A, Control valve) được lắp đặt trên đường ống điều chỉnh áp suất đầu ra
của nhà máy là khoảng 47BarA.
Chất lỏng từ đáy tháp tách tinh (C-05, Rectifier) thông qua thiết bị điều chỉnh dòng
FIC-1201 cùng với thiết bị điều chỉnh mức LIC-1201A được đưa vào thiết bị trao dổi nhiệt
khí/lỏng (E-20,, Gas/Cold Liquid Exchanger), có nhiệt độ khoảng -26.8°C được dùng để
làm lạnh dòng khí đầu vào và áp suất của khí đầu vào cũng được giảm xuống 47.5BarA
qua van FV-0501C sau đó dòng này được chuyển đến đĩa trên cùng của tháp tách ethane
(C-01, Deethanizer).
2.2.5 Tháp tách ethane trong chế dộ hoạt động MF.
Phạm Minh Tú/ VH I-2009 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status