TƯ TƯỞNG CỦA PLATO VỀ NHÀ NƯỚC LÝ TƯỞNG
QUA TÁC PHẨM “NHÀ NƯỚC”
Lê Văn Phúc
Bộ môn Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
“Nhà nước” là một trong những tác phẩm lớn về tư tưởng chính trị của
Platon. Cùng với “Timeus”, “Parmenides” và “Sophistes”, tác phẩm đối thoại
này là sự trình bày gần như toàn bộ hệ thống triết học Platon thời kỳ chín
muồi tư tưởng, hay thời đứng tuổi. Những mặt tích cực và hạn chế lịch sử,
những đánh giá có tính phê phán đối với các tư tưởng và các thiết chế chính
trị – xã hội, những gợi mở và cả những quan điểm mâu thuẫn trong bản thể
luận, lý luận nhận thức và nhân sinh – xã hội có thể được tìm thấy một cách
tập trung ở đây.
“Nhà nước” có một kết cấu đa diện về mặt triết học. Chủ đề xuyên suốt
của nó là đưa ra cách xác định phạm trù “công bằng”, hay “công lý” (justice)–
một phạm trù đạo đức. Song trong quá trình phân tích Platon không bị lệ
thuộc vào phạm trù này, nói đúng hơn, “công bằng” với tính cách là một
phạm trù đạo đức mang tính lý tưởng đã thể hiện thiên hướng đạo đức – chính
trị của Platon, nhưng đó là phạm trù động và mở, được dùng làm cơ sở để lý
giải các vấn đề liên quan đến hoạt động của con người. Ta có thể nhận thấy
nội dung hết sức phong phú của “Nhà nước”, chẳng hạn vấn đề “sự tồn tại
đích thực” (ý niệm) như khuôn mẫu của các sự vật, ý niệm “lợi ích” như ý
niệm tối thượng giữa các sự vật, bản tính của linh hồn và quan hệ linh hồn –
thân xác, quan hệ giữa xã hội và cá nhân, giữa người với người, vấn đề nguồn
gốc nhà nước và phân tầng xã hội, mô hình “nhà nước kiểu mẫu”, hay nhà
nước hoàn thiện, lý tưởng với hàng loạt nội dung cụ thể của nó (thế nào là nhà
nước kiểu mẫu? Ai có đủ tư cách điều hành nhà nước ấy, và điều hành như
thế nào? Hệ thống giáo dục nào thích hợp? Thứ nghệ thuật nào được phép
truyền bá? Tổ chức đời sống của các công dân như thế nào để tránh những
biến thái cực đoan? v.v ).
“Nhà nước” là một tác phẩm đối thoại; đây là nét đặc trưng của phong
tưởng”, nghĩa là thứ nhà nước cần phải tồn tại, nhưng cho đến nay chưa hề có
và chưa tồn tại ở đâu. Nói khác đi, đó là tác phẩm không tưởng (Utopia, xuất
phát từ nguyên gốc Hy Lạp topos là “vị trí”, u là “không”, suy ra “vị trí không
có ở đâu cả”, không có trong thực tế). Không tưởng chính trị của Platon, cũng
như bất cứ học thuyết không tưởng nào khác, chứa đựng hai yếu tố gắn kết
với nhau : thứ nhất, yếu tố phê phán. Để hướng tới một nhà nước lý tưởng,
cần vạch ra hạn chế của nhà nước hiện tồn, từ đó đặt ra khả năng loại bỏ
những đặc tính tiêu cực của nó, thay thế bằng các đặc tính mới phù hợp hơn,
hoàn thiện hơn. Tinh thần hoài nghi, phê phán là điều kiện để đi đến sáng tạo
cái mới, cả trong lý luận lẫn trong thực tiễn. Sự phê phán của Platon đối với
2
nền dân chủ chủ nô và các kiểu nhà nước khác “xuyên tạc nhà nước hoàn
thiện” thể hiện tinh thần này. Thứ hai, yếu tố tích cực, xây dựng. Nó gắn liền
với những dự án cải tổ đời sống chính trị, xác định cái cần có trong nhà nước
tương lai. Do chỗ học thuyết không tưởng mong muốn thay thế cái hiện tồn
bằng cái mới được tưởng tượng ra, nên nó mang tính chất hoang tưởng, tính
chất tưởng tượng (imaginative). Tuy nhiên yếu tố hoang tưởng của học thuyết
không tưởng không hoàn toàn tách khỏi thực tiễn, bởi nó xuất phát từ sự đánh
giá lại thực tiễn. Chớ nên nghĩ đơn giản học thuyết không tưởng là sự tưởng
tượng thuần túy, hay dựa trên cơ sở của tưởng tượng thuần túy. Tưởng tượng
có thể tách khỏi hiện thực , nhưng trong một học thuyết không tưởng, mà ở
đây là không tưởng chính trị, sự tưởng tượng về cái cần có mang ý nghĩa của
khát vọng con người, căn cứ vào điều kiện sinh hoạt chính trị hiện tại. Nó là
sự phản ứng đối với thực tại đang khủng hoảng. Diện mạo, đường nét, hình
ảnh của học thuyết không tưởng khác với diện mạo, đường nét, hình ảnh của
đời sống hiện thực, nhưng sự vượt qua hiện thực trong lý luận lại góp phần
thúc đẩy hành động con người, vượt qua những rào cản, những định chế và
cả những định kiến chính trị, hướng đến cái tốt đẹp và hoàn thiện hơn. Không
tưởng – đó là sự phê phán, đi tới phủ nhận thực tiễn hiện có của xã hội, sự
phản ánh những đặc trưng hiện thực nào đó của nó từ vị thế của vị quan tòa.
buộc chúng ta tìm kiếm phương thức tổ chức đời sống chính trị mới, thay vì
trở về với cái không thể. Platon bày tỏ sự tiếc nuối về quá khứ vàng son,
nhưng con đường trở về với nó, theo ông, không thể hiện được tính tất yếu
lịch sử.
Có bốn hình thức khác nhau thuộc về kiểu nhà nước tiêu cực, được
Platon phân tích ở quyển VIII : phú hào (timokratia), hoạt đầu, hay quả đầu,
đầu sỏ chính trị… (oligarchea), dân chủ (demokratia), độc tài (tyrania). Bốn
hình thức này không đơn giản là các biến tướng của kiểu nhà nước tiêu cực.
Khi so sánh với nhà nước hoàn thiện mỗi hình thức trong số chúng là nấc
thang của những chuyển hóa, sự xấu đi, hay sự xuyên tạc hình thức hoàn
thiện. Chế độ phú hào là quyền lực xác lập trên sự thống trị của thói hám
danh. Trong chế độ phú hào còn lưu giữ bước đầu các đặc trưng của chế độ
hoàn thiện cổ sơ, chẳng hạn nhà cai trị chú trọng đến danh dự, các chiến binh
tách khỏi nghề nông và nghề thủ công, không quan tâm đến lợi ích vật chất;
đồ ăn thức uống dùng chung; thể dục thể thao và rèn luyện sức khỏe được duy
trì. Những dấu hiệu đầu tiên của sự suy thoái là ham muốn làm giàu và thói
hám lợi. Với thời gian những kẻ hám lợi ấy bắt đầu tích lũy vàng bạc châu
báu trong các bức tường nhà mình, lối sống xa hoa thay thế dần lối sống
khiêm nhường trước đây. Như vậy là bắt đầu bước chuyển từ phú hào trị sang
hoạt đầu (quả đầu) trị (oligarchea, xuất phát từ tiếng Hy Lạp “oligoi” nghĩa là
“số ít” = sự thống trị của số ít đối với đa số, nhưng đó là số ít lập thành phe
cánh, “không chân chính”). Đó là chế độ nhà nước và nền cai trị mà những kẻ
nắm quyền dựa trên tư cách tài sản. Ở đó chỉ người giàu mới thống trị (quyển
VIII, 550c). Trong nhà nước hoạt đầu số phận của nhà cai trị thật chông chênh
4
và thảm hại : kẻ trục lợi giàu có tựa như những con ong đực trong tổ ong cuối
cùng trở thành kẻ kiết xác. Tuy nhiên, khác với những con ong đực, nhiều kẻ
trong số những con ong hai chân ấy được trang bị bằng nọc độc – đó là những
tên tội phạm, những kẻ dã tâm, những kẻ cắp, những bật thầy của cái ác.
Trong chế độ hoạt đầu luật pháp không được thi hành. Một nhóm người nắm
Platon, tất cả những gì thái quá đều dẫn đến chiều hướng ngược lại với trạng
5
thái ban đầu : sự thừa thải tự do dẫn các cá nhân lẫn toàn bộ thị quốc đến sự
nô lệ (xem quyển VIII, 563e – 564a). Do đó mà nền độc tài sinh ra từ chính
dân chủ thái quá, sự nô lệ khủng khiếp nhất xuất phát từ tự do vĩ đại nhất. Vì
sao điều “bất bình thường” đó lại xảy ra? Trước hết kẻ độc tài khẳng định
khả năng điều hành của hắn từ sự hỗ trợ của cơ quan đại diện. Trong những
ngày tháng chấp chính đầu tiên hắn “mỉm cười với tất cả”, với những ai mà
hắn gặp, và luôn tuyên bố rằng hắn ghét độc tài, hắn không phải là kẻ độc tài.
Hắn đưa ra nhiều lời hứa hẹn, , giải phóng công dân khỏi các nghĩa vụ, chia
đất cho dân và những kẻ tâm phúc. Thế là hắn đã đóng vai một con người
hiền lành và đáng mến đối với mọi người (xem quyển VIII, 566de). Kẻ độc
tài thường xuyên gây ra chiến tranh, nhằm gây cho dân chúng cảm giác về sự
cần thiết có thủ lĩnh hùng mạnh và tin cậy. Nhưng chiến tranh triền miên lột
dần bộ mặt thật của nhà độc tài, buộc hắn phải đối mặt với cơn giận dữ của
dân chúng và cả những người trước đây từng ủng hộ hắn. Để bám giữ chiếc
ghế quyền lực nhà độc tài không còn cách nào khác là thủ tiêu những người
chống đối, cho đến khi “không còn một ai từ bạn, từ thù có thể hợp với mình”
(quyển VIII, 567b).
Sự phân loại và đánh giá các hình thức nhà nước tiêu cực không phải là
kết quả của trí tưởng tượng, mà có cơ sở từ những nghiên cứu của Platon về
các hình thức nhà nước đã và đang tồn tại ở Hy Lạp Chính những đánh giá
có tính phê phán này (mặc dù đôi chỗ không tránh khỏi cực đoan) tạo điều
kiện cho các thời đại sau rút ra được những bài học bổ ích trong quá trình xác
lập không gian chính trị tích cực dành cho con người.
Platon đem đối lập các hình thức nhà nước không hoàn thiện ấy với dự
án của mình về nhà nước lý tưởng, kiểu mẫu. Cũng như trong chế độ hoạt đầu
nhà nước Platon được cai trị bởi số ít. Song khác với chế độ hoạt đầu số ít ấy
phải là những người thực sự có khả năng lãnh đạo nhà nước nhờ tư chất và tài
năng thiên phú, cũng như quá trình tích lũy kinh nghiệm chính trị lâu dài. Chỉ
được tất cả những nhiệm vụ này có nghĩa là thực hiện ý niệm lợi ích như ý
niệm tối cao, thống trị thế giới.
Trong nhà nước của Platon các chức năng và các hình thức công việc
xã hội được phân chia giữa các giai cấp, hay đúng hơn, các đẳng cấp, các
công dân, tạo nên sự liên kết hài hòa. Trong quan điểm phân tầng xã hội của
Platon nổi bật hai nguyên tắc – kinh tế và đạo đức, nghĩa là, thứ nhất, xem
xét sự khác biệt về đẳng cấp theo sự phân công lao động, thứ hai, xem xét sự
khác biệt ấy theo tư chất và phẩm hạnh đạo đức.
Chính trong sự phân công lao động Platon nhận thấy nền tảng của chế
độ xã hội hiện thời. Ong tìm hiểu cả nguồn gốc của chuyên môn hóa các
ngành nghề đang tồn tại. C. Mác (K. Marx) đánh giá cao sự phân tích của
Platon về phân công lao động trong “Nhà nước”. Ong gọi “sự mô tả của
Platon về phân công lao động đối với thới đại mình, như cơ sở tự nhiên của
thị quốc” là thiên tài (xem chương X, dành cho “Chống Đuyrinh” của Ph.
Angghen. C. Mác và Ph. Angghen, toàn tập, t.20, Nxb CTQG, HN, 1994, tr.
7
320). Platon khẳng định rằng, nhu cầu của các công dân tạo thành xã hội là
đa dạng, nhưng năng lực của mỗi thành viên xã hội đối với việc thỏa mãn
những nhu cầu ấy là hữu hạn. Từ đây Platon đưa ra quan điểm về sự cần thiết
hình thành cộng đồng, hay “thị quốc”, mà ở đó “người ta quan tâm thỏa mãn
nhu cầu này hay nhu cầu khác tùy lúc tùy nơi. Trước những thách thức ngày
càng tăng về nhu cầu, người ta đi đến sự hợp nhất với nhau, sống cùng nhau
và giúp đõ lẫn nahu : cộng đồng như thế chúng ta cũng có thể gọi là nhà
nước” (quyển II, 369c). Điểm tiến bộ trong việc tìm hiểu nguồn gốc nhà nước
của Platon là ông xuất phát từ khía cạnh kinh tế, từ hoạt động vật chất của xã
hội.
Platon xem xét ý nghĩa của sự phân công lao động xã hội không từ góc
độ người làm ra sản phẩm, mà từ góc độ người sử dụng sản phẩm. Theo C.
Mác, quan điểm cơ bản của Platonlà ở chỗ, người lao động cần thích ứng với
công việc, chứ không phải công việc thích ứng với người lao động” (C.Mác
sinh ra đẳng cấp mới với các chuyên gia nghiên cứu thị trường, những người
buôn bán nhỏ, những người môi giới, và những người làm nghề đầu cơ. Trong
nhà nước hoàn thiện, để các chức năng của nó được thực hiện đầy đủ, theo
Platon, việc ra đời đẳng cấp những người làm nghề dịch vụ, bán sức lao động
vì tiền công là cần thiết. Nhũng người làm thuê như thế Platon gọi là những
người “cho thuê sức lực của mình” và gọi giá của sự cho thuê ấy là tiền công
(xem quyển II, 371e).
Những người sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm và vật dụng cần thiết
cho nhà nước , hoặc phục vụ cho quá trình sản xuất và tiêu dùng, thuộc về
đẳng cấp thấp trong hệ thống phân tầng xã hội . Trên đẳng cấp đó là các đẳng
cấp cao, , gồm đẳng cấp các chiến binh – người bảo vệ và đẳng cấp các nhà
cai trị. Platon đưa họ vào lĩnh vực đặc biệt của sự phân công lao động xã hội.
Khi đưa hai đẳng cấp cao ấy vào lĩnh vực này, Platon nhấn mạnh tầm quan
trọng của nghề binh và nghề quản lý, điều hành các công việc nhà nước (nghề
làm chính trị).
Ở khía cạnh đạo đức Platon đặt những người lao động sản xuất vật chất
và dịch vụ ở củng một cấp độ, còn cấp độ khác là các chiến binh và các nhà
cai trị. Platon đánh giá phẩm chất đạo đức của những người bình dân thấp hơn
phẩm chất đạo đức của hai đẳng cấp chiến binh và nhà cai trị – triết gia (vua
– yt==triết gia). Tuy nhiên ông cũng lưu ý rằng trong nhà nước hoàn thiện cả
ba đẳng cấp công dân đều cần thiết cho nhà nước và và đều đáng xem là cao
cả và tốt đẹp. Thêm một điểm nữa : giữa nguồn gốc xuất thân từ giai cấp này
hay giai cấp khác và các phẩm chất đạo đứckhông có mối ràng buộc đến mức
khó vượt qua, người có phẩm chất đạo đức cao qúy có thể sinh ra trong giai
cấp thấp; và ngược lại các công dân vốn được sinh ra từ hai giai cấp cao kia
rất có thể mang một tâm hồn thấp hèn. Sự không tương xứng này đe dọa đe
dọa sự hài hòa của chế độ nhà nước. Chính vì thế một trong những nghĩa vụ
của các nhà cai trị là theo dõi và xác định tư chất đạo đức của trẻ con từ tất cả
các đẳng cấp quản lý và dạy dỗ chúng phù hợp với tư chất tự nhiên. Nếu trong
9
năng lực trực giác về các ý niệm vĩnh cửu, hoàn thiện, tối cao tầm mức vũ trụ,
nói khác đi, là phẩm hạnh đạo đức đi vào chiều sâu, bản chất (xem quyển IV,
428b – 429a).
Nhà cai trị – triết gia là mẫu mực của chủ thể quyền lực trong nhà
nước lý tưởng. Chừng nào triết gia chưa đóng vai trò lãnh đạo nhà nước, thì
10
quyền lực cònchưa đạt được sự thống nhất, và nhà nước chưa được giải thoát
khỏi cái ác (xem V, 473d).
Cũng như sự sáng suốt, can đảm không phải là đức hạnh cố hữu ở tất
cả. Nó là phẩm chất cần có của một bộ phận công dân – các chiến binh. Can
đảm trở thành thước đo sự trung thành của các chiến binh, bởi lẽ sự trung
thành sẽ khiến người lính bất chấp khó khăn và hy sinh, hoàn thành tốt nhiệm
vụ của mình đối với tổ quốc.
Platon lưu ý : đừng nghĩa đơn giản là mỗi hạng người có và chỉ có một
phẩm hạnh tương ứng, mà ở đây chỉ nhấn mạnh phẩm hạnh ưu thế, hay cần
có, của từng hạng nguời mà thôi.
Khác với sự sáng suốt và can đảm, điều độ là phẩm hạnh thuộc về tất
cả các thành viên xã hội. Sự hiện diện của nó đưa mọi thứ trở về trạng thái
bình thường, tránh những bất cập và thái quá. Điều độ (chín chắn) là cơ sở
cần thiết của các quan hệ hài hòa trong xã hội, ngăn chặn cái xấu, cái ác, cái
phi đạo đức (xem quyển IV, 430d – 432a). Công bằng làm nên phẩm hạnh thứ
tư của nhà nước lý tưởng. Nó xuất phát từ điều độ và chịu sự quy định của
điều độ. Lẽ công bằng được hiểu là mỗi người cần làm một công việc có ích
trong nhà nước tùy theo khả năng và thiên hướng của mình, không can thiệp
vào công việc của người khác (quyển IV, 433a, 434b – c). Công bằng, do đó
là sự đảm bảo trật tự tự nhiên của sự vật. Nếi điều này bị vi phạm, chẳng hạn
thợ thủ công làm công việc của chiến binh, thậm chí tham gia điều hành nhà
nước, thì tai họa sẽ đến đối với nhà nước.
Nhà nước nào con gnười nấy, từ sự tồn tại của mỗi cá nhân với những
phẩm hạnh cần có, ta có thể suy nghĩ về những phẩm hạnh của nhà nước. Chú
dục ngu xuẩn làm thui chột”.
Trong đoạn đối thoại 443d (quyển IV) Platon giải thích thêm về công
bằng :”Xét thực chất công bằng … không hiểu theo nghĩa những hiểu hiện
bên ngoài của con người, mà theo nghĩa sự tác động bên trongthực sự lên
chính mình và những khả năng của mình. Con người như thế sẽ không cho
phép bất kỳ bản nguyên nàotrong linh hồn thực hiện những nhiệm vụ xa lạ
hay can thiệp lẫn nhau : anh ta … gắn kết với nhau ba bản nguyên ấy, , tựa
như b1 nốt cơ bản của sự hòa âm – cao, thấp và trung, và cả những nốt trung
gian, nếu chúng ngân lên; anh ta liên kết những thứ ấy lại, và từ tính đa dạng
này đi đến sự thống nhất, sự điều độ và hòa hợp Anh ta cũng là người như
thế trong hoạt động của mình… Ở đây anh ta gọi sự hoạt động tạo điều kiện
duy trì trạng thái vừa nêu (điều độ và hòa hợp – ĐNT) là hoạt động công bằng
và đẹp đẽ, còn kỹ năng điều khiển sự hoạt động ấy là sự sáng suốt. Anh ta
gọi sự hoạt động vi phạm tất cả những điều ấy là bất công, gọi thứ kiến giải
điều khiển nó là sự dốt nát”
Trong nhà nước hoàn thiện ba đẳng cấp công dân – nhà cai trị – triết
gia, các chiến binh – người bảo vệ và những người lao động sản xuất trực tiếp
(cùng với những người làm công việc dịch vụ) tạo nên cái toàn vẹn hài hòa
dưới sự điều hành của đẳng cấp lý trí (sáng suốt, khôn ngoan). Sự hài hòa của
12
linh hồn tương ứng với một cơ chế điều hành hài hòa. Trong sự hài hòa này
bản nguyên lý trí đóng vai trò thống trị, bản nguyên ý chí thực hiện chức phận
bảo vệ, bản nguyên dục vọng – tuân thủ pháp luật , hạn chế những ham muốn
tầm thường (xem quyển IV, 442a).
Tuy nhiên, theo Platon, phương án lý tưởng hóa nhà nước chỉ thích
hợp đối với người Hy Lâp. Đối với các dân tộc khác, do bản nguyên lý trí còn
chậm phát triển, nên chưa thích ứng với mô hình này, bị Platon đẩy xuống thế
giới “dã man”. Platon vận dụng cả sự phân biệt này vào việc giải thích chuẩn
mực và bản chất của chiến tranh. Ông hcỉ dùng từ “chiến tranh” đối với đối
với cuộc chiến giữa thế giới Hy Lạp và thế giới “dã man”, còn xung đột giữa
nước lý tưởng của Platon sự tồn tại và lao động của nô lệ không phải là điều
kiện hiển nhiên. Platon có nói đến việc biến những kẻ bại trận thành những nô
lệ, song chỉ phù hợp với cuộc chiến tranh của những dân tộc “dã man” chống
người Hy Lạp. Giữa những người Hy Lạp với nhau việc biến tù binh thành nô
lệ bị cấm. Chiến tranh là tội ác, vì thế trong một nhà nước được tổ chức tốttội
ác này cần bị loại trừ. Trong “Phedon” Platon từng viết :”Tất cả các cuộc
chiến tranh đều vì mục đích chiếm lấy của cải”(Phedon, 66c), suy rộng ra, vì
mục đích kinh tế. Chỉ có xã hội nào mong sống trong thịnh vượng mới tích
cực mưu tính chiếm đoạt đất đai của khu vực láng giềng. Có lẽ sau này quan
điểm của Platon về chiếm hữu nô lệ đã thay đổi. Ít nhất trong “Luật pháp”,
tác phẩm cuối cùng của thời đứng tuổi, Platon mới đề cập đến việc sử dụng nô
lệ trong hoạt động sản xuất như một trong những điều kiện tồn tại của thị
quốc, hoặc thái độ đối với những kẻ ngoại bang. Nhưng ngay cả trong “Luật
pháp” Platon khẳng định rằng người lập pháp và người đứng đầu nhà nước
cần xác lập không phải luật liên quan đến hòa bình, mà ngược lại, “luật liên
quan đến chiến tranh, vì hòa bình” (628e)
Vấn đề sở hữu, quan điểm “sở hữu” về phụ nữ
Theo Platon, nguyên nhân chủ yếu của sự hư hỏng xã hội loài người và
chế độ nhà nước, dẫn đến hình thành những kiểu nhà nước tiêu cực – phú hào,
hoạt đầu, dân chủ, độc tài – là sự thống trị của các lợi ích không trong sáng.
Do đó những người kiến tạo nhà nước hoàn thiện không chỉ quan tâm đến
việc giáo dục các chiến binh một cách đúng đắn. Ngoài ra họ còn cần phải xác
lập trong nhà nước một trật tự mà ở đó cơ cấu cộng đồng và quyền hưởng lợi
ích vật chất không trở thành vật cản đối với phẩm chất cao quý của các chiến
binh và việc thực hiện các nghĩa vụ quân sự của họ,, cũng như đối với các
quan hệ xã hội của họ. Đặc điểm cơ bản của trật tự này là các chiến binh
không có quyền tư hữu. Chiến binh chỉ được phép sử dụng những gì thiết yếu
nhất cho cuộc sống,, sức khoẻ và sự hoàn thành các chức năng của mình trong
nhà nước. Họ không có nhà cửa riêng, không tài sản, không có của dự trữ,
không có của quý hiếm và đồ trang sức. Tất cả những gì thiết yếu cho chiến
yếu lấy yếu. Đứa trẻ vừa sinh ra lập tức được rời khỏi mẹ và giao cho các nhà
cai trị xem xét, chọn những đứa trẻ tốt nhất để nuôi dưỡng, còn những đứa trẻ
èo uột, dị tật, không hoàn thiện bị buộc phải chết, và được chôn cất ở một chỗ
bí mật. Sau một thời gian các bà mẹ trẻ được phép nhận lại con để nuôi
dưỡng, nhưng họ đã không còn biết được đứa trẻ nào do chính mình sinh ra.
Tất cả các đàn ông - chiến binh đều được gọi là cha của tất cả trẻ con (cha
chung), còn tyất cả các phụ nữ – chiến binh đều là vợ chung của tất cả đàn
ông – chiến binh ( quyển V, 457d - 459e, 460c – 461e).
15
Platon đã biện minh cho quan điểm vợ chung và con chung như thế
nào? Theo Platon, thực hiện nguyên tắc này có nghĩa là đạt được tính thống
nhất của các công dân trong nhà nước lý tưởng. Chung vợ và chung con trong
đẳng cấp chiến binh là điểm bắt đầu của chung tài sản, là nguyên nhân của lợi
ích tối thượng (xem quyển V, 457d – 458c, 462 ab). Chỉ có thống nhất tình
cảm mới không phá vỡ tính thống nhất của nhà nước tránh tình trạng trong
nhà nước diễn ra cái cảnh người nào cũng đòi “cái này là của tôi” (quyển V,
462b). Trong nhà nước lý tưởng cần phải phân biệt trường hợp nào thì mói
“cái này là của tôi”, trường hợp nào thì nói “cái này không phải của tôi”
((quyển V, 462b). Chung lợi ích, không có tư hữu, không có sự xuất hiện tư
hữu, nhu cầu bảo vệ và khuếch trương tư hữu cũng khiến cho những cuộc
tranh luận triền miên về tài sản , về trách nhiệm, những sự kết án lẫn
nhaunhững bất hoà giữa cha mẹ và con cái không còn. Loại trừ những bất hòa
trong hàng ngũ chiến binh cũng tạo điều kiện cho việc loại trừ những bất hòa
trong nội bộ những người lao động, và điều đó cũng giúp giảm bớt và chấm
dứt hẳn những cuộc nổi dậy chống lại hai đẳng cấp cao – đẳng cấp nhà cai trị
– triết gia và đẳng cấp chiến binh.
Giáo dục trong nhà nước hoàn thiện
Một trong những vấn đề cần quan tâm là giáo dục và đào tạo những nhà
cai trị của nhà nước hoàn thiện. Đỉnh cao của sự đào tạo này là Triết học.
sáng cho mọi người; khi đã nhận ra lợi ích tự thân , họ sẽ giữ lấy nó như
khuôn mẫu và dùng để chỉnh đốn cả nhà nước, cả những sự vật riêng lẽ lẫn
chính mình, những khuyết tật trong cuộc sống của mình” (quyển VII, 540ab).
Nhà cai trị trước hết phải nghiên cứu triết học, và khi đến lượt sẵn sàng
đứng ra gánh vác công ciệc chung; họ làm điều này vì nhà nước, không vì
thích thú những công việc ấy, mà vì những công việc ấy là cần thiết (xem
quyển VII, 540c).
Platon thừa nhận rằng phương án do ông nêu ra về chế độ nhà nước
hoàn thiện khá khó khăn để thực hiện, nhưng không phải là không thực hiện
được. Tuy nhiên nó chỉ đi từ dự án sang hiện thực một khi các nhà triết học
chân chính trở thành những nhà cai trị. Họ sẽ xem công bằng là phẩm hạnh
cực kỳ vĩ đại và cần thiết. Công bằng, đó là mục đích của nhà nườc hoàn
thiện, lý tưởng.
Platon xem xét những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực của một số môn được
đưa vào chương trình giáo dục các chiến binh và các nhà cai trị tương lai.
Nghệ thuật và vấn đề giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật được Platon chú ý đặc
biệt, vì thời đại Platon không chỉ là thời đại của triết học, mà còn là thời đại
của văn chương, nghệ thuật, khoa học Hai nguồn chính tạo nên mối quan
tâm của Platon đối với vấn đề này là các tác phẩm thơ ca sử thi, trữ tình, sân
khấu, âm nhạc, và các công trình hội hoạ, điêu khắc. Khảo sát thời kỳ cực
thịnh của Hy Lạp tại Athens thế kỷ V TCN, Platon nhận thấy tác dụng to lớn
17
của thi ca, sân khấu và âm nhạc. Aristophanes quan tâm đến vấn đề sức mạnh
của giáo dục và tính khuynh hướng của các tác phẩm được công diễn trên sân
khấu. Platon nhận thấy không chỉ mặt tích cực, mà cả những ảnh hưởng tiêu
cực của một số sáng tác kịch nghệ đối với tâm hồn trẻ thơ, và cả những gnười
lớn tuối, đồng thời nhấn mạnh vai trò quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực
năng động này. Chính vì thế mà Platon không đồng ý với Homer về cách mô
tả thần linh, cách mô tả mà theo ông, mang tính xúc phạm, thậm chí báng bổ
thần linh.
tin vào những câu chuyện của Homer về các vị thần với những thói hư tật xấu
như ở con người.
Tóm lại, các nhà cai trị xem xét các tác phẩm nghệ thuật theo hai dấu
hiệu : theo mức độ chân thực của sự mô tả, và theo kết quả tác động của
chúng đến đối tượng, tức người thưởng thức các tác phẩm đó.
Trong các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình Platon chỉ nhìn thấy mặt
tiêu cực. Ông là người phủ nhận, phê phán, bài bác mọi nghệ thuật tạo hình.
Các hình tượng nghệ thuật, theo Platon, không có khả năng phản ánh chân lý.
Nghệ thuật tạo hình là lĩnh vực không phải của hiện thực, mà của vẻ ngoài lừa
dối. Các sự vật cảm tính mà các tác phẩm mô tả không phải là hiện thực, mà
chỉ mô phỏng hiện thực Đặc biệt nguy hiểm là các tác phẩm mô tả các vị
thần. Theo quan niệm phổ biến các vị thần là hình mẫu và luôn luôn cần phải
là hình mẫu của phẩm hạnh và sự hoàn thiện, nhưng trong hình ảnh nghệ
thuật họ hiện lên là những vị thần láu cá, độc ác, tàn bạo, dối trá, phản trắc
v.v (xem quyển X, 601b). Vì thế cần sàng lọc các tác phẩm nghệ thuật.
“Trước hết cần theo dõi những người sáng tạo ra huyền thoại : nếu tác phẩm
tốt chúng ta cho phép, nếu không – bác bỏ. Chúng ta khuyên những người
giáo dục và những người mẹ kể cho trẻ nghe những tác phẩm huyền thoại
được cho phép, để những yác phẩm có ích như thế hình thành nên tâm hồn trẻ
thơ nhanh hơn cả sự lớn sự cứng cáp của thân xác nhờ sự giúp đỡ của đôi tay
(người mẹ) (quyển II, 377c). Platon cũng phê phán cách thỏa mãn mà con
người đạt được khi chứng kiến sự đau đớn của các nhân vật bi kịch. Sự thoả
mãn như thế, theo Platon, sẽ làm tâm hồn con gnười trở nên yếu đuối. Nếu
nhân vật bi kịch vượt qua những thử thách và đau đớn để vươn lên, hoặc sẵn
sàng đón nhận cái chết vì mục đích cao cả, thì đó là những hình ảnh có tính
giáo dục tốt, vì kích thích con người phấn đấu. Nhưng nếu sự đau thương bị
thổi phồng, gây ra nỗi khiếp sợ, sự buông xuôi, thì đó lại là điều nguy hại.
Những tác phẩm sử thi xa rời hiện thực và những vở bi kịch làm u tối tâm hồn
con người cần bị loại trừ khỏi chương trình học tập dành cho các chiến binh
và các triết gia – nhà cai trị tương lai.
chế lịch sử đan xen nhau. Platon đã đặt ra những nguyên tắc cơ bản của mô
hình nhà nước lý tưởng, mà thực chất là sự kết hợp nhà nước quả đầu (hoạt
đầu) Sparta và huyền thoại về Athens hưng thịnh, hùng mạnh và kiểu hãnh
của thời đã qua. Các nguyên tắc của nhà nước lý tưởng bàn về chủ thể quyền
lực ( …), tổ chức đời sống xã hội (…), vấn đề sở hữu (…), giáo dục con
người, cả giáo dục học vấn lẫn giáo dục thể chất, thẩm mỹ (…). Ở mô hình
nhà nước lý tưởng ấy tư tưởng nhân văn, khai sáng không che lấp những biểu
hiện của thứ chủ nghĩa cộng sản trại lính, hay chủ nghĩa cộng sản bình quân,
thô lỗ. Mô hình nhà nước lý tưởng của Platon tư tưởng nhân văn, khai sáng
đan xen với những biểu hiện của chủ nghĩa cộng sản trại lính, hay chủ nghĩa
cộng sản bình quân, thô lỗ
20
Mặc dù có những hạn chế về cơ sở thế giới quan (phân tầng xã hội
căn cứ trên cấu trúc linh hồn) và nhân sinh quan, triết lý chính trị của Platon
trong “Nhà nước” để lại cho chúng ta nhiều bài học đáng ghi nhận. Thứ nhất,
bài học về thực hiện dân chủ thực sự và triệt để (dù Platon phê phán dân chủ
từ lập trường quý tộc chủ nô, song sự phản biện ấy cũng gợi nên suy nghĩ
sau : nếu dân chủ bị biến thành “trò chơi dân chủ” thì nền dân chủ sẽ phải đối
mặt với những mâu thuẫn mới, những xung đột mới. Lậy ví dụ về một mô
hình CNXH vừa bị sụp đổ để chứng minh). Thứ hai, bài học về tính nghiêm
minh của tổ chức và quản lý xã hội (để tổ chức và quản lý tốt xã hội, nhà cai
trị phải có tri thức và bản lĩnh chính trị, nghĩa là phải nắm vững “nghệ thuật
quyền lực”. Suy ra từ quan điểm cính trị của Platon : nhà nước lý tưởng là
nhà nước “thông thái” bởi sự thông thái của triết gia – vua, biểu tượng cho sự
khôn ngoan của dân tộc, hùng mạnh bởi sự hùng mạnh của các chiến binh, và
được tuân phục bởi quần chúng đông đảo). Thứ ba, bài học về một nền giáo
dục có hệ thống chặt chẽ, tính sàng lọc cao và nghiêm minh (cũng là một cách
tiếp cận “chính danh” trong giáo dục và trong chính trị mà Khổng Tử bên
Trung Quốc nêu ra). Thứ tư, chớ lạm dụng dân chủ, biến dân chủ thành đặc
quyền chính trị của một phe nhóm, hoặc đẩy nó đến tình trạng cực đoan, vô