ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MAI
TIỂU THUYẾT VỀ GIA ĐÌNH HIỆN ĐẠI
(Qua tác phẩm của: Ma Văn Kháng,
Lê Lựu, Dạ Ngân)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
nghiên cứu 9
3. Nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc luận văn 11
Chương 1 NHỮNG TÁC NHÂN XÂM HẠI GIA ĐÌNH THỜI HIỆN
ĐẠI 12
1.1. Gia đình hiện đại và nguy cơ rạn nứt từ hiện thực xã hội 12
1.1.1. Những nỗi đau chiến tranh hằn lên mỗi gia đình 12
1.1.2. Những hệ lụy hình thành từ tàn dư của xã hội đối với gia đình 19
1.1.3. Những bi kịch từ thời hiện đại tác động tới gia đình 23
2. 1. Gia đình hiện đại và những rạn nứt từ nội tại 30
2.1.1. Sự lệch pha giữa đàn ông với đàn bà 31
2.1.2. Sự cô đơn của mỗi thành viên trong gia đình 38
2.1.3. Sự ích kỉ của mỗi cá nhân đối với gia đình 41
Chương 2 NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG, VĨNH HẰNG CỦA GIA
ĐÌNH TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 49
2.1. Gia đình – nơi trú ngụ, chở che của mỗi con người trước lầm lạc, vấp
ngã của cuộc đời. 50
2.2. Mỗi người đều khao khát một gia đình với hạnh phúc đích thực 55
2.3. Lòng bao dung, đức hy sinh của mỗi thành viên trong gia đình 63
2
Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
GIA ĐÌNH 75
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 75
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 83
3.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu 95
3.3.1. Ngôn ngữ 95
3.3.2. Giọng điệu 99
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
4
- Gia đình Việt Nam? Ông Bằng hơi bị bất ngờ.
- Vâng. - Luận dằn giọng. - Con cho rằng, người Việt mình có nhiều cái bí
ẩn, độc đáo. Gia đình cũng có nhiều cái đáng nói lắm, nhất là lúc này. Về
nhân loại thì gia đình đã trải qua các hình thái: Tạp hôn cực kì lang chạ,
huyết tộc, punaluan, đối ngẫu, một vợ một chồng. Nghĩa là, gia đình là một
yếu tố năng động. Ở nước ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, gia đình đã
biến đổi như thế nào, đáng nghiên cứu lắm chứ, ba? [12, tr.62].
Gia đình “một phạm trù quan trọng” và “có nhiều cái đáng nói lắm”,
“đáng nghiên cứu lắm”, đấy chính là thông điệp ý nghĩa mà Ma Văn Kháng
cũng như Lê Lựu và Dạ Ngân muốn gửi gắm tới độc giả khi họ cùng chắp bút
đầy tâm huyết cho đề tài này. Và nhất là trong gia đình ngày nay càng có
nhiều cái đáng nói, đáng nghiên cứu hơn bởi gia đình hiện đại không còn đơn
giản nữa mà trở nên phức tạp với những nguy cơ rạn nứt, những mối bất hòa
không thể tránh khỏi. Cũng vì lẽ đó mà đề tài gia đình là một đề tài lớn được
các nhà văn chú tâm khai thác và gặt hái được nhiều thành công.
Qua luận văn với nhan đề: “Tiểu thuyết về gia đình hiện đại (qua tác
phẩm của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Dạ Ngân)”, người viết muốn tìm hiểu gia
đình với tư cách một đề tài của văn học trong dòng văn chương thế sự. Người
viết hy vọng sẽ phác thảo được đầy đủ nhất diện mạo và những đặc điểm cơ
bản của gia đình hiện đại một cách có hệ thống từ lăng kính của các nhà văn.
Nhờ đó, người viết hy vọng sẽ góp một tiếng nói nhỏ trên con đường mưu cầu
hạnh phúc của gia đình – một trong những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra trong
cuộc sống hôm nay.
Trên từng trang văn, ta thấy gia đình hiện đại được tái hiện trong đó vừa
mang sắc thái chung, khái quát vừa thể hiện sự cá biệt, riêng tư trong đời
sống, bên cạnh đó, ta còn thấy rõ được những đặc trưng, những kế thừa và
5
biến đổi của xã hội hiện đại. Với đề tài này, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn bộ
mặt của xã hội hiện đại qua những biểu hiện về gia đình.
một giai đoạn khác [29, tr.26].
Gia đình là cái gốc của con người, nơi mỗi con người sinh ra và bắt đầu
cuộc sống. Vì thế, trong đời sống xã hội, đặc biệt ở thời hiện đại, vấn đề gia
đình được chú trọng hơn bao giờ hết. Nhiều bài báo, tạp chí đề cập tới mà một
trong số đó là “Sự biến động của cuộc sống trong gia đình hiện đại” và “Điều
đáng lo ngại trong nhiều gia đình hiện nay ở thành thị của Trường Giang, Mái
nhà giữa cơn giông thời đại của Nguyễn Hoàng Đức, Gia đình Việt Nam hiện
nay: truyền thống hay hiện đại của Nguyễn Thị Thường.
Gia đình Việt Nam truyền thống được các nhà nghiên cứu cho là loại
gia đình chứa nhiều yếu tố dường như bất biến, ít đổi thay, ra đời từ nôi văn
hóa bản địa, được bảo lưu và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong dân
gian, gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết
với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống. Trong gia đình này có thể cùng
chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen
gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường". Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập
trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ. Gia đình truyền thống có các ưu điểm
như có sự gắn bó cao về tình cảm theo huyết thống, bảo lưu được các truyền
thống văn hóa, tập tục, nghi lễ, phát huy tốt các gia phong, gia lễ, gia đạo. Các
thành viên trong gia đình có điều kiện giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần,
chăm sóc người già và giáo dưỡng thế hệ trẻ. Gia đình truyền thống Việt Nam
thực chất là gia đình trật tự, nền nếp, êm ấm; là gia đình trong đó mọi thành
viên đều biết nhiệm vụ của mình, tự giác tổ chức cuộc sống ổn định, mọi
người hoà thuận, giữ đúng lễ nghĩa, trên kính dưới nhường. Gia đình của kỷ
7
cương, tình thương và trách nhiệm. Đó là những giá trị rất căn bản của văn
hóa gia đình mà chúng ta cần kế thừa và phát huy. Tuy nhiên, nhược điểm của
loại gia đình này là ở chỗ trong khi giữ gìn các truyền thống tốt đẹp thì cũng
bảo trì luôn cả những tập tục, tập quán lạc hậu, lỗi thời. Bên cạnh đó, sự khác
biệt về tuổi tác, lối sống, thói quen cũng đưa đến một hệ quả khó tránh khỏi là
mâu thuẫn giữa các thế hệ: giữa ông bà – các cháu, giữa mẹ chồng – nàng
tranh giải phóng cá nhân, đấu tranh cho tự do hôn nhân để dành quyền sống
cho người phụ nữ, chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến.
Các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Lạnh lùng (Nhất Linh); Nửa chừng
xuân, Thừa tự, Gia đình, Thoát ly (Khái Hưng); Gánh hàng
hoa (Nhất Linh - Khái Hưng)… là những ví dụ cụ thể. Từ sau 1945, đất
nước phải trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng dân tộc. Lúc này vận
mệnh dân tộc được đặt lên hàng đầu. Vấn đề cá nhân, gia đình trở thành thứ
yếu. Nếu có đề cập tới gia đình thì gia đình lại được nhìn nhận như
một "tổ chức" thống nhất, tất cả mọi người đều ủng hộ, giúp đỡ nhau
hoàn thành tốt công việc của tập thể, của xã hội. Đó là gia đình chị
Tư Hậu (trong Một truyện chép ở bệnh viện - Bùi Đức Ai), má Bảy
(trong Gia đình má Bảy - Phan Tứ), chị Út Tịch (trong Người mẹ cầm
súng - Nguyễn Thi) Đến những năm đầu của đổi mới, các nhà văn đã
khơi lại mạch viết về chủ đề gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỉ văn
học, đề tài gia đình trở thành nguồn mạch chính và thu được những thành tựu
đáng kể với nhiều tác phẩm đáng chú ý, đó là: Thời xa vắng, Sóng ở đáy
sông, Hai nhà, Chuyện làng Cuội của Lê Lựu; Mùa lá rụng trong vườn, Đám
cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng; Gia đình bé mọn của Dạ
Ngân Trong thời kỳ đổi mới của đất nước, các nhà tiểu thuyết tập trung bàn
9
về tính phức tạp, đa chiều trong các mối quan hệ thuộc nội bộ gia đình hoặc
giữa gia đình với xã hội, với dân tộc. Dưới cách đặt vấn đề mới của tác giả,
các mối quan hệ ấy bỗng trở thành điểm thử thách sự bền vững của gia đình
trong thời hiện đại.
2.3. Gia đình hiện đại qua những trang văn dưới góc nhìn của
người nghiên cứu
Đời sống văn học càng sinh động hơn với sự cảm nhận tinh tế của các
nhà văn, các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu, các bạn đọc quan tâm tới tác
phẩm viết về gia đình của Ma Văn Kháng, Lê Lựu và Dạ Ngân. Nhưng các
bài viết liên quan tới đề tài này còn chưa nhiều.
Bốn lời bình cho tiểu thuyết Gia đình bé mọn đã nhận định đây là “cuốn tiểu
thuyết kể chuyện gia đình”, qua đó “tác giả cho thấy một mẫu hình phụ nữ chủ
động chèo lái con thuyền cuộc đời mình”.
Bên cạnh đó, một số luận văn ít nhiều đề cập đến vấn đề này như: Tình
yêu và hôn nhân trong truyện ngắn của một số nhà văn nữ Việt Nam thời kỳ
đổi mới – Luận văn của Trần Đức Tuấn, Hạnh phúc đời tư trong truyện ngắn
một số cây bút nữ – Luận văn của Nguyễn Thu Hương, Hôn nhân – gia đình
qua hai tiểu thuyết “Thời xa vắng” và “Hai nhà” của Lê Lựu – Luận văn của
Nguyễn Thị Kim Phúc, Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng – Luận văn thạc sĩ của Bùi Lan Hương, Nghệ thuật viết tiểu
thuyết của Lê Lựu – Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Vân.
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu, vấn đề gia đình chỉ được điểm
qua trong một vài nhận xét chứ chưa tiếp cận hết mọi góc độ, mọi khía cạnh
cũng như chưa có một cái nhìn xuyên suốt, toàn diện. Trong luận văn, chúng
tôi cố gắng đi sâu vào phân tích gia đình với một cái nhìn nhiều chiều cùng
với sự khái quát để chỉ ra những nét đặc trưng của gia đình thời hiện đại trong
các tiểu thuyết đã lựa chọn nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp nghiên cứu
- Mục đích:
11
Về nội dung, chúng tôi nêu lên những biểu hiện, những góc cạnh khác
nhau của gia đình thời hiện đại trong các tiểu thuyết của các nhà văn.
Về nghệ thuật, luận văn không đi sâu khai thác đặc điểm nghệ thuật của
từng tác giả mà chỉ khai thác những biện pháp nghệ thuật nổi bật như là
phương thức để thể hiện vấn đề gia đình thời hiện đại.
- Đối tượng: Các tác phẩm được lựa chọn để khảo sát gồm:
Tác giả Lê Lựu với các tác phẩm: Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai
nhà, Chuyện làng Cuội;
Tác giả Ma Văn Kháng với các tác phẩm: Mùa lá rụng trong vườn,
Đám cưới không có giấy giá thú;
đình với các mối quan hệ tự thân.
1.1. Gia đình hiện đại và nguy cơ rạn nứt từ hiện thực xã hội
Trong Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng viết: “Gia đình thật
quen thuộc nhưng cũng thật tinh tế, phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và
biến động. Ôi cái vùng tưởng là tĩnh lặng, cái vùng hay bị lãng quên trong
mối quan tâm hàng ngày, có ai ngờ lại là nơi khởi thủy, chung cục lắm điều
bất hạnh” [1,tr. 345]. Gia đình hiện đại không còn đơn giản nữa mà trở nên
phức tạp hơn với những nguy cơ rạn nứt, chia rẽ, khủng hoảng trước thời đại.
1.1.1. Những nỗi đau chiến tranh hằn lên mỗi gia đình
Nói về chiến tranh, người ta nghĩ ngay một miền quá vãng và có mâu
thuẫn chăng khi chúng ta đề cập tới vấn đề chiến tranh giữa cuộc sống hiện
đại? Có thể nói, văn học trong chiến tranh, phản ánh về chiến tranh như đang
ở tư thế "nhìn nghiêng" về bản chất của cuộc chiến, ánh lên hào quang chiến
thắng, chưa có những tác phẩm phơi bày, cắt nghĩa một cách thấu đáo, đầy đủ
về nó. Các tác giả văn xuôi đương đại không khai thác đề tài chiến tranh với
những chiến công rực rỡ, với con người anh hùng mà chú ý tới những mất mát
đau thương, tới con người cá nhân nhỏ bé. Các nhà văn không thể hiện một
13
cách trực diện tính chất ác liệt của chiến tranh nơi chiến trường lửa đạn mà
chú tâm vào những di họa nhức nhối của chiến tranh còn hằn đọng trên số
phận con người mà nhất là thân phận của người phụ nữ.
Tiểu thuyết đương đại đi sâu vào hiện thực cuộc sống hàng ngày, vào cá
nhân, vào gia đình và đã nhìn thấy những mảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh,
những mặt tối của cuộc sống bằng cái nhìn trung thực, táo bạo. “Chiến tranh
vẫn cứ theo đúng quy luật của nó. Chiến tranh là sự tàn phá kinh hoàng, là sự
hy sinh, tổn thất to lớn, là máu và nước mắt, sự ly tán đau thương cho mỗi một
cá thể, gia đình và xã hội. Chiến tranh tàn phá về vật chất, tàn phá tinh thần.
Nó làm đổ vỡ không chỉ hiện tại, mà còn công phá vào quá khứ và để lại
hậu hoạ cho tương lai của con người” (Trọng Bảo). Lịch sử của dân tộc Việt
là lịch sử của một dân tộc làm ăn để đánh giăc, đánh giặc để làm ăn. Người
người chồng, người cha đồng nghĩa với việc người phụ nữ mất đi quyền làm
vợ, làm mẹ. Những con người đáng thương ấy là sản phẩm của chiến tranh.
Nỗi đau ấy không gì có thể bù đắp, xóa mờ nổi. Con người gắng gượng sống
để quên đi nỗi đau nhưng nỗi đau vẫn không buông tha cho con người. Đúng
như lời tâm sự của Tiệp: “Vòng vây của nàng là những bà góa, cô góa, má
góa, chị góa, cô em út cũng góa, bốn bức tường gương mà nếu nàng soi vào
thì nàng phải lập tức quên tuổi trẻ và khát vọng của mình đi để nhớ rằng
không thể so sánh nỗi bất hạnh nào với nỗi bất hạnh của những người góa
bụa” [23, tr.134].
1.1.1.2. Nỗi đau của những gia đình có người lính trở về sau chiến
tranh
Giữa muôn vàn “nỗi buồn chiến tranh”, chiến tranh không chỉ hủy diệt
thân xác mà còn gây nên bao tổn thương trong tâm hồn người lính trở về sau
15
chiến trận. Bước ra khỏi chiến tranh, người lính mất đi tình yêu, hạnh phúc,
niềm tin, mất đi sự thanh thản nơi tâm hồn. Họ bỗng trở nên ngơ ngác, xa lạ
và lạc lõng, không bắt kịp với cuộc sống thời hậu chiến. Họ luôn sống với lý
tưởng đơn giản, với cái nhìn giản đơn, không nhận thức được sự phức tạp của
hiện thực cuộc sống. Nếu không có chiến tranh, đời tư của họ đã được vẹn
tròn, viên mãn biết bao! Đó phải chăng là nỗi đau của những gia đình có
người trở về sau chiến tranh. Trường hợp của Đông (Mùa lá rụng trong vườn),
Tự (Đám cưới không có giấy giá thú), Sài (Thời xa vắng) là những ví dụ cụ thể.
Mùa lá rụng trong vườn tái hiện sống động gia đình Việt Nam trong
thời kỳ phát triển mới của đất nước. Nhân vật Đông trong tác phẩm trở về sau
chiến tranh, đối diện với cuộc sống gia đình đầy ngao ngán. Trước tiên, gia
đình lớn của Đông không còn giữ được nề nếp truyền thống trước sự đổi thay
của xã hội. Nhân vật Đông là một điển hình cho sự không hòa nhập với cuộc
sống thời mở cửa. Đông bỗng trở nên một bóng hình xa lạ trong cuộc sống đời
thường. Đó là một nghịch cảnh mà người lính phải gánh chịu. Giữa mưa bom
bão đạn, tâm hồn người lính tràn ngập quyết tâm chiến đấu, chiến thắng, đói
Đông lại phải đối diện với sự thật “hiện giờ chị Lý sống chung như vợ chồng
chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng vật tư”
[12, tr.322] - một sự thật quá sức tưởng tượng mà ngay cả trong cơn ác mộng
anh cũng không ngờ tới. Nhưng sự kiện Lý bỏ Đông “không giản dị như một
câu chuyện ngoại tình. Sai lầm cùa Lý là hiển nhiên rồi. Nhưng trong sai lầm
này của chị, phải chăng Đông và mọi người trong gia đình là vô can không có
lỗi [12, tr.314]? Câu hỏi đó đã tự bản thân nó nêu lên những lầm lỗi của Đông.
Bởi anh không nhận thức được rằng “đời là một hàm số phức”, “cuộc sống là
một chuỗi ngày không hoàn toàn mãn nguyện”, anh không cấy trồng, chăm
17
sóc, tô điểm cho quan hệ vợ chồng, “dù có xuất sắc, Đông cũng mới chỉ gánh
vác cái trách nhiệm nặng nề được xã hội giao phó mà thôi” để rồi Đông phải
đau đớn thốt lên: “Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ Sài
Gòn cho rồi”.
Sang tác phẩm của Lê Lựu, nhà văn viết về bi kịch của những gia đình
có người lính trở về sau chiến tranh qua hình tượng Giang Minh Sài. Người
đọc thấy bất bình thay cho anh khi thủa nhỏ, Sài phải dằn lòng sống theo ý
muốn của gia đình, dòng họ đến tuổi trưởng thành, Sài lại phải cố gồng mình
lên để chịu đựng, phải “tự giết chết đi những xao xuyến thèm khát một hạnh
phúc thực sự”. Khi vào quân ngũ, độc giả mừng cho anh được tháo cũi sổ lòng
nhưng thực chất, anh lại như chịu sự trói buộc trong một chiếc lồng khác. Sài
làm theo ý của các thủ trưởng “yêu cái người khác yêu, ghét bỏ cái người
khác ghét bỏ”. Người lính không dám đấu tranh với dư luận để tìm hạnh phúc
gia đình đích thực. Khi bước vào cuộc hôn nhân thứ hai với Châu, chúng ta
nghĩ rằng với bản lĩnh kiên cường của người lính, với những đắng cay nếm
trải, anh đã rút ra cho mình bài học nhận thức và hành động. Nhưng chúng ta
đã nhầm, đáng buồn thay anh lại “yêu cái mình không có”. Cách sống của anh
vẫn là hệ quả của những tháng ngày “sống hộ ý định người khác” thuở trước
cùng sự suy nghĩ đơn giản, tự mãn với bản thân khi cho rằng nơi chiến trường
ác liệt anh giỏi giang thì đời thường anh cũng làm được và làm tốt. Người lính
trong cuộc sống gia đình, Tiệp luôn đau buồn khi “con tim nàng không chịu
rung động, nó cứ lên tiếng rằng đây không phải là người đàn ông, đây là cuộc
xô đẩy của chiến tranh, bom đạn, giặc giã”. Chất liệu xây dựng gia đình Tiệp
“chẳng có chút kết dính nào ở những phẩm chất nhân tính cơ bản [23, tr.327].
19
Người đọc tự hình dung và rút ra kết luận gia đình dựng xây trong thoáng
chốc của chiến tranh không tồn tại lâu bền. Đây cũng là một dạng hậu quả do
chiến tranh mang tới.
Với tư cách là những chứng nhân thậm chí là nạn nhân, các nhà văn
miêu tả chân thực, sinh động, giàu sức thuyết phục những nỗi đau chiến tranh
hằn lên mỗi gia đình. Chiến tranh đã cướp đi tuổi thanh xuân và hạnh phúc,
cướp đi những điều quý giá nhất của một đời người. Tất cả chỉ còn lại sự
mong manh, chóng vánh, bất an, vô nghĩa của cuộc đời khi hạnh phúc không
trọn vẹn. Đó là những mặt trái của chiến tranh đối với con người thời hiện đại.
Khi nhìn cuộc chiến tranh từ số phận con người, nhà văn thể hiện tiếng nói
đồng cảm, chia sẻ sâu sắc với những nạn nhân còn đang mang trong mình nỗi
buồn chiến tranh dù chiến tranh đã lùi sâu vào dĩ vãng, đồng thời cất lên tiếng
nói phản đối chiến tranh và khát khao cùng nhân loại “giã từ vũ khí”.
1.1.2. Những hệ lụy hình thành từ tàn dư của xã hội đối với gia đình
Xã hội ngày một phát triển, các gia đình ngày một văn minh, hiện đại
hơn. Tuy nhiên trên đất nước ta bên cạnh những phong tục tốt đẹp thì còn
không ít các hủ tục cần xóa bỏ như: hủ tục lấy người cận huyết thống, hủ tục
treo thây người chết cúng ma, tục tảo hôn… Vang vọng vào các tác phẩm, hủ
tục lạc hậu đeo bám và trở thành một nguyên nhân quan trọng làm nên bi kịch
gia đình.
Dưới góc độ hôn nhân và gia đình, vấn đề tình yêu và hạnh phúc trong
Thời xa vắng luôn là nỗi trăn trở khôn nguôi bởi sự tác động của những hủ
tục. Điều đó không chỉ làm sứt mẻ mối quan hệ gia đình mà tác hại còn nhiều
hơn thế. Đầu mối cho mọi bất hạnh của cuộc đời Giang Minh Sài trong Thời
xa vắng chính là những gì còn rơi rớt lại của tục tảo hôn. Thế nên chính Giang
21
Chính tư duy gia trưởng luôn áp đặt cách nghĩ của mình cho người khác của
gia đình Sài đã làm khổ anh. Tiếc nuối và xót xa biết bao khi anh phải thốt
lên: “Đừng ai ngu xuẩn và hèn nhát như tôi mà giết chết tình yêu đầu tiên vào
năm 18 tuổi” [17, tr.130]. Cuộc hôn nhân tan vỡ giữa Sài và Tuyết là lời tố
cáo tàn dư của xã hội phong kiến đã tước mất quyền tự mưu cầu hạnh phúc
của mỗi cá nhân.
Dạ Ngân mang đến cho ta một khía cạnh khác của tư duy gia trưởng với
“truyền thống ở vậy” của người dân chốn miệt vườn trong gia đình cô Tư
Ràng. Cô Tư Ràng, cô Tư quan toà của gia tộc, cô Tư quyền sinh quyền sát
của đám chị em Tiệp đã khẳng định và duy trì truyền thống ở vậy vì danh dự
gia đình. Ở vậy là truyền thống lạc hậu, o ép con người vào khuôn mẫu, không
cho họ tìm hạnh phúc riêng, áp đặt lên cuộc đời của những người con, người
cháu đang “thòm thèm” muốn đi bước nữa. Tiếng khóc và lời phản kháng của
chị Hoài làm toát lên sự bảo thủ của truyền thống này. “Chị Hoài bắt đầu sụt
sịt, trò nước mắt mà lúc nào chị cũng sẵn cùng với tuổi tác:- Con không bất
mãn, con chỉ không thích chiến tranh, không thích cái danh dự khổ sở của nhà
mình!”
Tàn dư xã hội phong kiến còn cho ra đời sản phẩm của nó là mẫu người
trì trệ, cố níu kéo những giá trị thiếu chuẩn mực, lạc hậu và tự cho đó là giá trị
truyền thống cần bảo lưu. Ma Văn Kháng trong Mùa lá rụng trong vườn cảnh
báo về vấn đề trên. Gia đình ông Bằng dưới ngòi bút của Ma Văn Kháng là
gia đình của truyền thống nhưng đã lung lay trước những tác động của thời
hiện đại dội vào. Sự xáo trộn đó được thể hiện thông qua nhân vật Cừ. Bức
thư của Cừ nói ra sự thật về cách giáo dục câu nệ, cứng nhắc, hà khắc, lỗi thời
của một người cha rất đỗi yêu thương con. Cừ cũng đã khẳng định cả mặt tích
cực lẫn hạn chế trong cách giáo dục của gia đình: “Nhưng con thì cho rằng:
hài kịch ấy là sự tiếp tục truyền thống đạo đức vừa hay vừa dở của gia đình
22
ta”. Quả thật là việc giữ gìn gia phong trong gia đình gia giáo lại là nguyên
đình này. Thế nhưng Lê Lựu lột tả một nghịch lý trớ trêu, cay đắng đó là sự
đối xử tệ bạc của người cha với những đứa con tội nghiệp. Đây cũng chính là
nguyên nhân quan trọng dẫn đến cuộc đời tội lỗi của Núi về sau. Người đọc
không khỏi ngậm ngùi theo dõi cuộc đời Núi và không nguôi bức xúc khi
người cha tuyệt tình tuyệt nghĩa với con đẻ. Hiện tượng phân biệt đối xử trong
Sóng ở đáy sông phản ánh thực trạng đời sống xã hội nhiều ngang trái, sự
phân biệt đẳng cấp, địa vị không chỉ diễn ra trong xã hội mà ngang nhiên tồn
tại ngay chính trong gia đình. Thật xót xa biết bao!
Như vậy, tàn dư của xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới các gia đình đòi
hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng đắn và các phương pháp giáo dục phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh cũng như tính cách của các thành viên trong gia
đình. Nhà văn muốn gửi gắm thông điệp đến với độc giả hãy nỗ lực bứt phá
khỏi cái lồng chập hẹp của hệ tư tưởng phong kiến để giành giật hạnh phúc cá
nhân.
1.1.3. Những bi kịch từ thời hiện đại tác động tới gia đình
Cuộc sống hiện đại với những thay đổi chóng mặt về nền kinh tế thị
trường và nền văn hóa mới đã góp phần vô cùng to lớn vào sự biến chuyển tư
duy, nếp sống, nếp nghĩ của mỗi con người, làm thay đổi trên nhiều bình diện
những vấn đề của đời sống gia đình. Bên cạnh những nỗi đau của chiến tranh,
những tàn dư của xã hội, nhiều tác phẩm còn nhấn mạnh đến sự rạn nứt, sự
khủng hoảng của tổ ấm dưới nhiều khía cạnh khác nhau như: tác động từ sự
giành giật, bon chen của cuộc sống vật chất, lối sống mới, sự ngoại tình,…