Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày càng phát triển, các phương tiện giao thông ngày càng
nhiều. Đặc biệt ở Thành Phố Hồ Chí Minh nơi có mật độ dân cư đông nhất
trong cả nước, và cũng là nơi có số lượng xe gắn máy 2 bánh lưu hành lớn
nhất (hơn 2.200.000 xe gắn máy 2 bánh và ước tính tăng thêm 30.000 xe
mỗi tháng)
[17]
. Do chòu áp lực của một khối xe cộ khổng lồ kết hợp với tình
trạng đường xá không bảo đảm tốt, các điều kiện bảo đảm an toàn giao
thông chưa phát triển kòp thời với số lượng xe cộ, cũng như ý thức chấp
hành luật lệ giao thông của người dân còn chưa cao nên số tai nạn giao
thông vẫn còn phổ biến. Mặt khác, đa số người dân không có ý thức sử
dụng và đội nón bảo hiểm do đó vùng sọ mặt thường bò tổn thương, trong
đó gãy xương gò má chiếm tỷ lệ đáng kể. Theo thống kê tình hình chấn
thương mũi xoang tại Trung tâm Tai Mũi Họng TPHCM
[5]
trong 9 năm từ
1986 – 1995, trong tổng số 2872 trường hợp chấn thương xương mặt, vỡ
xương gò má chiếm 31,5%. Theo thống kê số liệu tại bệnh viện Nhân Dân
115 trong năm 1999, số ca chấn thương vùng mặt là 234 ca/ năm, trong đó
chấn thương gãy phức hợp xoang hàm gò má chiếm 49,57% ( BVND 115,
Nguyễn Anh Võ – Huỳnh Thanh, 1999 )
Những chấn thương xoang hàm và gò má nếu không được điều trò sớm
và đúng, có thể để lại di chứng về chức năng như: song thò, hạn chế vận
nhãn, tê nửa bên mặt, viêm xoang, lỗ dò xoang hoặc di chứng về thẩm mỹ
như: mất cân đối hai gò má, lõm má một bên, thấp mặt một bên.
Mục đích cuộc nghiên cứu là khái quát được tình hình chấn thương vỡ
phức hợp xoang hàm và xương gò má tại khoa Tai Mũi Họng bệnh viện
Nhân Dân 115 thông qua một số đặc điểm dòch tễ, nguyên nhân chấn
thương, các đặc điểm lâm sàng, và sơ lược về phương pháp điều trò.
2.3. Mục tiêu chuyên biệt 3:
Khảo sát một số phương pháp điều trò của chấn thương vỡ phức hợp xoang
hàm và xương gò má ở những bệnh nhân nhập viện và điều trò tại khoa Tai
Mũi Họng Bệnh Viện Nhân Dân 115 TP.HCM trong thời gian 1/5/2003 đến
ngày 1/5/2004
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG III: TỔNG QUAN Y VĂN
I. DỊCH TỄ HỌC CHẤN THƯƠNG :
Chấn thương là một vấn đề sức khoẻ lớn đối với các nước đã phát triển và
đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với các nước đang phát triển,
trong đó chấn thương tai mũi họng là một trong những vấn đề gay go nhất do
chức năng quan trọng của các cơ quan vùng mặt cũng như do vò trí đặc biệt
về thẩm mỹ của các cơ quan này.
1. Xuất độ chung :
Theo William B.Hofmann, MD
[27]
, chấn thương vùng mặt chiếm tỉ lệ cao
nhất trong các loại chấn thương (72,1% vào năm 1962). Theo Aubry
[19]
tỷ lệ
này là 60%. Ở các nước tiên tiến như Pháp, tại bệnh viện Begin, theo thống
kê từ năm 1975-1980 của Bellavoir, Pons và cộng sự
[30]
cho thấy trong 1687
chấn thương khối xương mặt, vỡ xương gò má chiếm tỷ lệ 31,6%
Ở Việt Nam, theo thống kê tình hình chấn thương mũi xoang tại Trung
Tâm Tai Mũi Họng Tp.HCM trong 9 năm từ 1986-1995
[5]
, trong tổng số 2872
Dechaume
[29]
lứa tuổi bò chấn thương nhiều nhất là 16 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ
48%. Theo Robinson K.L
[24]
75% số trường hợp của ông trong khoảng từ 16-
40 tuổi.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Huỳnh Kiến
[3]
lứa tuổi chấn thương
nhiều nhất là 16 đến 30 tuổi chiếm 49%. Nghiên cứu của Nguyễn Thò Quỳnh
Lan
[6]
độ tuổi hay bò chấn thương nằm khoảng từ 16 đến 40 tuổi chiếm 89%.
Lâm Hoài Phương
[7]
lứa tuổi này là 21 đến 30 chiếm tỷ lệ 41,87%.
4. Nghề nghiệp:
Chúng tôi không tìm thấy số liệu thống kê về xuất độ chấn thương gãy
xương gò má theo nghề nghiệp trong y văn và trong các nghiên cứu của nước
ngoài.
Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Sơn
[10]
thì nhóm cán bộ công nhân viên
(lao động chân tay và lao động trí óc) chiếm tỷ lệ cao 50,5%. Kết quả nghiên
cứu của Phạm Tường Phong và Phạm Quốc Thái
[8]
với tỷ lệ bệnh nhân thuộc
nhóm lao động chân tay là 47,4%.
5. Nguyên nhân:
chấn thương nói chung và chấn thương gãy xương gò má nói riêng. Tại Viện
Răng Hàm Mặt TP.HCM
[11]
trong năm 1996 có 789 trường hợp bò chấn
thương hàm mặt thì có tới 675 trường hợp (5,55%) là do tai nạn giao thông.
Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Sơn
[10]
tỷ lệ chấn thương do tai nạn giao
thông là 82,8%, của Nguyễn Thò Quỳnh Lan
[6]
cũng cho tỷ lệ chấn thương do
tai nạn giao thông rất cao là 92,72%. Phương tiện giao thông chủ yếu ở nước
ta là xe hai bánh nên số tai nạn giao thông khi sử dụng xe hai bánh cao đặc
biệt là xe gắn máy. Thống kê của phòng cảnh sát giao thông và sở giao
thông công chánh TP.HCM
[13]
cho biết phương tiện chính gây ra tai nạn giao
thông là xe gắn máy chiếm 76%. Nghiên cứu của Lâm Hoài Phương
[7]
cũng
cho kết quả tương tự với tỷ lệ tai nạn giao thông gây ra bởi xe gắn máy là
77,52%. Ngoài ra, tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, tai nạn thể thao… cũng
gây chấn thương xương gò má, nhưng với tỷ lệ rất thấp.
Theo kết quả điều tra của Phòng cảnh sát giao thông và Sở giao thông
công chánh TpHCM
[14]
thì số tai nạn giao thông trong tình trạng say rượu
chiếm 6%. Nghiên cứu của Nguyễn Thò Quỳnh Lan
[6]
cho biết 31% bệnh
[10]
về chấn
thương xoang hàm, số bệnh nhân nhập viện từ 18g00 đến 23g00 là 50% tổng
số bệnh nhân.
- Nhắc lại về giải phẫu :
a) Xoang hàm :
Xoang hàm là một hốc rỗng có hình tháp tam giác, gồm:
- Đỉnh nằm ở ngoài phía xương gò má
- Thành trước (mặt trước):
+ Là mặt trước của xương hàm
+ Phía trên là bờ dưới ổ mắt
+ Phía dưới là xương ổ răng và răng
− Thành trên (mặt trên): là sàn ổ mắt
− Thành sau (mặt sau): Mặt này nhìn vào hố chân bướm hàm
− Thành trong (vách mũi xoang)
− Đáy xoang: Bắt đầu từ răng nanh và chấm dứt ở răng khôn, cách cổ răng
15mm.
− Sự phân bố thần kinh và mạch máu:
+ Cảm giác niêm mạc xoang hàm do 2 nhánh V2 chi phối.
Trang 7
Luận văn tốt nghiệp
+ Mạch máu:
Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau.
Động mạch bướm khẩu cái.
Động mạch khẩu cái lên.
b) Xương gò ma ù:
Xương gò má là một thành phần của khối xương mặt. Đó là một xương
dầy, khoẻ, hình 4 cạnh, nối với 4 xương: xương trán, cánh lớn xương bướm,
xương thái dương và hàm trên qua 4 khớp: khớp gò má trán, khớp gò má
bướm, khớp gò má thái dương và khớp gò má hàm
Gân góc mắt trong bám vào mào lệ trước và mào lệ sau, gân góc
mắt ngoài bám vào ụ lồi Whitmall của ổ mắt (ở 1cm dưới khớp gò
má trán). Đứt gân góc mắt hoặc chỗ bám của nó sẽ đưa đến hiện
tượng sa góc mắt.
− Dây thần kinh dưới ổ mắt:
Rãnh thần kinh dưới ổ mắt nằm ở trần xoang hàm và dây này chui
ra qua lỗ dưới ổ mắt cách bờ dưới ổ mắt 0,5-1 cm.
Khi xoang hàm và xương gò má bò chấn thương, thần kinh này có
thể bò ảnh hưởng ở nhiều mức độ như: bò đứt, bò chèn ép hoặc bò
xương vụn cắm vào gây đau, dò cảm mất cảm giác hoặc giảm cảm
giác vùng má, vùng cạnh mũi, môi trên và tê các răng hàm trước.
− Xoang hàm: Máu tụ trong lòng xoang hàm, thấy trong hầu hết các
trường hợp chấn thương vỡ xoang hàm và xương gò má. Máu tụ làm
cản trở thông khí và vận chuyển chất nhầy trong xoang dẫn đến nguy
cơ:
Viêm xoang hàm sau chấn thương do bội nhiễm từ máu tụ trong
xoang, dập niêm mạc xoang, xương vụn chết.
Viêm xoang sau chấn thương gặp trong vỡ hở nhiều hơn vỡ kín.
Lâu lành vết thương: lâu lành vết thương còn do chỗ vết xương bò
gãy niêm mạc thường bò đứt rách, bầm tụ, bong tróc, xương nhô
vào trong lòng xoang gây cản trở quá trình lành vết thương
Trang 9
Luận văn tốt nghiệp
b. nh hương về thẩm mỹ :
− Mất cân xứng ở mặt: lõm gò má một bên, lồi cung gò má, hoặc vừa
lõm má vừa lồi cung gò má.
− Lõm mắt, sự di lệch góc mắt ngoài về phía thấp cũng là vấn đề thẩm
mỹ quan trọng.
3. Cận lâm sàng:
X quang Blondeau và Hirtz có vai trò quan trọng trong chẩn đoán vỡ phức
− Ngừa nhiễm trùng bằng kháng sinh
− Chống phù nề bằng kháng viêm và alpha-chymotrypsine
− Giảm đau
− Cầm máu mũi
− Dẫn lưu xoang hàm: có thể chọc rửa xoang hàm vào ngày thứ ba
hoặc ngày thứ tư sau chấn thương, khi bệnh nhân ổn đònh, bớt phù
nề
B. Những trường hợp vỡ phức hợp xoang hàm và xương gò má di lệch
nhiều có ảnh hưởng về chức năng hoặc thẩm mỹ, đòi hỏi phải phẫu
thuật chỉnh hình.
Những vấn đề cần lưu ý trong phẫu thuật:
- Xương chóng liền cần phải phẫu thuật sớm để đặt lại xương
gẫy.
- Chấn thương vỡ phức hợp xoang hàm và xương gò má không
phải là cấp cứu ngoại khoa khẩn cấp và có thể chờ một thời
gian để phù nề ở gò má và quanh mắt giảm bớt.
- Về nguyên tắc, trên 3 tuần các mối gẫy đã hình thành “can”,
gây khó khăn cho việc chỉnh hình. Thời gian muộn nhất để mổ
là 3 – 4 tuần. Sau 1 tháng khuyên không nên mổ vì lúc này
xương đã “can” rất khó xác đònh đường vỡ, muốn nâng chỉnh
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp
phải phá “can” bằng đục vừa gây chảy máu nhiều vừa gây nguy
hiểm vì có thể tạo thêm đường gãy mới.
- Vấn đề thẩm mỹ có ảnh hưởng không ít đến tâm trạng bệnh
nhân, gây những biến chuyển về tâm lý, mặc dù kết quả điều trò
các mặt khác rất tốt.
1. Lòch sử phẫu thuật chỉnh hình xoang hàm xương gò má
Năm 1906, Lothrop là người đầu tiên mô tả chỉnh hình xương gò má qua
xoang hàm. Phương pháp này bao gồm thực hiện một lỗ thông mũi xoang ổ
Rạch niêm mạc rãnh lợi môi, đưa kềm hoặc móc vào nâng chỉnh xương
gò má.
d. Chỉnh hình xoang hàm và xương gò má theo phương pháp Claoué:
Vào xoang hàm qua khe dưới, lấy sạch máu bầm và xương vụn trong
xoang, nắn chỉnh lại xương. Dùng bấc (mèche) tẩm Iodoforme nhét vào
xoang hàm để cố đònh các mảnh xương gãy. Bấc này được để từ 5 đến 10
ngày, được rút qua lỗ thông mũi xoang ở khe dưới.
e. Chỉnh hình xoang hàm và xương gò má theo phương pháp kết hợp
xương cố đònh bằng chỉ thép:
Đường mổ và phương pháp chỉnh hình tuỳ thuộc vào vò trí ổ gãy, kiểu gãy
và sự di lệch của ổ gãy. Có hai nguyên tắc lớn:
- Nâng chỉnh ngược chiều di lệch, sau khi giải phóng hai đầu
xương gãy. Nếu có mô xơ chèn vào giữa hai đầu xương hoặc có
“can” xơ thì phải lấy sạch mô xơ, phá “can” xơ. Sau khi nâng
chỉnh buộc chỉ thép cố đònh.
- Tránh thô bạo để tạo thêm đường nứt mới có thể nguy hiểm.
f. Chỉnh hình xoang hàm và xương gò má theo phương pháp kết hợp
xương cố đònh bằng “bảng – vít”:
Phương pháp này giống như trên, nhưng thay vì buộc chỉ ta cố đònh bằng
“bảng – vít”. Sau khi nâng chỉnh di lệch, đặt bảng vào, khoan lỗ theo các lỗ
của bảng, vặn vít xiết đinh vào.
g. Chỉnh hình xương gò má theo phương pháp xuyên đinh (Kirschner
Wire Technique):
Trang 13
Luận văn tốt nghiệp
Xương gò má sau khi nâng chỉnh bằng móc Ginestet sẽ được cố đònh bằng
cách khoan một đinh Kirschner xuyên qua thân xương gò má bò chấn thương
đến thân xương gò má đối diện. Phần đinh còn lại được cắt cách mặt da 0,5
inch, sau đó được bẻ lại tiếp xúc với mặt da hoặc đậy lại bằng nắp chai vô
khuẩn.
trong thời gian từ 1/5/2003 đến 1/5/2004 (tiền cứu)
Những trường hợp được chẩn đoán xác đònh vỡ phức hợp xoang
hàm và xương gò má khi có một hay nhiều trong những triệu chứng
sau:
Về lâm sàng:
có bò một chấn thương
biến dạng một bên mặt (hoặc ở cả hai bên mặt)
chảy máu mũi ngay sau bò chấn thương hoặc vài giờ
sau đó.
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp
Bầm tím quanh ổ mắt
Xuất huyết kết mạc
n có điểm đau
Hạn chế há miệng khít hàm
Sai khớp cắn
Vết thương vùng mặt
Mất liên tục bờ ổ mắt
Hạn chế vận nhãn
Giảm thò lực
Song thò
Tràn khí dưới da
Về cận lâm sàng
Trên phim Xquang chụp ở tư thế Blondeau và Hirtz có
các dấu hiệu sau:
Có hình ảnh di lệch xương
Mờ xoang hàm
Có vết gãy bờ ổ mắt, bờ xoang hàm
vết gãy cung gò má
Trên CTScan có hình ảnh gãy phức hợp xoang hàm
Bệnh Viện Nhân Dân 115 trong thời gian từ 1/5/2003 đến 1/5/2004
Bảng câu hỏi được soạn sẵn dựa trên bệnh án mẫu tai mũi họng. Bổ sung
thêm những câu hỏi liên quan đến dấu chứng, triệu chứng của “vỡ phức hợp
xoang hàm và xương gò má” và lược bỏ bớt những câu hỏi không liên quan
hay không cần thiết.
Mỗi trường hợp bệnh nhân tương ứng với một bảng câu hỏi gồm 40 câu
hỏi
Bảng câu hỏi theo dõi kết quả điều trò khi bệnh nhân đi tái khám với 5
câu hỏi
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp
4.3 Cách thu thập số liệu :
Chúng tôi chọn lọc và tập trung tất cả các trường hợp bệnh nhân của các
trường hợp chấn thương “vỡû phức hợp xoang hàm và xương gò má” đã được
chẩn đoán và xác đònh khi ra viện trong thời gian từ 1/5/2003 đến 1/5/2004
Từ những trường hợp bệnh nhân đã chọn, chúng tôi lấy ra những trường
hợp đạt tiêu chuẩn của mẫu nghiên cứu
Từ những bệnh nhân này, tiến hành thu thập số liệu dựa vào bảng câu hỏi
soạn sẵn.
Theo dõi tái khám: đối với bệnh nhân tái khám, thì chúng tôi chúng tôi
tiến hành thu thập số liệu tại bệnh viện bằng bảng câu hỏi soạn sẵn, đối với
bệnh nhân không đến tái khám sau 2 tuần, chúng tôi gửi bảng câu hỏi qua
đường bưu điện và chờ hồi âm.
Một vài bệnh nhân được chụp chân dung trước và sau khi điều trò để so
sánh
5. NGƯỜI THU THẬP SỐ LIỆU:
Gồm 03 sinh viên:
- Lâm Ngọc Anh (A)
- Nguễn Nguyễn Bảo Quỳnh
- Nguyễn Thanh Trường
87,2 % (143 ca)
12,8% (21 ca)
Nam
Nữ
1,2% (2 ca)
36%
(59
ca)
43,9% (72 ca)
18,3%(30 ca)
0,6% (1 ca)
< 16
16 - 24
25 - 39
40 - 59
>60
65,2%
(107 ca)
6,7%(11 ca)
12,8% (21 ca)
15,2%
(25 ca)
Lao động chân tay
Lao động trí óc
Học sinh, sinh viên
Nghề khác (nội trợ,...)
Luận văn tốt nghiệp
4. Nơi cư ngụ: (Bảng 4)
Nhậnxét: bệnh nhân đều sống ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm 90,9%,
phố
Bệnh viện tỉnh
Trung tâm y tế
quận, huyện
Tỷ
lệ
(%)
95,7% (157 ca)
3,1% (5 ca)
1,2% (2 ca)
Tai nạn giao
thông
Tai nạn sinh
hoạt
Tai nạn lao
động
Luận văn tốt nghiệp
Nhận xét : nguyên nhân do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ đa số 95,7% các
trường hợp. Còn lại do tai nạn trong sinh hoạt và tai nạn lao động chiếm
tỷ lệ rất thấp, không có trường hợp nào là nguyên nhân do tai nạn thể
thao
7. Hơi thở có mùi bia rượu: (Biểu đồ 7)
Nhận xét : 29.3% trường hợp nhập viện có mùi rượu bia, chiếm gần 1/3
các trường hợp
8. Xử trí ban đầu (Bảng 8)
Số người Tỷ lệ
Có 53 32,3
Không 111 67,7
Tổng cộng 164 100,0
Từ 8 giờ - 7
ngày
Sau 7 ngày
Tỷ
lệ
%
Nhận xét : đa số các trường hợp bệnh nhân được nhập viện trong vòng 8
giờ đầu sau khi chấn thương, chiếm tỷ lệ 89,6%
10.Giờ nhập viện: (bảng 10)
Giờ Số người Tỷ lệ
0 - 1 g 11 6,7
1 - 2 g 16 9,8
2 - 3 g 7 4,3
3 - 4 g 2 1,2
4 - 5 g 3 1,8
6 - 7 g 2 1,2
7 - 8 g 4 2,4
8 - 9 g 6 3,7
9 - 10 g 5 3,0
10 - 11 g 6 3,7
11 - 12 g 1 0,6
12 - 13 g 4 2,4
13 - 14 g 7 4,3
14 - 15 g 4 2,4
15 - 16 g 3 1,8
16 - 17 g 4 2,4
17 - 18 g 6 3,7
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp
18 - 19 g 9 5,5
26.8%
(44 ca)
23.2%
(38 ca)
0
10
20
30
Thứ 2
Thứ 3
Thứ 4
Thứ 5
Thứ 6
Thứ 7
Chủ Nhật
Tỷ
lệ
(%)
Luận văn tốt nghiệp
Tháng 7 12 7,3
Tháng 8 20 12,2
Tháng 9 17 10,4
Tháng10 16 9,8
Tháng11 7 4,3
Tháng12 19 11,6
Tổng cộng 164 100,0
Nhận xét: tháng 8 là tháng có bệnh nhân nhập viện nhiều nhất trong năm
chiếm 12,2%. Các tháng 12, 9, 10 và 4 cũng có tỷ lệ nhập viện khá cao
II. CÁC DẤU HIỆU LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG:
13.Tri giác: (Biểu đồ 13)