Lời nói đầu
Nữ sỹ Xuân Quỳnh là gơng mặt thơ tiêu biểu cho những
cây bút nữ có sức sáng tạo dồi dào của nền thơ ca Việt Nam hiện
đại.
Mặc dù nghệ thuật sáng tạo ch a phải là nhiều, nhng những
gì chị để lại trong tác phẩm của mình đã thực sự làm rung động
tâm hồn độc giả nhiều thế hệ bởi những trăn trở, suy t về cuôc
đời, những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc, tình yêu.
Đi sâu và tìm hiểu, nghiên cứu những tình cảm và khát
đó thông qua: "Một số đặc trng ngôn ngữ thơ Xuân
vọng
Quỳnh" là một việc làm phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian nh ng
cũng rất thú vị, bổ ích. Song vì thời gian có hạn, vì những hạn
chế của bản thân mặc dù đã cố gắng nhiều nh ng trong bớc đầu
nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế.
Khóa luận này mong đợc đóng góp một phần nhỏ bé vào
việc nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh để thấy đ ợc sự cống hiến của
nhà thơ cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Hồ Thị Mai ng ời
trực tiếp hớng dẫn khoa học. Các thầy giáo đã trực tiếp giảng
dạy, góp ý chỉ bảo cho luận văn này, các bạn bè đồng nghiệp đã
ủng hộ, khích lệ tạo điều kiện giúp đỡ để luận văn này hoàn
thành.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Vinh, tháng 5 năm 2005
Tác giả
Trơng Thị Hiền
6
6. Cái mới của đề tài.
6
7. Cấu trúc của khóa luận.
7
Chơng 1: Đặc trng từ ngữ trong thơ
Xuân Quỳnh.
8
1.1. Từ ngữ chỉ màu sắc.
8
1.1.1. Màu xanh.
9
1.1.2. Màu trắng.
11
1.1.3. Màu vàng.
13
32
1.3.2. ẩn dụ hoa.
36
2
1.3.3. ẩn dụ "Cỏ và Cát".
41
1.3.4. ẩn dụ về con đờng.
46
1.3.5. ẩn dụ "thuyền và biển".
48
Chơng 2 . Đặc trng câu thơ Xuân Quỳnh.
2.1. Đặc trng thể thơ.
53
53
2.1.1. Thơ lục bát.
53
65
Phần kết luận.
68
Tài liệu tham khảo.
71
3
Mở đầu
1. lý do chọn đề tài.
1.1. Xuân Quỳnh là gơng mặt tiêu biểu của nền thơ Việt
Nam hiện đại, là tác giả có phong cách riêng trong sáng tạo
nghệ thuật. Với những nét độc đáo đó Xuân Quỳnh đã và đang
thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu - phê bình văn học.
1.2. Cho đến nay ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh vẫn là một vấn
đề bỏ ngỏ. Cha có tác giả nào nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh một
cách trực diện.
1.3. Gần đây thơ Xuân Quỳnh đợc đa vào giảng dạy ở trờng
phổ thông. Vì vậy việc nghiên cứu cũng nh những phơng diện
khác của thơ Xuân Quỳnh đ ợc đặt ra nh một nhu cầu cấp thiết.
Vì những lý do trên đây chúng tôi chọn đề tài "Một số đặc tr ng
ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh" cho khóa luận của mình.
2. Lịch sử vấn đề .
Xuân Quỳnh
Từ ngữ là sự lựa chọn đầu tiên về mặt ngôn ngữ của ng ời
nghệ sỹ khi sáng tác văn học. Dấu ấn phong cách của ng ời nghệ
sỹ vì thế trớc hết in đậm lên thế giới từ ngữ mà anh ta sử dụng.
Từ quy luật sáng tạo đó, trong hành trình tìm kiếm đặc tr ng
ngôn ngữ của một tác giả văn học chúng ta không thể không bắt
đầu từ việc khảo sát từ ngữ. Xuân Quỳnh không nằm ngoài thông
lệ đó. Chị đã để lại dấu ấn rất rõ trong vốn từ ngữ mà mình sử
dụng. Trong chơng này chúng tôi sẽ lần l ợt nêu rõ những đặc trng từ ngữ của thơ chị. Hi vọng rằng công việc này sẽ giúp chúng
ta "mở cánh cửa" để bớc vào thế giới nghệ thuật thơ Xuân
Quỳnh.
1.1. Từ ngữ chỉ mầu sắc.
Xuân Quỳnh là nhà thơ rất thích màu sắc, có lẽ những cảm
nhận đầu tiên của chị về cuộc sống là ở sắc màu của nó. Trong
thơ chị màu sắc hết sức phong phú. Đó là những màu có trong
thực tế: xanh, trắng, vàng, tím... Những màu sắc này đ ợc chị
khoác lên thiên nhiên tạo vật. Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ
màu sắc trong thơ Xuân Quỳnh chính vì vậy mà rất cao. Trong
số 47 bài thơ đã khảo sát có đến 103 lần chị dùng từ ngữ chỉ
màu sắc. Cũng chính vì đặc tr ng này mà ngời ta nói rằng trong
thơ Xuân Quỳnh có " họa". Mỗi sắc màu đều đ ợc chị sử dụng với
nhiều dụng ý nghệ thuật khác nhau. Thật thú vị biết bao khi đ ợc
chiêm ngỡng những sắc màu ấy trong thơ chị.
1.1.1. Màu xanh.
Đây là màu Xuân Quỳnh a dùng nhất (30 lần /47 bài), màu
xanh ấy trớc hết là màu của cỏ cây của thiên nhiên đất trời tạo
vật. Đó là màu xanh của "chồi biếc".
"Nh lá vàng rụng
tuy vu vơ tởng nh vô nghĩa lí mà sự ng ợc đời ấy lại là một câu
hỏi của hàng loạt vấn đề sẽ diễn tả sau nó một cách chân thực
nỗi lòng của thi nhân.
"Hoa cúc xanh có hay là không có" đựơc lặp lại tới ba lần
trong bài thơ. Nghe ra tởng vô lý, bởi hoa cúc th ờng là màu
vàng, nhng màu xanh ấy "Có hay là không có?".
"Anh đã nghĩ chắc là hoa đã có
9
Mọc xanh đầy thung lũng của ta x a"
(Hoa cúc xanh)
Đó mới là màu xanh của hi vọng, của mong ớc lớn mai sau.
Tóm lại, màu xanh đối với Xuân Quỳnh là bảng màu đặc tr ng a nhìn, màu xanh ấy không chỉ là màu xanh của cỏ cây, thiên
nhiên tạo vật mà còn là màu của hi vọng lớn, của ớc mơ lớn mà
mỗi ai khi đến với thơ Xuân Quỳnh đều sẽ tìm đ ợc cho mình một
sự đồng cảm, một tâm hồn yêu đời yêu cuộc sống đến cháy lòng
nh chị vậy.
1.1.2. Màu trắng.
Trong các bảng màu, màu trắng cũng là màu Xuân Quỳnh a
thích. Với chị màu trắng tr ớc hết đợc dùng để chỉ thế giới thực
tại. Đó là màu rất đẹp của lông con gà mái tơ.
"Này con gà mái tơ
Khắp mình hoa đốm trắng"
(Tiếng gà tra)
Đó là màu trắng của gió Lào cát trắng:
"Ngọn gió Lào cát trắng của đời tôi"
(Gió Lào cát trắng)
Đó là màu trắng của mây:
"Cuối trời mây trắng bay"
Nắng đùa mái tóc
Chồi biếc trên cây
Lá vàng bay bay
Nh ngàn cánh bớm
Lá vàng rụng xuống
Cho đất thêm màu"
(Chồi biếc)
Màu vàng của lá rụng mỗi độ thu về để nh ờng chỗ cho chồi
non đơm sắc biếc. Màu vàng lá rụng hay màu của thời gian phai
sắc, tất cả là nét đặc tr ng của mùa thu vàng.
Màu vàng ấy còn là màu lông vàng của chú gà, của con cua
"Này con gà mái vàng
Lông óng nh màu nắng"
12
(Tiếng gà tra)
Hay:
"Con cua chín vàng mai
ẩn vào trong cụm lúa"
Đó còn là màu vàng rất đặc tr ng của hoa diếp ta vẫn thấy:
"Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u"
(Hoa dại núi Hoàng Liên)
Nhng có lẽ cũng nh bao ngời, mùa thu luôn gắn với sắc vàng
của hoa cúc.
"Bao mùa thu hoa vẫn vàng nh thế
Chỉ em là đã khác với em x a
Nắng nhạt vàng ngày đã quá tr a
...
Gơng mặt ấy, lời yêu thủa ấy
"Tiếng gà tra
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
...
Vì tiếng gà cục tác
ổ trứng hồng tuổi thơ"
(Tiếng gà tra)
Màu hồng ấy còn là màu của nắng.
"Nắng hồng cho màu áo khô
Bông hoa cúc biển mùa thu nở rồi"
(Tình ca trong lòng vịnh)
Màu hồng của nô nức hoa đào.
"Rồi hoa đào lại tơi hồng nô nức"
(Lại bắt đầu)
Với màu đen, quan niệm chung của truyền thống coi nó là
màu tiêu cực, màu xấu (về cả nghĩa đen và nghĩa bóng) vì vậy dễ
bị phủ định. Xuân Quỳnh vẫn nằm trong qui luật này Xuân
15
Quỳnh vẫn dùng nguyên khối từ gốc chỉ màu đen đã có sẵn trong
tiếng Việt.
Trong số 47 bài thơ khảo sát chỉ có 4 lần màu đen xuất
hiện(chiếm 3,93%) tổng số từ chỉ màu sắc trong thơ của chị.
"ở chân trời sấm chớp rồi kìa
Mây đen đến, gió xanh mặt biển"
(Cơn ma không phải của mình)
"Trời sinh ra trớc nhất
Chỉ toàn là trẻ con
đủ hoặc thiếu vắng một yếu tố nào đó. Có lúc vắng cơ sở (so
sánh chìm).
Ví dụ:
Trẻ em nh bút trên cành
(Hồ Chí Minh)
Cũng có lúc vắng từ so sánh (so sánh đối chọi)
Ví dụ:
Gái thơng chồng đơng đông buổi chợ
Trai thơng vợ nắng quái chiều hôm
(Ca dao)
Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh lôgic. Hai yếu tố
yếu tố A và B của so sánh tu từ khác loại còn của so sánh lôgic
cùng loại.
17
Ví dụ:
Tuổi bố
nhiều
hơn
A
Cơ sở so sánh
(Tháng năm)
"Tình ta nh hàng cây
Đã qua mùa bão gió,
Tình ta nh dòng sông
Đã yên lòng thác lũ"
18
(Thơ tình cuối mùa thu)
Nhìn chung hiệu quả so sánh tu từ th ờng gắn với cấu trúc
của nó. Muốn tìm hiểu chức năng, hiệu qủa của biện pháp nghệ
thuật này trớc hết phaỉ bắt đầu từ kiểu cấu trúc của nó.
1.2.2. So sanh ngang bằng
Đây là kiểu so sánh truyền thống giữa A và B th ờng có các
từ so sánh: nh, bằng, tựa ... Kiểu so sánh này đ ợc Xuân Quỳnh
sử dụng với tần số xuất hiện t ơng đối cao (48 lần/47 bài)
Thứ
tự bài
1
Tên bài
Số
So sánh ngang bằng
Chồi biếc
lần
1
Nh biển kia dẫu rộng
4
Tháng năm
5
Gió Lào
6
cát trắng
Tuổi thơ
của con
5
6
7
Mây vẫn bay về xa
Ngày dài nh nỗi nhớ
Tình yêu nh tháng năm
Cỏ mặt trời lăn nh bánh xe
8
9
Quả tim nh cái đồng hồ
Chiến hào mặt đất dọc ngang
9
gái khác
Cơn ma
12
không phải
10
của mình
Em có
Bốn xung quanh chỉ toàn n ớc mặn
Dới chân ngời cát bỏng nh rang
13
Vờn hoa trẻ nh thở mời sáu tuổi
14
Ngày mai cây lúa lên đòng
15
Lại xanh nh đã từng không mất mùa
Hình nh lửa đã tắt rồi
16
rét
Lời ru trên
18
Đến nay là nét mặt hồ G ơm
19
Vừa xanh đấy nh lòng ngời dễ hiểu
Đây dòng sữa trắng nh ngà
20
Dẫu thôi hạc sạ, dẫu sa cửa hầm
Bốn phơng đâu cũng quê nhà
21
Nh con tàu với những ga dọc đ ờng
Cỏ bờ đê rất là
22
Xanh nh là chim bao
Và con đờng tích tắc
23
Bỗng nh lên tiếng hát
26
trong lòng
18
vịnh
Màu hoa
Vịnh xanh nh buổi ban đầu tình yêu
27
Chỉ còn lại màu hoa rất trắng
28
29
Nh ban đầu miền đất mới khai sinh
Cỏ xanh rời nh tiếng hát lan xa
Bài hát vẫn dạt dào nh sóng vỗ
30
31
Tình yêu nào cũng tha thiết nh nhau
Chỉ chú thời gian từng phút từng giờ.
32
33
Nh kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Lời yêu mỏng manh nh lời khói
Rồi hoa đào lại tơi hồng nô nức
43
Nh cha hề biết đến tàn phai.
Trái mùa thu chín vội tr ớc khi xa nh
44
ngọn lửa bùng lên rạng rỡ
Gơng mặt ngời nhột nhạt nh nhau
còn lại
19
Ngọn lữa
20
tuổi thơ
Có một
thời nh thế
21
22
Cố Đô
Và quần áo một màu xanh úa cũ.
21
28
Nói cùng
45
Chẳng có gì quan trọng lắm đâu anh
46
Nh không khí, nh màu xanh lá cỏ.
Nhng lúc này anh ở bên em
anh
Niềm vui sớng trong ta là có thật
Nh chiếc áo trên tờng nh trang sách
29
Con của
30
mẹ
Mùa xuân
mừng con
(Hoa tờng vi)
22
Trật tự giữa các vế A, B trong thơ Xuân Quỳnh
gần nh
không bao giờ đảo. Đó là trật tự bình th ờng, trật tự thuần. Bởi lẽ
chị không thích đi ngợc truyền thống trong cách diễn đạt, không
thích kiểu cách, màu mè. Chị chỉ muốn tạo ra cho ngôn ngữ thơ
mình một cách diễn đạt dân dã giản dị, dễ hiểu. Cái cần đ ợc
nhận thức (A) bao giờ cũng đ ợc đặt trớc cái so sánh (B).
Ví dụ: Buổi chiều này
sặc sỡ
nh
A
cơ sở so sánh
Hay : ánh mắt nhìn
nh
A
thêu
23
(A) ở đây là "Tình yêu " còn (B) là "Tháng năm". Câu thơ
sau đó tiếp tục nói về B. Tình yêu không phải là tháng năm nhạt
nhẽo không hơng sắc mà những ngày tháng "nồng ấm" lửa yêu
thơng. Trong bài "Hoa cỏ may" Xuân Quỳnh cũng sử dụng cấu
trúc so sánh này để diễn tả cảm xúc của mình tr ớc thiên nhiên tơi đẹp.
Mây trắng bay đi cùng với gió
Lòng
nh
trời biếc lúc nguyên sơ
A
từ so sánh
B
(Hoa cỏ may)
Vế B trong so sánh của Xuân Quỳnh, chính vì đặc điểm này
mà bao giờ cũng lớn hơn A về dung l ợng câu chữ. ấn tợng dễ
hiểu, giàu sắc thái cụ thể của ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh có đ ợc
cũng là nhờ đặc điểm này.
Khi nào không miêu tả kỷ B Xuân Quỳnh lại dùng nhiều B
để so sánh với A. Đây cũng là cách để chị nói hết đ ợc những
cảm xúc, những suy nghĩ chất chứa trong lòng mình. Để diễn tả
việc lựa chọn từ so sánh và cái so sánh. Song nhìn chung cái so
sánh của chị rất truyền thống.
1.2.3. So sánh đồng nhất . (A là B)
So sánh đồng nhất dùng từ "là" để nối kết hai vế A và B. Từ
"là" có giá trị t ơng đơng với "nh" nhng có sắc thái khẳng định.
Còn "nh" mang sắc thái giả định.
Ví dụ:
"Nhân dân là bể
Văn nghệ là thuyền"
(Tố Hữu - Việt Bắc)
Dùng so sánh đồng nhất Tố Hữu đã khẳng định mối quan hệ
gắn bó giữa nhân dân và văn nghệ qua hình ảnh thuyền - bể.
Trong sáng tác thơ ca Xuân Quỳnh cũng th ờng dùng so sánh
đồng nhất (13 lần/47 bài).
Thứ
tự bài
1
Tên bài
Số
Tháng năm
lần
1
So sánh ngang bằng