Nghiên cứu tự do hoá ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX (trên tư liệu các tập thơ của một số tác giả) - Pdf 12


Đại học Quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học Khoa học X hội và Nhân văn Luận án đợc hoàn thành tại:
Khoa Ngôn ngữ học
Trờng Đại học Khoa học X hội và Nhân văn
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS. Đinh Văn Đức
Phản biện 1: GS.TS. Đỗ Thị Kim Liên Phản biện 2: GS.TS. Mai Ngọc Chừ Phản biện 3: PGS.TS. Hà Quang Năng Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà
nớc họp tại Khoa Ngôn ngữ học, Trờng Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn
Vào hồi giờ ngày tháng năm


trang 410 đến trang 415.
7. Nguyễn Thị Phơng Thùy (2005) Một vài nét về sự chuyển biến và cách
tân của cấu trúc thơ từ 1945 đến 1975 trên t liệu thơ của một số nhà
thơ-nhà giáo, bài gửi đăng Tạp chí Ngôn ngữ, số tháng 11, từ trang 53
đến trang 67. .
8. Nguyễn Thị Phơng Thùy (2006) Sự cách tân cấu trúc của thơ Việt Nam
hiện đại (trên t liệu phân tích chùm thơ 3 bài của Nguyễn Trọng Hoàn),
Tạp chí Ngôn ngữ, số tháng 11, từ trang 66 đến trang 74.
9. Nguyễn Thị Phơng Thùy (2007) Phân tích bài thơ Trăng vàng trăng
ngọc (trong tập Đau thơng) của Hàn Mặc Tử từ góc độ ngôn ngữ học,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, từ trang 55 đến trang 60.
10. Nguyễn Thị Phơng Thùy (2007) Phân tích nhịp điệu trong một bài thơ
và các khả năng ngắt nhịp trong một câu thơ ở giai đoạn kháng chiến
chống Pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Những vấn đề Ngôn ngữ học:
Học tập ngôn ngữ Hồ Chí Minh- tiếng Hà nội với ngôn ngữ văn hóa Việt
Nam, từ trang 362 đến trang 375. 1
mở đầu
1. Mục đích nghiên cứu của luận án
1.1. Thơ Việt Nam trớc thế kỉ XX chịu ảnh hởng nhiều của luật thơ truyền
thống, nhất là thơ Đờng (Trung Quốc) nên tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt. Thơ
Việt trong thế kỉ XX, từ phong trào thơ Mới đến nay đã phát triển theo nhiều khuynh
hớng khác nhau, tuyệt đại bộ phận các thể loại thơ đã đợc tự do hóa.
1.2. Ngôn ngữ là chất liệu hình thức của thơ nên sự tự do hóa thơ gắn liền với sự
hiện đại hóa ngôn ngữ thơ. Vì thế, việc nghiên cứu sự tự do hóa, hiện đại hóa hình
thức thơ gắn liền với sự đổi mới nội dung thơ sẽ giúp chúng ta thấy đợc mối quan hệ
qua lại giữa hình thức và nội dung một cách biện chứng, khách quan hơn. Nói khác đi
là: việc nghiên cứu sự cách tân về ngôn ngữ thơ sẽ góp phần chỉ rõ sự cách tân về t

hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhng đồng thời cũng đặt việc
nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ trong mối tơng quan với thi pháp học ngôn ngữ
thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ Từ đó có một cách
tiếp cận thơ theo hớng ngôn ngữ học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này đợc thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
3.1. Làm rõ khái niệm tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt trong thế kỉ XX.
3.2. Miêu tả những biến đổi theo hớng tự do hóa trên cứ liệu các tập thơ cụ thể của
một số tác giả, nghiên cứu chi tiết sự tự do hóa trong các thể thơ ở các cấp độ bài,
khổ, câu. Từ đó mà tìm ra sự khu biệt của thơ mới với thơ cũ, thấy đợc sự biến đổi
của ngôn ngữ thơ Việt qua các giai đoạn.
3.3. Bình luận (nhận xét, đánh giá) về quá trình biến đổi, những đặc điểm trong sự
biến đổi cấu trúc thơ.
3.4. Tìm ra sự cách tân về ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ tác phẩm thơ đồng thời dự
báo khuynh hớng phát triển, biến đổi của ngôn ngữ thơ tiếng Việt sau này.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài đợc thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc quy nạp, trên cơ sở thu thập, thống
kê, phân tích, xử lý, so sánh t liệu mà tìm ra sự biến đổi, quá trình tự do hóa của
ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX. Từ đó, đề tài bàn luận và đa ra những
kết luận đánh giá chung về vấn đề đợc nghiên cứu.
Đề tài đợc thực hiện trên cơ sở một số phơng pháp sau:
4.1. Phơng pháp mô tả: mô tả và phân tích mô hình các bài thơ, phép đối thanh,
gieo vần, niêm trong khổ thơ, khả năng ngắt nhịp câu thơ
4.2. Phơng pháp phân tích diễn ngôn: nghiên cứu thơ trong mối liên hệ đa chiều
với ngữ cảnh, môi trờng giao tiếp, tác giả, độc giả
4.3. Phơng pháp phân tích theo lí luận thi học của Roman Jakobson [191] để tìm
hiểu 6 chức năng cơ bản của thơ: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp
xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động trong thơ
tiếng Việt của một số tác giả đợc chọn.
4.4. Phơng pháp thống kê định lợng: số lợng mô hình bài, khổ, cách gieo vần,

động lực của sự biến đổi ngôn ngữ thơ; sự biến đổi ngôn ngữ thơ ở 3 cấp độ: bài thơ,
khổ thơ, câu thơ và hệ quả của nó; đặc điểm phong cách thơ của một số tác giả.
6.1.2. Luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề lý luận về phong cách
học tiếng Việt, làm rõ lịch sử ngôn ngữ văn học Việt Nam trong thế kỷ XX: sự cách tân
về hình thức nhằm đáp ứng sự phát triển về t tởng và phục vụ sự đổi mới về nội
dung;
6.2. Về giá trị thực tiễn:
6.2.1. Đề tài này sẽ có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn
học Việt Nam, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ thơ với lối tiếp cận ngôn ngữ học.
6.2.2. Đề tài sẽ có đóng góp vào việc tìm kiếm và đổi mới cách dạy môn văn cho
ngời Việt ở các bậc đào tạo khác nhau (phổ thông trung học, đại học, sau đại học).
6.2.3. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đợc sử dụng trong việc giảng dạy và
biên soạn giáo trình về ngôn ngữ thơ bậc đại học và sau đại học.
7. Dung lợng và bố cục của luận án.
Luận án gồm 199 trang chính văn, 3 trang mục lục, 3 trang chú thích, 19 trang
th mục tài liệu tham khảo gồm 294 đầu mục với 122 sách tiếng Việt, 22 sách tiếng

4
Anh, 152 bài tạp chí và phần phụ lục 50 trang với 23 bảng thống kê số liệu cùng 35
biểu đồ về sự phân bố tỉ lệ thống kê.
Phần chính văn, ngoài mở đầu, kết luận thì nội dung gồm 4 chơng là:
Chơng 1. Cơ sở lý thuyết: những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung luận án.
Chơng 2. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ bài thơ.
Chơng 3. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ khổ thơ.
Chơng 4. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ câu thơ.

Nội dung chính của luận án
Chơng 1. Cơ sở lý thuyết:
Những vấn đề liên quan đến nội dung luận án
Chơng 1 trình bày nhận thức về thơ, khái niệm thơ tự do, sự tự do hóa thơ và tự

Nguyễn Xuân Kínhcủa Việt Nam) và quan niệm về thơ theo cách nhìn của các nhà
ngôn ngữ học (R.Jakobson, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hữu Đạt, Mai
Ngọc Chừ, Bùi Công Hùng).
Theo Hữu Đạt trong [32, tr.25] thì: Thơ là một thể loại của văn học đợc trình
bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và
các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và
khái quát nhất, dới dạng các hình tợng nghệ thuật.
Bùi Công Hùng trong [65] khẳng định thơ quan trọng về vần và điệu, trong đó
điệu chính là cách tổ chức, hòa phối ngữ âm.
1.1.2. Nhận thức của tác giả luận án
Có thể tập hợp các định nghĩa về thơ theo 3 khuynh hớng chính. Thứ nhất là
những định nghĩa thiên về mặt hình thức của thơ. Thứ hai là những định nghĩa thiên
về mặt nội dung của thơ. Thứ ba là những định nghĩa chú ý đến cả hai mặt nội dung
và hình thức của thơ. Luận án ủng hộ khuynh hớng thứ ba coi thơ là phải đảm bảo cả
về mặt nội dung và mặt hình thức. Hình thức của thơ phải đạt đến độ tơng xứng để
ngời ta có thể nhận biết, phân biệt thơ với các thể loại không phải là thơ. Đồng thời,
hình thức đó phải truyền tải đợc nội dung, nghĩa lý của thơ. Hình thức và nội dung
thơ- hai mặt này không thể thiếu trong thơ, luôn có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau theo tính
chất tơng tác hai chiều. Luận án tán thành định nghĩa về thơ của Bạch C Dị, Mã
Giang Lân, Hữu Đạt để tiến đến những vấn đề cụ thể hơn liên quan tới ngôn ngữ thơ
nh ý thơ, tứ thơ, bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
1.2. Nhận thức về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ
1.2.1. Khái niệm thơ tự do
Bàn luận về thơ tự do, có rất nhiều ý kiến khác nhau, và đều có tính hợp lý của
nó. Luận án này cho rằng, cái đợc gọi là thơ tự do có thể hiểu theo nghĩa rộng và
nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp thì thơ tự do đợc viết theo cách bỏ hết vần, chỉ giữ lại âm
điệu, âm hởng thơ) (Mã Giang Lân trong [79, tr 273->274]. Theo nghĩa rộng, có thể
hiểu thơ tự do theo hớng linh hoạt hơn, thể hiện trong một số ý kiến của Phan Hạo
Nhiên hay Thanh Thảo.
1.2.2. Sự tự do hóa thơ và tự do hoá ngôn ngữ thơ

án quan tâm về sự tự do hóa ở 3 cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ; tự do hóa về thể loại,
cấu trúc, trật tự kết hợp
Thơ theo thể truyền thống là thơ đợc làm theo cách của một số thể thơ Trung
Quốc nh Đờng thi và Cổ phong, cụ thể là tứ tuyệt, thất ngôn, bát cú hoặc đợc
làm theo cách của một số thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam nh lục bát,
song thất lục bát.
Cách tân có thể đợc hiểu là cách làm mới. Thơ đợc cách tân là thơ đợc sáng
tạo theo cách mới. Ví dụ: làm thơ không theo niêm luật, không theo quy cách của thơ
cũ, làm thơ mà bỏ vần, tạo ra những cách diễn đạt mới trong thơ (VD: thơ giàu ngôn
ngữ tự sự, trần thuật hoặc đối thoại), tạo ra các loại cấu trúc, bố cục mới
Sự tự do hóa mà luận án bàn đến gắn liền với sự hiện đại hóa. Thơ hiện đại hoá
đợc là nhờ có sự tự do hóa: thơ chứa đựng nhiều t tởng mới. Ngôn ngữ thơ đợc
hiện đại hóa theo mô hình tam phân: t duy thơ, nghệ thuật/ thi pháp thơ và ngôn ngữ
thơ đợc phản ánh từ phía công chúng. Chính sự hỗ trợ từ phía công chúng đã khẳng
định giá trị của thơ: thơ đợc công chúng chấp nhận hay không chấp nhận. Sự hiện

7
đại hóa ngôn ngữ thơ gắn liền với việc đổi mới và nâng cao chất lợng thơ. Đồng thời,
sự hiện đại hóa thơ đợc đánh giá đa chiều, đó là: t duy thơ đợc thể hiện trong ngôn
ngữ với một thi pháp mới. Chính việc tổ chức ngôn ngữ thơ là nhằm thể hiện đợc t
duy thơ. Theo quan điểm của luận án thì thơ Việt Nam giai đoạn 1956 ở miền Bắc có
thể đợc coi là một giai đoạn tìm tòi hình thức thể hiện mới chứ không phải là một sự
tự do hóa về thơ nh ở giai đoạn thơ Mới 1932-1945 và giai đoạn thơ Việt Nam sau
năm 1975 với nhiều hình thức, thể loại thơ theo các khuynh hớng khác nhau. Luận
án đa ra ý kiến của một số nhà thơ, nhà phê bình lý luận về thơ Việt Nam các giai
đoạn khác nhau để có thể chọn lựa và có cách tiếp cận vấn đề một cách rõ ràng sau
khi so sánh các góc nhìn, các quan điểm, nhận định khác nhau về một vấn đề.
1.3. ý thơ và tứ thơ
ý thơ là khái niệm rút ra từ cuộc sống. Tứ thơ là cách thể hiện ý, là kết quả của
kiểu t duy hình tợng trong thơ.

1.5. Những cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu thơ
1.5.1. Hớng nghiên cứu thi pháp học và theo lý thuyết hệ thống và cấu trúc
Luận án đợc thực hiện theo phơng pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học, đồng
thời cũng vận dụng thi pháp học (thi học) và lý thuyết về tính hệ thống và cấu trúc. Vì
thế, luận án này sẽ lấy một số quan điểm sau đây để làm cơ sở lý luận:
1.5.1.1. Quan niệm về hệ thống, cấu trúc của Ferdinand De Saussure trong
giáo trình Ngôn ngữ học đại cơng
1.5.1.2. Quan niệm về ngôn ngữ học và thi học của Roman Jakobson trong
[191, tr.51->58
Roman Jakobson khẳng định rằng ngôn ngữ phải đợc nghiên cứu trong tất cả
các chức năng khác nhau của nó và Trớc khi bắt tay vào nghiên cứu chức năng thi
ca, ta phải xác định xem vị trí của nó giữa các chức năng khác của ngôn ngữ nh thế
nào. Ông cho rằng những nhân tố hữu cơ khác nhau của việc giao tiếp ngôn ngữ có
thể đợc trình bày bởi lợc đồ:
Chu cảnh
Ngời gửiThông điệp Ngời nhận
Tiếp xúc

Theo ông thì mỗi nhân tố trong 6 nhân tố trên đều sinh ra một chức năng ngôn ngữ
khác nhau. Sáu chức năng cơ bản tơng ứng với các nhân tố đó là: chức năng thể hiện,
chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm,
chức năng tác động.
Điều khá quan trọng là ông đa ra ý kiến: Chức năng thi ca đem nguyên lý tơng
đơng của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp.. Việc sử dụng những phơng tiện
thi ca để phục vụ một ý định xa lạ đối với thi ca không thể che lấp cái bản chất
nguyên sơ của nó, cũng nh những yếu tố ngôn ngữ biểu cảm đợc sử dụng trong thi
ca không hề mất sắc thái biểu cảm của nó. Đặc biệt, ở phần kết luận, tác giả có một
nhận định rất quan trọng, một trong những cơ sở cho chúng tôi thực hiện luận án này:
Việc phân tích câu thơ hoàn toàn thuộc lĩnh vực thi học và thi học có thể đợc định
nghĩa là cái bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng thi ca trong mối quan

dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ [128]; David Nunan trong Dẫn nhập phân tích diễn
ngôn [94] cũng đợc vận dụng vào việc thực hiện luận án này.
1.6. Những lối nghiên cứu thơ từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam
Có nhiều lối nghiên cứu thơ từ truyền thống đến hiện đại ở Việt Nam. Trong đó,
các nhà nghiên cứu khai thác một số đặc điểm về thơ cũ và thơ mới, tiêu biểu là tác
giả Dơng Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1943), Bùi Văn Nguyên, Hà Minh
Đức (Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, 1971).

Chơng 2. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX
ở cấp độ bi thơ
Chơng này nghiên cứu theo trình tự: nêu kết quả khảo sát theo diện bằng
phơng pháp định lợng các loại bài thơ từ tập S1đến S6. Trên cơ sở các bảng thống
kê, luận án so sánh, đánh giá kết quả số liệu về thể thơ, về các mô hình bài thơ ở một
vài tác giả và theo giai đoạn. Sau đó, luận án trình bày kết quả khảo sát theo điểm
bằng phơng pháp định lợng và định tính về 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử, 50 bài thơ

10
đặc sắc của Chế Lan Viên, một số bài thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ 1945-
1975. Cuối chơng là tiểu kết.
2.1. Kết quả khảo sát theo diện bằng phơng pháp định lợng
Một trong những dấu hiệu đầu tiên để nhìn nhận sự đột phá của thơ Việt thế kỷ XX
là sự đa dạng hóa về thể loại thơ, khi bắt đầu xét ở cấp độ bài thơ.
Luận án lập bảng thống kê phân loại 514 bài/6 tập thơ rồi so sánh, đánh giá khái
quát số liệu về thể thơ, theo cột dọc và hàng ngang trong bảng, tiếp đó so sánh, đánh
giá các số liệu với nội dung cụ thể hơn nh các mô hình bài thơ tính theo khổ/bài và
câu/khổ.
2.1.1. Kết quả khảo sát, thống kê một số tập thơ
2.1.1.1. Trong Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ XX, luận án khảo sát 115 bài
thơ chọn ngẫu nhiên (giai đoạn 1900-1945: 68 bài thơ/49 mô hình; giai đoạn 1945-
2000: 50 bài thơ/43 mô hình).

1/514~0,2
%
4
chữ
0
1
1/7~14,29%
1
1/7~14,29%
0
3
3/7~42,86%
2
2/7~28,57%
7
7/514~1,3
6
5
chữ
7
7/37~18,92%
6
6/37~16,22%
7
7/37~18,92%
3
3/37~8,11%
6
6/37~16,22%
8

5/105
~4,76%
7
7/105
~6,67%
4
4/105
~3,81%
105
105/514
~20,43%
8
chữ
8
8/35~22,86%
1
1/35~2,86%
21
21/35=60%
3
3/35~8,57%
0
2
2/35~5,71%
35
35/514~6,8
1
Lục
bát
13

35/271~12,92
%
56
56/271~20,66
%
139
139/271~51,29
%
271
2
71/514~52,72%
Chủ
yếu
là 8
chữ
0 0 0
3
3/3=100%
0 0
3
3/514~0,58%
Chủ
yếu
là 9
chữ
0 0 0
1
1/1=100%
0 0
1

*Chất khẩu ngữ và tự sự trữ tình đợc sử dụng với mật độ dày đặc, biến đổi đột ngột
qua từng khổ thơ: vừa là lời rao đã chuyển sang lời mời, lời hỏi, chuyển sang phủ
định, giao hẹn, yêu cầu, đột ngột phủ định, giải thích, nhận xét, khuyên nhủ, dùng câu
hỏi tu từ để khẳng định, reo vui, kể chuyện, miêu tả; có lời vỗ về, an ủi, tâm sự, sẻ
chia, cầu nguyện
VD2: Về bài Non bộ của Chu Thị Thơm trong Tuyển thơ nhà thơ- nhà giáo.
Cũng mờ ảo khói sơng, cũng mịt mờ sóng nớc. Tự ru mình trong khoảng trống
thinh không. Quay tám hớng vẫn quay về một góc, giữa lùm xanh thấp thoáng bóng
tiên đồng.
Mênh mông quá một ánh nhìn h ảo, khi Phật Bà ban phớc khắp muôn nơi. Phép
nhiệm màu đựng trong bình nhỏ thế, đủ làm sao cho tất cả muôn ngời?
Nhà thơ có dụng ý rõ ràng khi viết các câu trong một khổ liền mạch. Về mặt hình
thức, dù có tính nhạc, câu thơ vẫn chảy trong khổ nh hình thức của câu văn vần chảy

12
trong đoạn. Phải chăng, cấu trúc bài thơ, khổ thơ, câu thơ nh ở VD2 phản ánh sự ảnh
hởng của dòng thơ dịch vào thơ Việt Nam.
2.3. Tiểu kết
Chơng 2 đặt ra việc xem xét sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ở cấp độ bài thơ và nhấn
mạnh vào sự chuyển biến và đa dạng hóa, sự phát triển theo khuynh hớng mở về mặt
thể loại thơ. Chính sự bùng nổ về mặt thể loại của thơ các giai đoạn (1900-1945,
1945-2000) và thơ của một số tác giả là một trong những minh chứng về sự tự do hóa
thơ.

Chơng 3. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỉ XX
ở cấp độ khổ thơ
Chơng 3 tập trung chủ yếu ở khổ thơ thể 7 chữ (so sánh với khổ thơ thể 8 chữ và
khổ thơ thể tự do) với các vấn đề: các loại khổ thơ (từ khổ 1 câu đến khổ nhiều câu),
luật đối, niêm, gieo vần trong khổ. Vấn đề các loại khổ thơ sẽ chỉ đợc trình bày ở
dạng khái quát nhất. Còn lại, chơng 3 đi sâu vào khai thác 3 vấn đề chính: đối thanh

B t B b B t t
Tài hoa tinh kết, ngọc long lanh
B b B t T b b (XD- DD, khổ 7, tr 49)
Hai câu thơ có sự phân bố thanh theo âm vực khá cân xứng: 5 thanh cao, 2 thanh
thấp. Tuy vậy, câu 1 có 4 thanh bằng/ 3 thanh trắc còn câu 2 có 5 thanh bằng/2 thanh
trắc. Vì thế, câu thứ nhất có không gian bổng, sôi động còn câu thứ hai có phần trầm
lắng hơn, êm đềm hơn. Tại các vị trí xét phép đối 2, 4, 6, 7 có sự phân bố khá đều về
âm vực, tạo ra thế đối bằng trắc ở cả 4 vị trí nhng chỉ tạo ra thế đối âm vực ở 2 vị trí
2, 4. Chính thế đối đó (tởng- trắc thấp/ hoa- bằng cao; đờng- bằng thấp/ kết- trắc
cao; nhấp- trắc cao/ long- bằng cao; nhánh- trắc cao/ lanh- bằng cao) tạo ra sự hài
hòa về thanh điệu giữa hai câu thơ trong thế đối nhau (đối bằng-trắc ở 4 vị trí, đối cao-
thấp ở 2 vị trí) chứ không đẩy hai câu thơ về tận cùng hai cực của phép đối (ở cả 4 vị
trí đều là vừa đối bằng-trắc, vừa đối cao-thấp). Do đó, âm hởng chung của hai câu là
âm hởng phấn chấn, vui tơi.
* Các trờng hợp không có phép đối thanh điệu b-t ở cặp câu trong khổ hoặc
trong cả khổ: ở 2 tập thơ có 13 mô hình thuộc các trờng hợp TH1 (2 câu cuối không
đối bằng-trắc), TH2 (2 câu đầu không đối bằng-trắc), TH4 (cả 4 câu trong khổ thơ
không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng-trắc).
3.2.2. Vấn đề đối thanh điệu bằng- trắc trong thơ tự do đợc xét theo hai kiểu
sau: khổ không dài, số chữ ở 1 dòng ít (khổ có số câu chẵn và số câu lẻ), khổ dài, số
chữ ở 1 dòng không ít và có kết quả: tỉ lệ các cặp tiếng có phép đối cao hơn các cặp
tiếng không có phép đối vài lần.
3.3. Vấn đề niêm trong khổ thơ
Luận án khảo sát từng khổ thơ ở 2 tập Gửi hơng cho gió và Từ ấy để xem
có niêm hay không, thống kê hiện tợng niêm của các câu thơ trong khổ thơ 7 chữ ở
từng tập thơ dới dạng bảng biểu, đa ra nhận xét và ví dụ.
VD5: về trờng hợp câu 1 niêm với câu 2 theo thanh bằng:
Bóng về
cội, cây không dới mát
b

Phép đối thanh điệu trong thơ Xuân Diệu, Tố Hữu, Hàn Mặc Tử đợc biến hóa
theo 4 trờng hợp với 7 mô hình khác nhau. Đồng thời, còn có những trờng hợp
không xuất hiện phép đối thanh điệu, do có sự phá vỡ thế đối thanh điệu ở một số vị
trí trong cặp đối theo các trờng hợp khác nhau (thơ Xuân Diệu và Tố Hữu: 13 mô
hình, thơ Hàn Mặc Tử: 17 mô hình). Sự xuất hiện của nhiều mô hình cho thấy nhu cầu
mở phép đối thanh điệu bằng-trắc là một nhu cầu tự nhiên ở cả 3 nhà thơ, dù thơ
của họ là thơ lãng mạn hay thơ cách mạng, là thơ thiên về chức năng tác động hay
chức năng xúc cảm. Bên cạnh đó, các mô hình khổ không có phép đối thanh điệu do
bị phá vỡ cấu trúc đối cũng bộc lộ xu hớng bứt phá, giật tung quy tắc đối của
thơ cổ điển theo muôn hình vạn trạng, phản ánh t duy lựa chọn và sáng tạo, không
trùng lặp và rập khuôn trong cách tháo nút cho phép đối đợc thoát thai, thoải
mái, không bị ràng buộc.
3.5.2.2. Trong thơ tự do

15
Thơ tự do là thơ gần nh không theo quy luật nào cả về số câu, số chữ Nó bứt
phá khỏi những ràng buộc về hình thức lẫn chủ đề, nội dung, thi hứng cho nên nó
cũng sẽ có sức bật để tung ra khỏi sự ràng buộc của phép đối (đối thanh, đối ý) nói
chung của thơ cũ.
Luận án này đã phân tích một số ví dụ cụ thể về phép đối thanh điệu bằng-trắc
theo các trờng hợp: các khổ không dài, số chữ ở một dòng ít và các khổ dài, số chữ ở
một dòng không ít thì thấy rằng, đến thơ tự do, phép đối thanh điệu bằng-trắc đợc
phân chia theo nhiều trờng hợp, nhiều khả năng, tùy theo hoàn cảnh cụ thể và đối
tợng tiếp nhận mà đợc lý giải khác nhau. Điều đó tạo ra hớng mở cho cả ngời
sáng tác và ngời tiếp nhận, cảm thụ thơ tự do.
3.5.3. Về niêm
3.5.3.1. Tuy các nhà thơ đã chịu những ảnh hởng về niêm của thơ cổ điển song
bản thân cách kết cấu của bài tứ tuyệt đã tạo điều kiện cho các nhà thơ phóng túng
hơn trong việc tạo các tiếng niêm với nhau.
3.5.3.2. Từ 1945- nay, vấn đề niêm trong thơ Việt cũng có chút cách tân nhng

Chơng 4 lấy quan niệm câu thơ là dòng thơ làm cơ sở để khảo sát, xử lý t liệu
và bàn luận về câu thơ ở một số nội dung nh: nhịp điệu, thanh điệu và vần. Trong đó,
vấn đề trọng tâm là nhịp điệu. Chơng 4 gồm các phần cụ thể sau:
- Trình bày khái niệm nhịp thơ, các cơ sở ngắt nhịp, kết quả thống kê các cách ngắt
nhịp, một số bàn luận về nhịp điệu ở các tập thơ của Xuân Diệu, Tố Hữu, Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật. Sau đó, luận án phân tích một số nhịp điệu cụ thể
và các khả năng ngắt nhịp khác nhau của cùng một câu thơ.
- Trình bày kết quả khảo sát định lợng về thanh điệu, phân tích vài kiểu tập trung
thanh điệu trong câu thơ.
- Phân tích một số loại vần và sự tập trung vần trong câu thơ.
- Tiểu kết chơng 4.
4.1. Nhịp điệu
4.1.1. Cơ sở ngắt nhịp câu thơ
4.1.1.1. Trớc hết, đó là các dấu câu: các dấu phẩy, dấu chấm cảm
VD7: Đời thờng,/ tẻ nhạt,/ lại trôi qua. (XD-TC, khổ 4, câu 2)
4.1.1.2. Ngoài ra, ngữ nghĩa của một cú đoạn hoặc một ngữ đoạn trong một câu
thơ chính là cơ sở để phân định nhịp thơ, một nhịp tơng ứng với một cú đoạn hay
một ngữ đoạn:
VD8: Trăng thơng,/ trăng nhớ,/ hỡi trăng ngần
cú đoạn 1 cú đoạn 2 cú đoạn 3
Đàn buồn,/ đàn lặng,/ ôi đàn chậm
cú đoạn 1 cú đoạn 2 cú đoạn 3 (XD-NC, khổ 1, câu 2,3)
4.1.1.3. Nhịp thơ còn đợc phân tách tơng đơng với một vế của câu so sánh:
VD9: Mỗi giọt rơi tàn/ nh
lệ ngân.
vế 1 vế 2 (XD-NC, khổ 1, câu 4)
4.1.2. Một số bàn luận
Từ các số liệu thống kê (phụ lục 3 của luận án), luận án bàn luận về nhịp điệu
trong các tập thơ của một số tác giả. Sau đó luận án bàn về một số nhịp điệu cụ thể, về
nhịp câu trong bài Đèo Cả của Hữu Loan, về các khả năng ngắt nhịp khác nhau của

đầy ấn tợng: cao ngút và hòa nhập vào không gian của mây trời. Cái thế cao ngút
của Đèo Cả lại đợc đặt trong thế đối lập với độ sâu của tâm trạng sầu đại dơng
làm cho những dòng thơ mở đầu đã dội ngợc lên đến đỉnh điểm của 2 chiều đối lập:
độ cao của đèo- độ sâu của tâm trạng buồn (Đèo cả!/ Đèo cả!/ Núi cao ngút!/ Mây
trời Ai lao/sầu đại dơng!/). Đặc biệt, những đoạn nhấn theo kiểu từng từ một
đợc vắt từ dòng này sang dòng khác tạo ra một bức họa về sự trắc trở nối tiếp của
Đèo Cả.
Bên quán Hồng quân 1 nhịp 4 tiếng
ngời 1 nhịp 1 tiếng
ngựa 1 nhịp 1 tiếng
mỏi 1 nhịp 1 tiếng
Có thể nói, chính nhịp điệu đợc tạo ra một cách chủ ý, đợc phân bổ theo kết
cấu vắt dòng đã làm những câu thơ trong Đèo Cả của Hữu Loan rất Mới, Sống,

18
những câu thơ nh biết ngọ nguậy, có Hồn. Cũng chính nhịp thơ ấy làm từng câu
đợc chảy ra nh từng nốt nhạc đợc nhạc sĩ đánh ngắt quãng để tạo ra các tiêu điểm
thông tin, để rót vào thính giác cảm xúc của độc giả những biến tấu mạnh, nhanh,
khoẻ của từng tiếng thơ. Sự đột phá về nhịp điệu của Đèo Cả là một trong những
ngọn hải đăng góp phần không nhỏ vào sự tự do hóa thơ Việt thế kỉ XX ở cấp độ
câu thơ và bài thơ.
*Về các khả năng ngắt nhịp khác nhau của cùng một câu thơ
Có câu thơ chỉ có một cách ngắt nhịp duy nhất, song, cũng có những câu thơ có
nhiều khả năng ngắt nhịp khác nhau. Chính các khả năng ngắt nhịp đó đã tạo ra
hớng mở trong việc hiểu nghĩa và bình luận thơ, tạo nên tính đa diện và nhiều
chiều trong việc truyền tải thông tin thơ. Ví dụ cho các khả năng ngắt nhịp của câu
thơ sau đây là một câu thơ của Nguyễn Đình Thi trong bài Đất nớc:
VD12: Ngời ra đi, đầu không ngoảnh lại
Sau lng thềm nắng lá rơi đầy (NĐT- ĐN)
Câu thứ 2 có thể đợc ngắt thành 26 kiểu nhng trong thực tế thì ngời ta thờng

4.4.1. Việc gieo vần ngay trong một câu thơ tạo ra sự cân đối, hài hòa, tính nhạc
cho câu thơ.
4.4.2. Về thanh điệu, các nhà thơ đã tạo ra những điểm nhấn nghệ thuật bằng cách
tập trung loại thanh điệu nhất định, tạo cảm giác mạnh trong câu thơ. Câu thơ có sự
tập trung thanh bằng thờng gợi cảm giác êm đềm, hài hòa, nhẹ nhàng, không gian
đợc rộng mở, thời gian nh đợc kéo dài hơn. Câu thơ có sự tập trung thanh trắc
thờng tạo ra cảm giác về sự bất trắc, không bình yên, không bằng phẳng.
4.4.3. Về nhịp điệu, luận án đa ra đợc 14 cơ sở (tiêu chí) và khoảng 90 dấu hiệu
cụ thể (thuộc 90 trờng hợp đợc nêu từ ví dụ VD86 đến VD193) để ngắt nhịp câu
thơ. Đây là các cơ sở và dấu hiệu ngắt nhịp đợc nhận diện và thực hiện nhờ các thao
tác ngôn ngữ học (dựa trên kết cấu ngữ pháp, nghĩa của từ, của các vế, của dòng thơ-
câu thơ) chứ không phải chỉ dựa vào cảm giác hay sự cảm thụ đơn thuần. Kết quả
nghiên cứu về nhịp điệu thơ cho thấy: sự cách tân, tự do hóa câu thơ, bài thơ của các
nhà thơ đã mở đờng cho sự cách tân và sự tự do hóa trong việc tiếp nhận. Nh vậy là
có yếu tố cái mới, cái tự do không chỉ ở ngời sáng tác (chủ thể sáng tác), ở văn
bản thơ mà còn ở cả ngời tiếp nhận văn bản thơ nữa. Đó cũng là một vấn đề đáng lu
tâm khi xem xét sự tự do hóa câu thơ (thậm chí là khổ thơ, bài thơ).
Kết luận
Luận án này, trên cơ sở miêu tả định lợng và những nghiên cứu định tính, đã tìm
ra những sự đột phá về cấu trúc, thể loại ở các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ trong các
giai đoạn khác nhau để thấy đợc cái mới của thơ Việt thế kỉ XX trên cả hai phơng
diện hình thức và ngữ nghĩa.
Luận án đã đạt đợc một số kết quả nghiên cứu nh sau:
1. Nghiên cứu đợc phần nào sự tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt thế kỉ XX. Tự do hóa
ngôn ngữ thơ là một hiện tợng ngôn ngữ- văn học- văn hóa của thế kỉ XX. Những biến
đổi đó xuất hiện do những động lực khác nhau về mặt xã hội, văn học và ngôn ngữ
nhng chủ yếu là do một số yếu tố sau:
* Đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam chịu nhiều ảnh h
ởng của nền giáo dục Pháp
học và phong trào Tân th. Trong khi đó, ảnh hởng của chữ Hán giảm xuống. Con

* Động lực xã hội và sự phát triển về t tởng làm cho văn bản thơ có nhiều biến
động. Diễn ngôn thơ cũng là một cách hiện đại hóa ngôn ngữ thơ. Khi văn bản thơ biến
động thì dẫn đến hệ quả là tuyệt đại bộ phận các thể loại thơ đợc tự do hóa.
2. Sự tự do hoá ngôn ngữ thơ diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau. Trong một giới hạn
nhất định, luận án này chủ yếu xem xét sự biến đổi ngôn ngữ thơ ở 3 cấp độ: bài thơ,
khổ thơ, câu thơ (những biến đổi cụ thể và hệ quả của nó).
*

cấp độ bài thơ, luận án nhấn mạnh vào sự chuyển biến và đa dạng hóa, sự phát
triển theo khuynh hớng mở về mặt thể loại thơ. Chính sự bùng nổ về mặt thể loại của
thơ các giai đoạn (1900-1945, 1945-2000) và ở thơ của một số tác giả là một trong
những minh chứng về sự tự do hóa thơ. Đặc biệt, ở ngay trong một thể thơ thì bài thơ
cũng đợc nhân lên cả về số lợng và chất lợng theo nhiều kiểu mô hình, nhiều kiểu

21
cấu trúc rất phong phú. Các kiểu cấu trúc, mô hình bài thơ khác biệt nhau chính là cái
vỏ để truyền tải cái chất- những nội dung tơng ứng một cách linh hoạt, uyển chuyển,
muôn màu muôn vẻ, đáp ứng đợc nhu cầu tăng lên cả về bề rộng và chiều sâu của bài
thơ sau giai đoạn 1932-1945.
Riêng thơ giai đoạn 1945-1975 có một số nét mới về cấu trúc. Thứ nhất, cấu trúc
thơ khá đa dạng. Ngoài thể thơ 5 chữ, 7 chữ, còn xuất hiện một số thể loại thơ có khổ
thơ rất ngắn hoặc có câu thơ khá ngắn giống một hình thức khá đặc biệt của văn bản
nói. Thứ hai, bắt đầu có dấu hiệu của sự tiếp nối liền mạch về hình thức giữa câu 6
tiếng và câu 8 tiếng trong khổ thơ có 2 câu/ khổ, tạo ra một sự gần gũi về hình thức giữa
2 câu/ khổ thơ với 1 câu thơ đợc diễn xuôi. Cấu trúc bài không còn là nguyên khối nh
bài song thất lục bát với những khổ song thất lục bát nữa mà đã cách tân và đợc đa
dạng hóa ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, thơ thời kỳ 1945-1975 vẫn không đoạn
tuyệt, không mất đi hoàn toàn mối dây liên hệ với thơ truyền thống. Thứ ba, đã có
những hình thức mới, không theo quy luật tạo nên sự đa dạng về cách thức, hình thức
thể hiện (bài có 1 khổ đến 9 khổ; khổ có 1 câu đến 41 câu). Thứ t, đã có sự cải

- Về hiện tợng gieo vần.


thơ mới 7 chữ, 8 chữ, các nhà thơ đã tạo thêm đợc các cách gieo vần mới, đa
dạng hơn các cách gieo vần truyền thống đồng thời có sự phá cách về việc gieo vần
không giống nhau hoặc không gieo vần (25-42%). Kết quả đó cho thấy t duy thơ mới
đã đẩy vần thơ truyền thống lên một bậc và mở rộng để phá đi trạng thái ứ đọng cũ,
vần thơ không khuôn lại chỉ trong một vài vần nhất định theo quy tắc thơ cổ nữa.
Đến thơ tự do, yếu tố vần vẫn đợc lu giữ. Vần tạo nên sự liên kết về âm hởng
giữa các câu thơ, vần cũng nh một thứ mạch lạc đợc dùng để liên kết các câu thơ,
các khổ thơ trong bài. Nhng cũng có hiện tợng, nhiều khổ thơ tự do đã bỏ hẳn vần,
không gieo vần, chỉ giữ lại âm điệu, âm hởng của khổ thơ, bài thơ. Những khổ thơ đó
bật ra nh một kiểu diễn ngôn đặc biệt, diễn ngôn ngắt thành từng dòng, có thể
giản dị nh đang kể một câu chuyện hàng ngày.
*

cấp độ câu thơ:
- Việc gieo vần ngay trong một câu thơ tạo ra sự cân đối, hài hòa, tính nhạc cho câu
thơ.
- Về thanh điệu, các nhà thơ đã tạo ra những điểm nhấn nghệ thuật bằng cách tập
trung loại thanh điệu nhất định, tạo cảm giác mạnh trong câu thơ.
- Về nhịp điệu, luận án đa ra đợc 14 cơ sở (tiêu chí) và khoảng 90 dấu hiệu cụ thể
để ngắt nhịp câu thơ nhờ các thao tác ngôn ngữ học. Đây là một nét mới và cũng là một
điểm nhấn quan trọng của luận án khi khảo sát nhịp điệu thơ. Đồng thời, luận án rút ra
một đặc điểm quan trọng của sự cách tân, tự do hoá thơ Việt thế kỉ XX là: sự cách tân,
tự do hóa câu thơ, bài thơ của các nhà thơ đã mở đờng cho sự cách tân, sự tự do hóa
trong việc tiếp nhận. Nh vậy là có yếu tố cái mới, cái tự do không chỉ ở ngời sáng
tác (chủ thể sáng tác), ở văn bản thơ mà còn ở cả ngời tiếp nhận văn bản thơ nữa.
* Có thể nói, việc xem xét sự tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt thế kỉ XX ở 3 cấp độ
(bài, khổ, câu) chủ yếu chỉ mới là xem xét về sự biến đổi cấu trúc. Nhng, chính sự biến

thơ thì vẫn là hồn đất Việt! Trong thơ Hàn Mặc Tử đã xuất hiện thể thơ theo lối tự do.
Chất tự sự, đối thoại của ngôn ngữ thơ ông thể hiện tố chất sáng tạo tài hoa và trí tuệ, thể
hiện cả sự liều lĩnh dám vợt lên cái cũ, thăng hoa đến với mảnh đất mới mẻ, để thổi
vào thơ luồng sinh khí tràn đầy nhiệt huyết và nhựa sống sục sôi, khát khao đợc sống,
khát khao làm hồn thơ Mới sống và trụ vững qua thời gian. Có thể nói, thơ Hàn Mặc Tử
nổi trội lên với các chức năng siêu ngôn ngữ và chức năng biểu cảm.
* Về thơ Chế Lan Viên, có không ít bài thơ đợc chia làm nhiều khổ và có những
khổ rất dài, làm cho bài thơ có cấu trúc giống nh thể trờng ca phảng phất phong vị
truyền thống cổ điển của thể Cổ phong- thể thơ có những câu thơ chảy dài nối tiếp nhau
lớp lớp. Có những bài thơ trải dài, mang đậm chất diễn xuôi, tự sự, làm cho độc giả cảm
nhận nh có sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi, tạo nên chất thơ văn xuôi giàu triết lý
và sắc sảo về trí tuệ của Chế Lan Viên. Thơ Chế Lan Viên, vì thế, thiên về chức năng thể
hiện, chức năng tiếp xúc, chức năng tác động và chức năng biểu cảm. Nhng nổi bật
nhất vẫn là chức năng siêu ngôn ngữ do thơ ông truyền tải những nội dung tràn đầy chất
triết lý và trí tuệ.

24
* Nếu nh Thơ Phạm Tiến Duật thiên về chức năng tác động, giải thích, chức năng
tiếp xúc và chức năng thể hiện thì thơ Hoàng Nhuận Cầm lại giàu chất biểu cảm, liên
tởng, chủ yếu hớng về chức năng biểu cảm, chức năng tiếp xúc.
Hầu hết các nhà thơ nói trên đều không thể bỏ qua chức năng thi ca trong thơ của
họ. Nhng ngoài chức năng cốt lõi là chức năng thi ca thì thơ của mỗi ngời lại có thiên
hớng nghiêng về một số chức năng nh trên.
* Thơ Việt Nam thế kỉ XX đợc bồi đắp và có bề dày bởi sự tích lũy của các nhà
thơ nhiều thế hệ với các phong cách rất đa dạng. Nhng dù có những dặc trng riêng về
phong cách thì trong thơ của họ vẫn ẩn chứa 6 chức năng cơ bản mà Roman Jakobson
đã từng khẳng định: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức
năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động. Bởi vì, ngôn ngữ là cái vỏ
vật chất không bao giờ có thể thiếu đợc trong việc sáng tác thơ, tiếp nhận và đánh giá
thơ. Chỉ có điều, tùy thuộc vào phong cách của mỗi nhà thơ mà từng chức năng nói trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status