Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại ( trên tác phẩm của một số nhà thơ - Pdf 26


HÀ NỘI - 2004 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN HỒ VĂN HẢI
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ
THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5.04.08 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học:

1.5. Tiểu kết 38
CHƢƠNG 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục
bát hiện đại 40
2.1. Mặt ngữ âm trong thơ 40
2.2. Âm điệu, vần điệu và nhịp điệu thơ lục bát 42
2.3. Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện
đại nhìn từ lục bát Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy
53
2.4. Tiểu kết 104
CHƢƠNG 3: Một số phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục
bát
hiện đại 107
3.1. Tiếp thu chất liệu ngôn ngữ dân gian 109
3.2. Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới 156
3.3. “Định ngữ nghệ thuật” như một loại cấu trúc tu từ 177
2

3.4. Tiểu kết 182
Kết luận 184
Tài liệu tham khảo 193
4

MỞ ĐẦU



1.3. Khi một thể loại thơ được xác định là linh hồn dân tộc, nó trở thành đối
tượng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu. Dù đứng trên những điểm nhìn khác nhau
nhưng chung quy lại họ vẫn có cùng một điểm xuất phát đó là ngôn ngữ - chất liệu
cơ bản làm nên tác phẩm văn chương. Ngôn từ tự thân nó đã là chất liệu nhưng lại
chứa đựng những phương thức tư duy nghệ thuật và các giá trị văn hóa tinh thần.
Vì vậy, dù thành công ở mức độ nào, một chuyên luận nghiên cứu về ngôn ngữ lục
bát cũng đều có ý nghĩa to lớn không những đối với ngôn ngữ học, văn học mà còn
đối với các khoa học khác như tâm lí học, lịch sử học, văn hóa học, xã hội học
1.4. Trong tiến trình phát triển, lục bát ở mỗi một giai đoạn đều có những đặc
điểm riêng. Có ý kiến cho rằng thể loại thơ ca này chỉ phát triển rực rỡ trong văn
học dân gian nên đến khi Truyện Kiều ra đời thì nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử
và nhường chỗ cho những thể loại thơ ca khác. Vì vậy lục bát hiện đại trong một
thời gian dài chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng. Bên cạnh đó
trong khi có rất nhiều công trình nghiên cứu về lục bát, nhưng đa số lại tập trung
vào ca dao và xem xét nó từ bình diện lí luận phê bình. Chỉ có một số ít tác giả chú
trọng đến tiến trình thể loại và cấu trúc hình thức âm luật. Cho đến nay, lục bát hiện
đại với thành tựu to lớn của nó vẫn chưa có được một chuyên luận nghiên cứu từ
góc độ ngôn ngữ với cái nhìn xuyên suốt hai chiều đồng đại và lịch đại. Tzvetan
Todorov đã viết "Trên suốt chiều dài lịch sử của mình, nghiên cứu văn học nghiêng
hẳn về giải thích. Cần đấu tranh với sự thiên lệch này, nhƣng tức là với chính sự
thiên lệch chứ không phải với bản thân nguyên tắc giải thích" [112, 184]. Đó cũng
là thực trạng của tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta.
Những thực tế trên đặt ra vấn đề cần phải chọn những tác phẩm lục bát hiện
đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ
(là cách tiếp cận tỏ ra hiệu quả và mang tính thuyết phục cao) để đi đến những nhận
thức cần thiết về thực trạng, triển vọng và nhiều vấn đề quan trọng khác. Qua khảo
sát sơ bộ, chúng tôi đã chọn bốn tác giả lục bát tiêu biểu là Nguyễn Bính, Huy Cận,
Tố Hữu, Nguyễn Duy làm dẫn liệu chủ yếu. Từ đó đối sánh với lục bát ca dao, lục
bát Truyện Kiều để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại.

Thi pháp thơ Tố Hữu (1995) và Những thế giới nghệ thuật thơ (1997) đã nghiên
cứu thi pháp thơ và loại hình thơ dựa trên sự phân tích những cứ liệu cụ thể của tác
phẩm văn chương [97].
7

Nhìn chung trên bình diện lí luận phê bình đã có một số thành tựu được ghi
nhận về sự đóng góp công lao to lớn trong công cuộc khám phá thi ca nước nhà.
Tuy nhiên một thực thể phải được nhìn nhận từ nhiều phía mới đảm bảo tính khách
quan và toàn diện. Vì vậy, bình diện ngôn ngữ sẽ là một góc nhìn khác có thể làm
đối trọng để sự đánh giá tác phẩm văn chương ngày càng khoa học và chính xác
hơn.
2.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Vào đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga đã đưa ra những cách tiếp cận
mới về nghệ thuật thi ca. Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức
để lí giải nội dung ý nghĩa. Đây có thể coi là một bước nhảy vọt rất đáng ghi nhận
về quan điểm và nhận thức của giới nghiên cứu văn học. Lấy những yếu tố mang
tính phân biệt về hình thức giữa thơ và văn xuôi như âm luật, vần, câu thơ, đoạn
thơ làm đơn vị khảo sát, trường phái này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của
ngôn ngữ. Đó là sự cụ thể hóa cái cơ bản nhất của các loại hình văn chương nằm
trong định nghĩa mang tính khái quát: "văn học là nhân học" (văn học là khoa học
về tính "ngƣời") của M. Gooki [4].
Các nhà hình thức Nga như R. Jacobson, V. Girmunxki đã đi sâu nghiên cứu
các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông
qua các đơn vị cấu trúc hệ thống. Những quan điểm nghiên cứu của trường phái
này thể hiện rõ nét và tập trung nhất trong bài viết về "Những con mèo" của Ch.
Baudelaire [59, 69-75]. Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc - chức năng
mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn hoàn

hình thức và lí thuyết hệ thống. Bùi Công Hùng đã chỉ ra các bình diện, cấp độ, các
cấu trúc trong thơ, tuyệt đối hóa mặt hình thức, tạm thời không quan tâm đến cơ
chế sản sinh và cơ chế vận động để lí giải các biểu hiện của ngôn ngữ thơ.
Với chuyên luận Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998), Hữu Đạt đã sử dụng các lí
thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn để chỉ ra những đặc điểm cơ bản của
ngôn ngữ thơ tiếng Việt. Trong đó tác giả đã đưa ra được những luận điểm quan
trọng như kết cấu mảng miếng, nhạc thơ, một số đặc trưng của thơ lục bát [33].
Một công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại đầu tiên phải kể đến là Lục
bát và song thất lục bát (1998) của Phan Diễm Phương. Trong chuyên luận này tác
giả đã tập trung giải quyết tương đối triệt để những vấn đề chung về thể loại thơ
như quá trình ra đời và phát triển của hai thể thơ lục bát và song thất lục bát từ
9

điểm nhìn cấu trúc âm luật thể loại. Đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc
phân định hình thức chính thống của thể thơ truyền thống cách luật. Công trình này
cũng cùng xu hướng với chuyên luận Thơ và các vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại của Hà Minh Đức (1974). Tuy nhiên tác giả Phan Diễm Phương đã đưa ra và
giải quyết vấn đề này một cách tập trung và toàn diện hơn.
Những năm gần đây thơ lục bát được nhiều người quan tâm nghiên cứu, sưu
tầm, biên soạn. Trước đó trong một thời gian khá dài, người ta chỉ chú trọng vào
lục bát dân gian. Điều này cũng dễ hiểu vì lục bát ca dao, một bộ phận hợp thành
của thơ ca dân gian, chiếm vị trí chủ đạo không phải vì số lượng mà vì nó là một
loại hình thơ truyền thống có tính ổn định cao. Những tác giả có công biên soạn,
phê bình, giới thiệu lục bát dân gian phải kể đến là Đinh Gia khánh, Ninh Viết
Giao, Hoàng Tiến Tựu Trong số đó có người đã đi sâu nghiên cứu lục bát ca dao
như Nguyễn Xuân Kính (với chuyên luận Thi pháp ca dao - 1992), Bùi Mạnh Nhị
(với Công thức truyền thống và đặc trƣng cấu trúc của ca dao dân ca trữ tình -

đại). Vì vậy, trong phạm vi có thể, một công trình nghiên cứu hướng tới một sự
đánh giá nhất định về triển vọng và tương lai của thể lục bát từ góc nhìn ngôn ngữ
là hết sức cần thiết. Thực hiện được mục tiêu này sẽ góp phần vào việc từng bước
làm rõ hơn triển vọng, cách thức vận động và phát triển của thơ lục bát Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Trên cơ sở những nguyên tắc và lí thuyết ngôn ngữ học về ngôn ngữ thơ
và ngôn ngữ thơ lục bát, luận án phải chỉ ra được các đặc trưng ngôn ngữ của lục
bát hiện đại trên hai bình diện, đặc trưng hình thức ngữ âm và đặc trưng phương
thức, phương tiện tạo nghĩa trong sự so sánh lịch đại với các thành tựu lục bát tiêu
biểu từ trước đến nay. Cụ thể là:
*Từ lí thuyết về ngữ âm, luận án phải chỉ ra được đặc trưng hình thức ngữ âm
của lục bát hiện đại.
* Từ lí thuyết về phương thức, phương tiện tạo nghĩa, luận án phải chỉ ra
được những đặc trưng về việc lựa chọn, xây dựng các cấu trúc ngữ nghĩa có tính tu
từ cao trong thơ lục bát hiện đại.
Tóm lại, đi tìm những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại cũng là cách định
nghĩa một cách có cơ sở khái niệm Thơ lục bát hiện đại là gì?
11

3.2. Từ chỗ chỉ ra những đặc trưng hình thức ngữ âm và phương thức, phương
tiện tạo nghĩa, luận án góp phần xây dựng và hoàn chỉnh thêm những nguyên tắc và
lí thuyết ngôn ngữ học nghiên cứu thi ca nói chung, ngôn ngữ lục bát nói riêng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên nguyên lý chung là quy nạp, luận án sử dụng các phương pháp và các
thao tác nghiên cứu sau:
Thao tác thống kê, phân loại nhằm định lƣợng hóa một số đặc trưng ngôn ngữ
cơ bản và khái quát của các tác phẩm lục bát hiện đại được lựa chọn khảo sát.

hiện đại
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ VÀ NGÔN NGỮ
THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Nguyên lí tính võ đoán mà F. de Saussure đưa ra đã đặt nền móng cho lí
thuyết phân tích ngôn ngữ. Theo ông, hình thức và nội dung của tín hiệu ngôn ngữ
có mối quan hệ với nhau nhưng không quy định lẫn nhau (mang tính võ đoán). Tuy
nhiên lí thuyết này cũng chỉ dừng lại ở nguyên lí chung. Những nguyên tắc phân
tích ngôn ngữ văn chương sau đó vẫn phải được nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu
thực tế đặt ra. Cho đến nay, cơ bản chúng ta đã có được hệ thống lí thuyết về những
nét khu biệt của ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ giao tiếp thông thường, ngôn
ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ. Tìm hiểu ngôn ngữ thơ lục bát của một thời đại,
không thể tách chúng khỏi những đặc trưng ngôn ngữ thể loại và ngôn ngữ thi ca.
1.1. Các bình diện của ngôn ngữ thơ
Có rất nhiều công trình nghiên cứu cùng hướng vào mục đích lí giải và chỉ ra
các đặc trưng của ngôn ngữ thơ. Mặc dù cách tiếp cận có những điểm phân biệt,
song các tác giả đều dựa vào những bình diện khách quan của khách thể (tác phẩm
thơ như là một cấu trúc vật chất hoàn chỉnh và đặc thù) như ngôn ngữ thơ với tư
duy thơ, âm luật thơ với phương thức tạo nghĩa trong ngôn ngữ thơ để khám phá
13

14

Luận về vấn đề thơ là gì có lẽ không cần thiết cho một công trình nghiên cứu
thơ trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên để xác định được các bình diện nghiên cứu
cụ thể về ngôn ngữ thơ thì việc đề cập tới các quan niệm tiêu biểu về thơ là cần
thiết. Công trình lí luận về thi ca sớm nhất của phương Đông ra đời cách đây 1500
năm là Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đã chỉ ra 3 phương diện cơ bản cấu thành
tác phẩm thơ là hình văn, thanh văn và tình văn. Ngôn từ thơ có họa (hình văn),
nhạc (thanh văn) và cảm xúc (tình văn). Đến đời Đường, trong quan niệm về thơ
của Bạch Cư Dị, các yếu tố cấu thành thơ ca được cụ thể hóa thêm một bước: "cái
cảm hóa đƣợc lòng ngƣời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trƣớc
đƣợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa.
Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa"
[24]. Trong quan niệm của Bạch Cư Dị, nhiều bình diện ngôn ngữ thơ được làm
sáng tỏ. Cái "chẳng gì đi trƣớc đƣợc ngôn ngữ" hàm ý rằng cảm xúc, âm thanh và ý
nghĩa đều được chứa đựng trong những kết cấu ngôn ngữ thuộc từng hệ thống hữu
cơ của mỗi bài thơ. Nhờ những điều kiện khách quan của thời đại mà Bạch Cư Dị
đã cụ thể hóa tư tưởng của Lưu Hiệp trong việc chỉ ra mối quan hệ của các mặt cấu
thành một tác phẩm thơ từ cái nhìn hệ thống và cấu trúc chiều sâu. Trong bài tựa
Kinh Thi, Chu Hi cũng cho rằng "thơ là cái dƣ âm của lời nói, trong khi lòng ngƣời
cảm xúc với sự vật mà thể hiện ra ngoài" (Dẫn theo [89]. Với một nhận định ngắn
gọn, tác giả đã thể hiện được cái nhìn sắc sảo của mình rằng cái "tình văn" không
phải đơn giản được chứa đựng trong hình thức "trần trụi" bên ngoài của ngôn ngữ
mà là cái "dƣ âm" thoát ra từ những cấu trúc lời nói rất riêng của từng con người cụ
thể khi họ "cảm xúc" với "sự vật" xung quanh. Đây chính là cơ sở cho những cách
nhìn nhận về thơ hiện nay. Đến giai đoạn hiện đại, M. Gooki đã đưa ra một định
nghĩa về văn học: "Văn học là nhân học" (văn học là khoa học về tính ngƣời). Một
định nghĩa có tầm khái quát như thế là rất cần thiết đối với mọi đối tượng nhận thức

cùng quan trọng. Họ nhấn mạnh đến các yếu tố âm thanh như âm vận, điệp âm,
điệp vần, khổ thơ là những đơn vị thuộc bình diện hình thức. Từ những nguyên lí
này, ngôn ngữ thơ dần dần được nhận ra một cách rõ nét hơn và toàn diện hơn. Đây
là những nguyên lí đã được các nhà Việt ngữ học ứng dụng vào việc xem xét thơ ca
tiếng Việt một cách hiệu quả. Những năm cuối thế kỷ xx, ở trong nước, trong
chuyên luận Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Phan Ngọc đã đưa ra một
định nghĩa về thơ: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt
16

ngƣời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do chính hình thức ngôn ngữ này" [80,
30]. Có thể một quan niệm như thế về thơ là chưa toàn diện (chữ quái đản trong
trường hợp này được Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông thƣờng. Về mặt
này, Phan Ngọc đã có cùng quan điểm với Hoàng Tuệ), song qua đó cũng cho thấy
ngôn ngữ không những là chất liệu cơ bản xây dựng nên bài thơ mà nó còn chứa
đựng những phương thức thể hiện rất đặc trưng của nghệ thuật thi ca. Những
phương thức kết hợp "quái đản" của ngôn ngữ thơ thực chất là những cấu trúc ngôn
ngữ xa lạ so với cấu trúc ngôn ngữ phi nghệ thuật (hay nói cách khác ngôn ngữ phi
nghệ thuật có những giới hạn nhất định không thể vượt qua được để đảm nhận
những chức năng biểu đạt mang tính thẩm mỹ). Một tác giả khác cũng đi theo
hướng này là Nguyễn Phan Cảnh. Ông đã tiếp thu các luận thuyết về thi ca trong và
ngoài nước để đưa ra một vấn đề rất thiết thực song không kém phần nan giải: Các
nhà thơ tƣ duy trên chất liệu ngôn ngữ nhƣ thế nào? Lí thuyết hệ hình mà Nguyễn
Phan Cảnh đưa ra không mới song qua đó một lần nữa việc xem xét thơ từ phương
thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất được
khẳng định là đúng và có sức thuyết phục cao [10, 51-70]. Nguyễn Phan Cảnh
không dừng lại ở đó mà mở rộng vấn đề sang cả cấu trúc phổ biến trong ngôn ngữ
thơ để giải thích nguồn gốc của các biện pháp tu từ [10, 71-77]. Điểm nổi bật thứ

Xem xét các bình diện nghiên cứu ngôn ngữ thơ, chúng ta rút ra được các vấn
đề sau đây:
Thứ nhất, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca đã chỉ ra được các đơn vị, các
bình diện làm đối tượng nghiên cứu.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu ngôn ngữ thi ca thuộc các trường phái đã
chỉ ra rằng thơ không phải là một hiện tượng ngôn ngữ học thuần túy mà là một
nghệ thuật đặc thù lấy ngôn từ làm chất liệu (trong đó ngôn ngữ vừa là chất liệu,
vừa chứa đựng những phương thức phản ánh). Một yếu tố nghệ thuật phải được
xem xét trong một chỉnh thể nghệ thuật; giá trị của ngôn ngữ thơ là tính nghệ thuật
của nó chứ không phải là những giá trị phổ quát của ngôn ngữ chung.
Thứ ba, mặc dù đã có nhiều cố gắng song dường như các nhà nghiên cứu vẫn
chưa thực sự thiết lập được mối quan hệ chắc chắn giữa cách tiếp cận thi ca từ góc
độ lí luận phê bình với cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ. Thực tế là rất nhiều luận
đề trong thi ca được giới nghiên cứu lí luận văn học đưa ra nhưng khi giải thích nó
từ góc độ ngôn ngữ vẫn chưa thật thành công. Lý luận phê bình văn học phải bao
18

trùm lên toàn bộ các khuynh hướng tiếp cận tác phẩm. Về điểm này nó vẫn còn hạn
chế. Bên cạnh đó cũng có tình trạng người nghiên cứu ngôn ngữ văn chương miễn
cưỡng với những nguyên lý căn bản của phản ánh luận trong văn học. Ví dụ, lí luận
- phê bình đưa ra lí thuyết về tứ thơ, song lí luận ngôn ngữ lại không đề cập đến
vấn đề này, cho dù tứ thơ hay bất kì thứ gì có trong bài thơ cũng đều được thể hiện
bằng ngôn ngữ. Hay một vấn đề khác như khái niệm giọng điệu lại chỉ được nói
đến trong lí luận văn học nhưng thực tế sự biểu hiện của nó cơ bản và rất rõ nét trên
hình thức của ngôn từ.
Cho đến nay việc nghiên cứu theo phương thức định lượng, định tính các yếu
tố ngữ âm trong ngôn ngữ thơ đã đạt được những thành công nhất định nhờ ứng

chúng ta thấy rằng dựa trên nền tảng ngữ âm cơ bản, những "dị hóa" của vần điệu
và nhịp điệu cùng sự luân phiên về độ hòa âm vần chính và độ hòa âm vần thông,
không gò ép nhưng vẫn nằm trong "khuôn phép" và cách hiệp vần của thể lục bát:
Tre xanh giờ bờ//Xanh manh thành (vần chính); ơi tƣơi vôi//màu đâu
(vần thông); đâu lâu (vần chính)// nhiều nghèo nhiêu (vần thông) Như
vậy, dù sự biến thiên này nảy sinh từ tâm thức hay từ một sự tính toán chủ định thì
chúng ta cũng phải thừa nhận rằng tác động vào nhịp của âm luật thể loại sẽ đưa lại
hiệu quả cao nhất. Thông thường, nhịp thơ của thể lục bát là nhịp đôi (2/2/2 và
2/2/2/2). ở bài thơ này, trong 30 dòng thơ, có 6 dòng xuất hiện nhịp biến 3/3 và
3/3/2 (trong thể lục bát, nhịp lẻ được coi là nhịp biến):
- Thân gầy guộc / lá mong manh
- Có gì đâu / có gì đâu
- Năm qua đi / tháng qua đi
- Chuyện ngày xƣa / đã có bờ / tre xanh
- Mỡ màu ít / chắt dồn lâu / hóa nhiều
- Cây kham khổ / vẫn hát ru / lá cành
Về tổng thể, bài thơ có xu hướng sử dụng nhạc điệu của ca dao. Vì vậy, khi
nhịp biến xuất hiện (theo lối cân xứng 3/3 và không cân xứng 3/3/2) dòng thơ trở
nên rắn rỏi, bùng phát, tạo được ấn tượng mạnh trong lòng người đọc, người nghe.
Lời tự vấn mở đầu bài thơ khiến người nghe ngỡ ngàng mà nhận ra rằng một điều
tưởng như bình dị và hiển nhiên như thế nhưng đến nay ta dường như vẫn chưa hề
hay biết:
Tre xanh
20

Xanh tự bao giờ?
Rồi dòng suy tưởng kéo ta vào chiều sâu ý tứ của bài thơ:


tương đồng với rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Mƣa lâu thấm đất; Năng nhặt
chặt bị; (đình/cầu ) bao nhiêu (ngói/nhịp) (thƣơng mình) bấy nhiêu
Những lời nói cửa miệng dân gian (ca dao, tục ngữ, thành ngữ) xuất hiện một
cách tự nhiên làm cho câu thơ lục bát quyện hòa hai sắc thái: tính triết lí nhân sinh
(trong cảm hứng của tục ngữ, thành ngữ) và chất trữ tình đằm thắm (trong thi hứng
của giai điệu ca dao). Nếu thiết lập quan hệ liên tưởng giữa câu thơ lục bát trong
bài với ngôn từ dân gian ta sẽ thấy một hiện tượng tương đồng, tương sinh:
Thành ngữ: Lá lành đùm lá rách; chị ngã em nâng
Câu thơ lục bát: Bão bùng thân bọc lấy thân - Tay ôm tay níu tre gần nhau
thêm
Ca dao, tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non ; Ba ngƣời dại hợp lại thành
một ngƣời khôn
Câu thơ lục bát: Thƣơng nhau tre không ở riêng - Lũy thành từ đó mà nên hỡi
ngƣời
Thành ngữ: Nhƣờng cơm sẻ áo; một nắng hai sƣơng
Câu thơ lục bát: Lƣng trần phơi nắng phơi sƣơng - Có manh áo cộc tre
nhƣờng cho con
Thành ngữ, tục ngữ: Giỏ nhà ai quai nhà nấy; cha nào con nấy
Câu thơ lục bát: Măng non là búp măng non - Đã mang dáng thẳng thân tròn
của tre
Kết thúc tứ thơ là một thành ngữ nguyên dạng (chứng tỏ quan hệ liên tưởng
giữa lục bát và ca dao trong bài thơ là có thực) được bố trí song hành với vế đầu
câu thơ mang chức năng gợi mở vấn đề: Năm qua đi tháng qua đi - Tre già măng
mọc có gì lạ đâu. Cấu trúc ngữ nghĩa theo hướng này thể hiện rõ nét kiểu tƣ duy
triết luận của một xu hướng mới trong thi ca hiện đại. Câu thơ đã đạt đến độ hoàn
mĩ cao: sự biến nhịp thể loại được cộng hưởng bởi nghĩa của từ (năm tháng ) tạo
ra ý nghĩa liệt kê tăng cấp. Năm qua đi rồi tháng qua đi, thời gian vĩnh hằng trong
sự vận động tuần hoàn kéo theo sự vĩnh hằng của tre, để Mai sau / Mai sau / Mai


ngữ trong các thể thơ và quy luật vận động tạo thể trong quá trình sáng tác của nhà
thơ. Trong chuyên luận Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã nói về trƣờng nét dƣ
của mỗi câu thơ và cơ chế ngâm thơ. Phát hiện này cho phép ta hiểu được cách
23

thức vận động của ngôn ngữ trong quá trình hình thành đặc trưng thể loại. Dựa vào
những biểu hiện về ngữ đoạn được đánh dấu bằng hiện tượng gieo vần, Nguyễn
Phan Cảnh cho rằng vận động tạo vần chính là khâu cơ bản nhất của quá trình
hình thành thể thơ. Mỗi thể thơ có một kiểu gieo vần (trong những ngữ đoạn ngắn/
dài) đặc trưng. Nhưng không phải vận động tạo vần đẻ ra thể thơ một cách cơ học,
mà hai quá trình này diễn ra đồng thời. Chúng ta có thể nhận diện ra một thể thơ
khi căn cứ vào các dấu hiệu vần điệu. Tuy nhiên một số trường hợp việc nhận diện
thể thơ qua vần lại gặp rất nhiều khó khăn. Trong bài Tiếng chổi tre của Tố Hữu
(Những đêm hè/ Khi ve ve/ Đã ngủ/ Tôi lắng nghe/ Trên đƣờng Trần Phú/ Tiếng
chổi tre/ Xao xác/ Hàng me ), Nếu chấp nhận vần lưng thì văn bản thơ sẽ là:
Những đêm hè khi ve ve đã ngủ/ Tôi lắng nghe trên đƣờng Trần Phú/ Tiếng chổi
tre xao xác hàng me Như vậy, trong sáng tác thi ca, thể thơ hình thành không
phải như một "sự chọn lọc tự nhiên", mà là sự vận động của các quan hệ nội tại
trong những cấu trúc ngôn ngữ dưới sự điều khiển của tâm thức văn hóa - ngôn ngữ
cộng đồng.
Trong tiếng Việt, quá trình vận động tạo thơ đã hình thành nên các thể thơ 2
tiếng cho đến 12 tiếng. Mặc dù trước đó có văn biền ngẫu song thơ văn xuôi không
trở nên phổ biến. Những thể thơ quen thuộc với người Việt là lục bát, song thất lục
bát, 5 tiếng, 7 tiếng. Cơ chế biểu đạt của một văn bản thơ khác xa với cơ chế biểu
đạt của một văn bản văn xuôi. Các đơn vị trên trục ngữ đoạn có tính độc lập cao và
tự nó đối lập với các yếu tố đồng loại trên trục lựa chọn để tạo ra giá trị. Chính vai
trò ưu thế của quan hệ ngữ đoạn đã làm cho ngôn ngữ văn xuôi chỉ thuần túy mang

Tóm lại, sự vận động tạo thể trong ngôn ngữ thơ vừa phụ thuộc vào sự chi
phối của hai loại quan hệ khách quan của ngôn ngữ (quan hệ ngữ đoạn và quan hệ
liên tưởng), vừa phụ thuộc vào cảm thức nhạc điệu của tác giả. Mỗi thể thơ với bản
thể của mình đều tồn tại trong một giới hạn ngữ âm-ngữ nghĩa nhất định.
Mỗi dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn với những thể thơ nhất định.
Thơ tiếng Việt có thể 2 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, lục bát, song thất lục
bát, 8 tiếng, thơ tự do, thơ văn xuôi Sáng tạo một bài thơ theo một thể nào đấy
phần lớn bắt nguồn từ cảm thức ngôn ngữ. Quá trình này vừa phụ thuộc vào tâm lí
lứa tuổi, vốn văn hóa, vừa phụ thuộc vào năng lực tư duy nghệ thuật. Khi vốn văn
hóa trở nên thứ yếu và yếu tố tâm lí đóng vai trò hướng đạo thì thơ thường nghiêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status