Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Đề tài: Hoàn Thiện Việc Hoạch Định Chiến Lược Marketing Xuất
Khẩu Lâm Sản Của Tổng Công Ty Lâm Nghiệp Việt Nam
Sinh Viên : Đặng Vũ Long
Mã Sinh Viên : CQ463536
Lớp : CN46A
Khoa : Quản Trị Kinh Doanh
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Vũ Phán
Mục Lục
Lời mở đầu
Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam là một trong những công ty nhà
nước, được thành lập theo ủy quyền của thủ tướng chính phủ và hoạt động
dưới sự chỉ đạo của thủ tướng chính phủ. Tổng công ty có nhiệm vụ duy trì
vị trí nòng cốt trong ngành Lâm nghiêp Việt Nam, từ việc xây dựng và
quản lý rừng nguyên liệu công nghiệp, khai thác, chế biến lâm sản, chế tạo
sửa chữa máy lâm nghiệp và xây dựng công trình lâm nghiệp.động sản xuất
– kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh mạnh mẽ như hiện
nay, một nhà sản xuất, kinh doanh muốn đứng vững trong nền kinh tế thị
trường, muốn tìm kiếm được lợi nhuận thì không thể không cạnh tranh với
các đối thủ của mình mà trong đó có một yếu tố hết sức quan trọng là chiến
lược Marketing xuất khẩu sản phẩm của mình. Do vậy, hầu hết các nhà
quản lý Marketing đều dành phần lớn thời gian và tiềm lực cho việc xây
dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược Marketing của công ty mình.
Quá trình thực tập khảo sát tại Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam
và nhận thấy được tầm quan trọng của việc hoạch định chiến lược
Marketing trong lĩnh vực xuất khẩu , tôi đã lựa chọn đề tài “ Hoàn thiện
chiến lược Marketing xuất khẩu Lâm sản của Tổng công ty Lâm
nghiệp Việt Nam “.
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo
tận tình của giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Vũ Phán. Tôi cũng xin chân
dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị nhằm tăng cường tích tụ,
tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất để nâng cao
khả năng, hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện hoàn
thành nhiệm vụ Nhà nước giao. Tổng công ty chịu sự quản lý Nhà nước
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân
và thành phố trực thuộc Trung ương với tư cách là các cơ quan quản lý Nhà
nước, đồng thời chịu sự quản lý của các cơ quan này với tư cách là cơ quan
thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước theo quy
định tại Luật doanh nghiệp Nhà nước và các quy định khác của pháp luật.
Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam có:
• Tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam
• Điều lệ cụ thể và tổ chức và hoạt động, bộ máy quản lý và
điều hành.
• Vốn và tài sản, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ trong
phạm vi số vốn do Tổng công ty quản lý.
• Có con dấu, được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và các
Ngân hàng trong nước và ngoài nước.
• Bảng cân đối tài sản, các quỹ tập trung theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Mặt khác, Tổng công ty có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của
Luật doanh gnhiệp Nhà nưứoc. Tổng công ty thực hiện tổ chức quản lý, tổ
chức kinh doanh phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ Nhà nước giao, mở rộng
quy mô theo khả năng của Tổng công y và nhu cầu của thị trường, kinh
doanh ngành nghề nếu được cơ quan Nhà nược có thẩm quyền cho phép.
Giai đoạn 2: Cuối năm1997, theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về việc sắp xếp, tổ chực lại các doanh nghiệ lâm nghiệ
nhằm đảm bảo gọn nhẹ nhưng có đủ sức mạnh về công nghệ, khoa học kỹ
thuật, tài chính.. để đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành Lâm nghiệp phát triển
bền vững.
Tính đến năm 1997, nước ta đã mở của nền kinh tế được 8 năm
Tổng số lao động : 11.163 lao động
Chi nhánh văn phòng đại diện của tổng công tý đặt tại 3 thành phố:
1. Thành phố Đà Nẵng.
2. Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3. Thành phố Hồ Chí Minh.
Có tài khoản ngân hành tại 4 ngân hành Thương mại chính của Việt Nam.
Tài khoản chính số: 001.100.0018506 tại ngân hàng Thương mại
Việt Nam ( Vietcombank ).
- Điện thoại: 821 9082 - 821 9086
- Fax: 84.4.821.9087
- Địa chỉ website : www.vinafor.com.vn
- Địa chỉ email:
2- Các ngành nghề kinh doanh
Vinafor tập trung kinh doanh các ngành nghề sau:
• Xây dựng, quản lý và kinh doanh rừng nguyên liệu công nghiệp.
• Khai thác, vận tải lâm sản.
• Chế biến lâm sản và nông sản, thủy sản đã được sản xuất theo
phương thức nông, lâm kết hợp.
• Kinh doanh và xuất nhập khẩu thiết bị kỹ thuật phục vụ Lâm
nghiệp.
• Kinh doanh lâm sản, xuất khẩu lâm sản ( kể cả động vật, chim
thú, cây cảnh ), nông sản và thủy sản theo quy định của pháp luật.
• Chế tạo sửa chữa máy Lâm nghiệp, thiết bị nâng hạ, lắp ráp ôtô,
xe máy và thiết bị điện.
• Xây dựng công trình Lâm nghiệp, công nghiệp và dân dụng, sản
xuất kinh doanh vật liệu xây dựng.
• Du lịch Lâm nghiệp bao gồm: Khách sạn, lữ hành quốc tế và nội
địa, vận chuyển khách du lịch và dịch vụ du lịch.
• Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật,
trên cơ sở bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính của Tổng công ty
Điều, gỗ Cao su, gỗ Bạch đàn, gỗ Xà cừ…
4.3- Các sản phẩm mỹ nghệ từ gỗ, đá, mây, tre
Sản phẩm mỹ nghệ từ các vật liều rừng nhiệt đới: Song, mây, tre,
guột là những mặt hàng truyền thống của Vinafor được thị trường châu Âu,
Mỹ, Á ưa chuộng.
Trình độ tay nghề khéo léo trong việc kết hợp với các vật liệu truyền
thống như: Sơn mài, gỗ, đá, sành, sứ… đã tạo ra những sản phẩm đạt tính
thẩm mỹ cao, đa dạng kiểu dáng, phù hợp với mọi loại nội thất.
4.4- Lâm đặc sản
Kết hợp với trồng rừng nguyên liệu, Vinafor cũng chú trọng trồng
các loại cây khác tạo nguồn để khai thác các đặc sản rừng: Dầu thông,
Cánh kiens, Xa nhân, Quế, Hồi… nhằm mục đích xuất khẩu cho các ngành
kinh tế khác như: Hóa mỹ phẩm, hóa dược, công nghệ sơn phủ, vecni, sơn
cách điện, công nghệ điện tử viễn thông. Vinafor có tiềm lực tạo nguồn cây
cảnh ( Bonsai ) và chăn nuôi chim thù rừng nhiệt đới.
II- Cơ cấu tổ chức
1- Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy
2- Mô tả nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận
•Hội đồng quản trị: Thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Tổng
công ty, chịu trách nhiệm về sự phát triển của Tổng công ty theo nhiệm vụ
Nhà nước giao cho.
Hội đồng quản trị có 7 thành viên gồm chủ tịch hộ đồng quản trị,
một thành viên kiêm Tông giám đốc, một thành viên kiêm trưởng ban kiểm
soát và một thành viên kiêm nghiệm là các chuyên gia về ngành kinh tê- kỹ
thuậ, kinh tế- tài chính, quản trị kinh doanh có hiểu biết pháp luật.
•Ban kiểm soát: Có 5 thành viên trong đó một thành viên Hộng đồng
quản trị làm trưởng ban theo sự phân công của Hộng đồng quản trị và 4
Chủ tịch hội đồng quản trị
Phòng
Lâm
Ty
Phòng
Kỹ
Thuật
& Hợp
Tác
Quốc
Tế
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng
Đầu tư
Xây
dựng
Cơ bản
Phòng
Kế
Hoạch
Thị
Trường
Các đơn vị
Hạch toán
độc lập
Phòng
Thanh
Tra
Pháp
Chế
Các công ty
vực hoạt động của Tổng công ty theo phân công của Tổng giám đốc và
chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và pháp luật về nhiệm vụ được giao.
- Kế toán trưởng của Tổng công ty giúp Tổng giám đốc chỉ đạo, tổ
chức thực hiện công tác kế toán, thông kê của Tổng công ty, có các quyền
hạn và nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
- Các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu giúp đỡ Hội đồng
quản trị và Tổng giám độc trong quản lý, điều hành công việc. Bao gồm
các phòng: Phòng Kỹ thuật và hợp tác quốc tế, Phòng tổ chức lao động,
Phòng đầu tư và Xây dựng cơ bản, Phòng Kế hoạch, Phòng Kế toán- Tài
chính, Phòng Kiểm toán và thanh tra, Phòng Kinh doanh xuất nhập khẩu và
Phòng Lâm nghiệp.
• Văn phòng Tổng công ty: Cùng một lúc thực hiện hai hoạt động.
Văn phòng Tổng công ty là nơi giúp cho Hội đồng quản trị và Tồng giám
đốc trong quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của Tổng công ty.
Mặt khác, ngay tại vưn phòng của Tồng công ty cũng tiến hành hoạt động
kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho Tồng công ty như một doanh nghiệp.
• Đối với các đơn vị hạch toán độc lập: Đây là những doanh nghiệp
nhà nược hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp. Được quyển tự chủ kinh
doanh, tự chủ về tài chính và chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ
đối với Tồng công ty. Mọi kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của các
đơn vị thành viên đêu phải được xây dựng trên nguyên tắc: khai thác, sử
dụng hợp lý các nguồn lực đã được Tổng công ty giao, tăng cương hợp tác
giữa các dơn vị thành viên.
• Đối với các đơn vị hạch toán phụ thuộc: Có quyền tự chủ kinh
doanh theo phân cấp của Tổng công ty, chi sự ràng buộc về nghĩa vụ và
quyền lợi đối với Tổng công ty. Tổng công ty chị trách nhiệm cuối cùng về
các nghĩa vụ tài chính phát sinh do sự cám kết của các đơn vị này. Đối với
các doanh nghiệp này, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn tiến hành
đều phải dưới sự phân cấơ của Tồng công ty.
III- Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của Vinafor
xem xét dạng kênh phân phối hiện đang sử dụng, khản năng tài chính, khản
năng kinh doanh, các mối quan hệ làm ăn. Tổng công ty nghiên cứu giá
hàng trên thị trường quốc tế và các yếu tố ảnh hưởng đến giá, xu hướng
biến động của giá, điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán, các tiêu chuẩn
bắt buộc của sản phẩm (SP) do đơn vị đưa ra, quy định về nhập khẩu hàng
hoá.
3- Về thị trường tiêu thụ
Ngày nay thì xu hướng sử dụng SP thân thiện đang ngày càng phổ
biến trên thị trường thế giới. Các SP làm từ nguyên liệu thiên nhiên đã và
đang được khách hàng ưa chuộng, SP gỗ là một loại SP như vậy. Do đó, cơ
hội ngày càng nhiều cho ngành chế biến gỗ mở rộng thị trường tiêu thụ.
Thị trường trong nước: Ở miền Bắc thì có Hà Nội, Hải Phòng, Thái
Nguyên, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Phú Thọ… Ở Miền Trung thì có,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Khánh Hoà…Ở miến Nam
thì có: TP HCM, Lâm Đồng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bạc Liêu… Rộng rãi từ
Bắc tới Nam đều có các văn phòng đại diện, các đơn vị thành viên, các nhà
máy xí nghiệp… để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa.
Thị trường ngoài nước: Gồm có thị trường trong khu vực như
Campuchia, Malaysia, Thái Lan,… và ngoài khu vực như Nhật Bản, Đức,
Ý, Pháp,… Ngoài các thị trường truyền thống nói trên Tổng công ty đã
xâm nhập được các thị trường mới như Ấn Độ, Ailen, Đan Mạch. Hiện tại,
EU là một thị trường nhập khẩu (NK) các SP gỗ lớn nhất của VINAFOR.
Gồm 25 nước thành viên, mỗi nước lại có đặc điểm tiêu dùng riêng nên nhu
cầu rất đa dạng. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viên
tương đối đồng đều cho nên những người dân thuộc khối EU có những đặc
điểm chung về sở thích và thói quen tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật của thị
trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ khác hẳn so
với thị trường các nước đang phát triển. EU tiến hành kiểm tra các SP ngay
từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động nhanh giữa các thành viên, đồng
thời bãi bỏ việc kiểm tra các SP tại biên giới.
từ ván nhân tạo VINAFOR lựa chọn thiết bị đồng bộ của Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đài Loan… Cũng có thể lựa chọn 70-80% những thiết bị chính trong
dây chuyền như: máy phay, bào 2 mặt, 4 mặt, máy khoan, máy cắt hai đầu,
máy đánh nhẵn từ nước ngoài, còn lại từ 20-30% các thiết bị phụ thì sản
xuất trong nước. Trường hợp không đủ cả dây chuyền thì nên lựa chọn đầu
tư theo chiều sâu cho các khâu như: sấy, ngâm tẩm, bảo quản, gia công, tạo
dáng chi tiết và sơn phủ bề mặt nhằm nâng cao chất lượng SP. VINAFOR
đã tăng cường đầu tư mua sắm trang thiết bị dây chuyền sản xuất hiện đại.
Hai nhà máy sản xuất MDF Gia Lai và ván dăm Thái Nguyên đã được đầu
tư dây chuyền sản xuất của Châu Âu có công suất có công suất 54.000
m3sp/năm và 16.500 m3sp/năm với tổng giá trị gần 20 triêu USD.
5- Đặc điểm về quy trình sản xuất, khai thác chế biến lâm sản
Công tác trồng rừng của VINAFOR luôn hướng tới mục tiêu: KINH
TẾ - XÃ HỘI – MÔI TRƯỜNG, góp phần thực hiện chủ trương định canh,
định cư, xoá đói giảm nghèo cho dân tộc miền núi. Diện tích rừng trồng
của VINAFOR ngày càng mở rộng có chất lượng, sản lượng cây trồng cao
đang cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất ván nhân tạo, đồ mộc,
dăm gỗ XK, gỗ trụ mỏ và các nhu cầu sử dụng gỗ khác của xã hội.
Trồng rừng: Tiến hành công tác chuẩn bị vườn ươm trước khi đưa
công nghệ nuôi cấy mô vào sản xuất cây con, tiến hành giâm, hom các loại
cây giồng. Khi đưa ra trồng thì tiến hành chăm sóc, bảo vệ.
Khai thác: Khi cây trồng đã đủ tuổi đạt tiêu chuẩn kỹ thuật thì tiến
hành khai thác theo thiết kế khai thác của VINAFOR phê duyệt
Chế biến:Sau khi được khai thác thì tiến hành sơ chế. Sau quá trình
này sẽ phân loại gỗ và chuyển tới các nhà máy, cơ sở chế biến gỗ.
Trồng
rừng
Khai thác Chế biến Sản phẩm
Sản phẩm: Là sản phẩm cuối cùng của nhà máy chế biến gỗ như ván
dăm, ván ép,ván sợi, ván ghép, đồ mộc…
Đắc Lắc, Đắc Nông, Đồng Nai… Bên cạnh việc trồng rừng tại các Lâm
trường trực thuộc, VINAFOR còn hợp tác với 20 đơn vị trồng rừng địa
phương và hàng ngàn hộ dân dưới hình thức ký hợp đồng đầu tư vốn trồng
rừng và bao tiêu SP
• Nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Nguồn nguyên liệu chủ yếu cho hàng mộc ngoài trời được NK, còn
hàng mộc trong nhà được cung ứng bằng nguồn gỗ rừng trồng trong nước.
Ngoài thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, Malaysia. Các đơn vị
đã mở rộng thị trường NK nguyên liệu sang các nước xa xôi như: Công gô,
Papua, Newguinea… để đảm bảo đủ nguyên liệu cho các mặt hàng XK.
Hiện nay 80% nguyên liệu phục vụ XK là NK từ các nước không ổn
định Tổng công ty muốn đạt kim ngạch XK hằng năm 40 triệu USD cần
tiêu thụ 30.000 m3 gỗ tròn nguyên liệu. Hằng năm Tổng công ty vẫn phải
NK từ 10.000-20.000 m3 gỗ tròn nguyên liệu, giá liên tục tăng từ 10- 13%
trong khi giá XK các SP gỗ chế biến vẫn không thay đổi. Điều nay gây khó
khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như vấn đề dự trữ và cung ứng
nguyên liệu.
•Nguồn nguyên liệu là rừng tự nhiên
Trên cơ sở chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên từng khu vực đã được
thủ tướng CP phê duyệt hằng năm, Bộ thương mại phối hợp với UBND
các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương (có chỉ tiêu khai thác) chỉ đạo
ngành kiểm lâm, kiểm tra giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ ngay tại địa
phương. Do vậy khai thác gỗ tự nhiên phải theo chỉ tiêu, kế hoạch của NN.
IV – Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của Vinafor
1- Các yếu tố bên ngoài
1.1 - Luật pháp, chính sách của nhà nước về xuất khẩu
1.1.1 - Môi trường pháp lý
Trong cạnh tranh môi trường pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu
môi trường pháp lý hỗ trợ cho cạnh tranh không thuận lợ, nếu cạnh tranh
không công bằng, bình đẳng thì mặc dầu hàng hóa xuất khẩu có sức cạnh
xuất khẩu, quỹ hộ trợ xúc tiến thương mại.
1.1.3 – Quy định cụ thể với xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ
- Bãi bỏ việc phê duyệt và phân bổ hạn mức gỗ rừng tự nhiên để sản
xuất sản phẩm gỗ xuất khẩu. Mọi dạng sản phẩm gỗ đều được phép xuất
khẩu trừ gỗ tròn, gỗ xẻ khai thác từ rừng tự nhiên trong nước.
- Gỗ có nguồn gốc nhập khẩu được phép xuất khẩu dưới mọi dạng
sản phẩm, kể cả việc tái xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ. Gỗ tròn, gỗ xẻ nhập khẩu
và sản phẩm lâm sản từ gỗ nhập khẩu khi xuất khẩu không hải chịu thuế
xuất khẩu.
- Nhà nước khuyến khích xuất khẩu các loại sản phẩm gỗ có hàm
lượng gia công, chế biến cao. Bộ tài chính hoàn thiện chính sách thuế để
khuyến khích sản xuất và xuất khẩu sản phẩm gỗ loại này.
- Trên cơ sở chỉ tiêu khai thác gỗ tự nhiên từng khu vực đã được thủ
tướng chính phủ phê duyệt hàng năm, Bộ thương mại phối hợp với UBND
các tỉnh thành phố trược thuộc TW ( có chỉ tiêu khai thác ) chỉ đạo ngành
kiểm lâm, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ ngay tại địa
phương. Việc kiểm tra nguồn gốc gỗ đối với sản phẩm gỗ tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu phải được thực hiện ngay tại cơ sở sản xuất theo đúng
quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; không kiểm tra
nguồn gốc nhập khẩu và gỗ rừng trồng, phải xuất trình tại hải quan cửa
khẩu hồ sơ hợp lệ về nguồn gốc gỗ theo quy định của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn và Tổng cục hải quan.
- Việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ các nước có chung đường biên
phải thực hiện theo quy định của Thủ tướng chính phủ và hướng dẫn của
Bộ Thương mại.
( Quy định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của TTg chính phủ về
quản lý XK,NK hàng hóa )
1.2 – Môi trường kinh doanh quốc tế
Điểm nổi bật nhất cảu môi trường kinh doanh quốc tế đó là xu thế tự
do hóa thương mại, khu vực hóa và toàn cầu hóa kinh tế. Đây là một trong
nghệ hiện đại như nhà máy MDF Gia Lai, hoặc nhà máy Ván Dăm Thái
Nguyên do được sự đầu tư của nhà nước, sản phẩm có chất lượng cao,
thuận lợi cho xuất khẩu. Tuy nhiên, đại đa số các đơn vị thành viên do
thiếu vốn nên sản phẩm chỉ mới ở dạng sơ chế, dạng nguyên liệu xuất khẩu
và sản phẩm chất lượng thấp nên ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của công
tác xuất khẩu, đặc biệt khi xuất khẩu sang thị trường khó tính , yêu cầu
nghiêm ngặt về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật như EU, Mỹ.
Công nghiệp gỗ ở nhiều nước tiên tiến đã đạt đến trình độ tự động
hóa, tuy nhiên trong lĩnh vực hàng gỗ nội thất cao cấ thì có đến 75% sản
phẩm gỗ vẫn phải làm bằng thủ công, với trình độ tay nghề cao.
Vì vậy, để đẩy mạnh hiệu quả của xuất khẩu hàng hóa lâm sản thì
nhất thiết các cơ sở chế biến của các đơn vị thành viên cần phải đầu tư
trang thiết bị, công nghệ hiện đại, hình thành các khu tập trung, với dây
chuyền sản xuất đồng bộ để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao.
2.2 – Chất lượng đội ngũ lao động
Chất lượng đội ngũ lao động là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hoạt
động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu của Tổng công
ty Lâm nghiệp Việt Nam nói riêng vì con người giữ vai trò trung tâm trong
quá trình sản xuất.
Hiện tại, toàn Tổng công ty có hơn 11.000 lao động. Đối với hoạt
động sản xuất thì lực lượng lao động tham gia vào lĩnh vực này có vai trò
quan trọng và có ảnh hưởng lón đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như hoạt động xuất khẩu. Hầu hết các công nhân viên chức hoạt động trong
lĩnh vực này đều có hiểu biết các nghiệp vụ ngoại thương, có khả năng đàm
phán các hợp đồng kinh tế và thông thạo một loại ngoại ngữ như tiếng Anh,
Pháp, Đức… đây là những điều kiện cần thiết của một lao động hoạt động
trong lĩnh vực xuất, nhâp khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh đó sự hiểu biết về hoạt
động Marketing còn hạn chế, do đó cần có biện pháp khắc phục.
Đội ngũ lao đọng quản trị có những đóng góp không nhỏ trong việc
lập ra các bản chiến lược, định hướng cho hoạt động sản xuát, xuất khẩu,
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của
VINAFOR có một số điểm đáng chú ý sau
•Về doanh thu: Doanh thu năm 2002 giảm so với năm 2001 là 14,1%
song đến năm 2003 doanh thu tăng lên cao hơn cả 2 năm trước cụ thể tăng
44,32% so với năm 2002. Năm 2004, tăng 28,53% so với năm 2003. Và ta
thấy doanh thu liên tục tăng ở các năm kế tiếp. Cụ thể: 2005 tăng 6,2% so
với năm 2006 tăng 5,5% so với năm liền trước. Năm 2007 tăng 8,74% so
với năm 2006. Trong giai đoạn từ năm 2002-2006 hằng năm các đơn vị
thành viên và Tổng công ty luôn hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh
đã đề ra với mức năm sau cao hơn năm trước. Năm 2003 có tỷ lệ % doanh
thu tăng cao nhất 44,32% trong hai năm gần đây thì tỷ lệ % tăng thấp hơn
và trở nên đồng đều hơn. Điều này phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh
trong những năm qua có sự phát triển thuận lợi và ổn ở hai năm gần đây.
•Về lợi nhuận: Ta thấy tình hình tăng trưởng của lợi nhuận cũng
không đồng đều. Cụ thể, năm 2002 lợi nhuận tăng 18,2% so với năm 2001,
năm 2003 lợi nhuận đạt 18,678 tỷ đồng tăng 14,7% so với năm 2002, năm
2004 lợi nhuận tăng 9,65% so với năm 2003, năm 2005 lợi nhuận tăng với
tỷ lệ rất cao 137,99% so với năm 2004, năm 2006 lợi nhuân giảm 20,62%
so với năm 2005. Năm 2007 lợi nhuận tăng 2,14% so với năm 2006.Vậy
trong giai đoạn từ 2001-2006 thì lợi nhuân của các năm đều tăng trưởng
với tỷ lệ khá cao. Đặc biệt là năm 2005 có tỷ lệ tăng vượt bậc (đạt 48,74 tỷ
đồng) tăng 28,21 tỷ đồng. Ngay năm sau thì mức lợi nhuận này không giữ
được, năm 2006 giảm 10,05 tỷ đồng.
Vậy có thể nói tình hình doanh thu và lợi nhuận không ổn định. Điều
này có thể nguyên nhân do một số đơn vị còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt
đối với các đơn vị chuyên trồng rừng ở Miền Bắc. Nhưng nhìn chung nhiều
đơn vị đã vươn lên, không những duy trì ổn định mà có bước phát triển
mạnh mẽ trong SXKD. Hầu hết kết quả SXKD làm ăn có lãi, nộp ngân
sách nhà nước ở mức cao và đời sống người lao động đuợc nâng lên.
•Về nộp ngân sách: Tổng số nộp ngân sách giảm qua các năm trong