Truyện ngắn trữ tình của một số tác giả tiêu biểu trước 1945 (nhìn từ phương diện kết cấu - Pdf 29

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

TỐNG THỊ HẢI YẾN TRUYỆN NGẮN TRỮ TÌNH CỦA MỘT SỐ
TÁC GIẢ TIÊU BIỂU TRƯỚC 1945
(NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN KẾT CẤU) Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số : 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Trà My

1.2. Truyện ngắn trữ tình - những vấn đề về thể loại 20
1.2.1. Quan niệm về truyện ngắn trữ tình
21
1.3. Các giai đoạn truyện ngắn trữ tình hiện đại Việt Nam
30
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945
30
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 - 1975 35
1.3.3. Giai đoạn 1975 đến nay
39
Chương 2. Kết cấu hình tượng
43
2.1. Điểm tựa cấu trúc hình tượng 43
2.1.1. Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn trữ tình như là chủ
thể của hệ thống điểm nhìn

50
3

2.1.2. Sự kiện nội tâm là điểm tựa cấu trúc trong truyện ngắn trữ tình 56
2.1.3. Cảm thức thời gian là điểm tựa kết cấu hình tượng 63
2.2. Các chi tiết tạo dựng nhân vật
67
2.2.1. Chi tiết nội tâm
68
2.2.2. Chi tiết ngoại hình - hành động
72
Chương 3. Tổ chức ngôn từ trần thuật
76
3.1. Nguyên tắc trùng điệp trong trần thuật

1.1. Truyện ngắn Việt Nam đã trải qua lịch sử trên một thế kỷ và có
nhiều thành tựu nhất định. Đó là một thể loại tự sự có những đặc điểm
riêng về tính chất, về dung lượng so với các thể loại khác. Truyện ngắn ra
đời gắn chặt với các hoạt động báo chí nên dễ phổ biến đến người đọc. Với
hình thức ngắn gọn, cơ động, truyện ngắn phù hợp việc đáp ứng nhu cầu
của độc giả trong thời đại công nghiệp. Là một lát cắt của đời sống, như
giọt nước nhỏ trong đại dương, nhưng truyện ngắn hay để lại nhiều dư âm,
ám ảnh trong lòng người đọc. Do đó, truyện ngắn trở thành món ăn tinh
thần không thể thiếu của công chúng Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn
văn học đương đại.
1.2. Trong dòng chảy văn học Việt Nam, truyện ngắn là một thể loại cơ
bản nhất, đặc biệt là giai đoạn 1930 - 1945 văn học đạt được nhiều thành tựu
trên mọi lĩnh vực đã làm thay đổi bộ mặt dân tộc. Không ít truyện ngắn nổi
bật của các nhà văn như: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn
Tuân, Tô Hoài đã trở nên nổi tiếng. Căn cứ vào những hướng phát triển, gắn
liền với hướng tổng hợp thể loại cơ bản của truyện ngắn hiện đại nói chung
của giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng, người ta chia truyện ngắn hiện đại làm ba
loại hình tiêu biểu là: Truyện ngắn - kịch hóa, truyện ngắn - tiểu thuyết hóa
và truyện ngắn - trữ tình hóa.
Trong các loại hình truyện ngắn trên, truyện ngắn - trữ tình hóa có
những nét riêng và nó đã phát triển thành một dòng ở Việt Nam với những
gương mặt tiêu biểu như: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu,
Ngọc Giao, Đỗ Tốn, Xuân Huy, Thanh Châu Cho nên, việc tìm hiểu nét đặc
trưng về truyện ngắn trữ tình giai đoạn trước 1945 là một việc làm cần thiết,
5

tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận những sáng tác thuộc dòng chảy truyện
ngắn Việt Nam. Đồng thời phần nào đi đến tìm hiểu tại sao truyện ngắn trữ
tình lại ngày càng được công chúng đón nhận và không ngừng phát triển.
1.3. Về góc độ nghiên cứu, thể loại truyện ngắn trữ tình đã được nhiều

truyện ngắn - như Antonop mệnh danh. Một đó là loại truyện kể về một
trường hợp đặc biệt nào đó và một loại kể về những sự kiện đơn giản, bình
thường", loại truyện thứ hai "xuất hiện muộn hơn, khi mà yêu cầu đặt ra đối
với văn học không phải chỉ là việc miêu tả những cái kì dị, lạ lùng, mà cả
những cái bình thường" [36, tr.148]. Tác giả cũng khẳng định, "một xu hướng
của truyện ngắn hiện đại là đi vào tâm lý, dựng lên những ca tâm lý ấn tượng
mạnh mẽ, lối viết này vẫn bị buộc tội là lảng tránh cốt truyện, tuy xét về một
mặt nào đó, đây là một sự lảng tránh thông minh bậc nhất" [36, tr.149]. Như
vậy, Vương Trí Nhàn đã nêu ra những nét khác biệt giữa truyện ngắn trữ tình
với truyện ngắn truyền thống (truyện có cốt truyện nổi bật). Ông đã chỉ ra
rằng truyện ngắn trữ tình là một xu hướng phát triển của truyện ngắn hiện đại:
"Thêm nhiều truyện ngắn trữ tình, bên cạnh những truyện ngắn có cốt truyện
sắc nhọn như đã quen biết" [36, tr.150], "Theo một số nhà nghiên cứu về thể
loại văn học, các thể tài thuộc phổ hệ tự sự đang có xu hướng chuyển sang
trữ tình. Tính chất trữ tình, xu hướng đi vào tâm lý cũng đang chi phối nhiều
tác giả truyện ngắn ở Mỹ" [36, tr.154]. Đồng thời, ông nhấn mạnh đó là "loại
truyện ngắn gần với thơ, chỉ cốt tạo ấn tượng, ngoài ra không quan tâm gì tới
nhân vật, cốt truyện gì hết" [36, tr.150].
Năm 1996, Nguyễn Kiên cũng có những lời bàn gián tiếp về truyện
ngắn trữ tình trong bài Về chất thơ trong truyện ngắn. Sau khi khẳng định
"sự thâm nhập của thơ vào truyện ngắn là một yếu tố tự nhiên, gây kích thích
thuộc quy luật vận động nội tại của nghệ thuật, nhà văn đã nhắc đến loại
7

truyện ngắn từ ý tưởng nghệ thuật đến giọng điệu hơi văn đều hòa hợp và
cùng mang phẩm chất trữ tình gần với lời thơ" [25, tr.297]. Tác giả bài viết
nhận thấy, "Truyện ngắn hiện đại gần với thơ, vì trong sự phá cách của nó, nó
sử dụng những thao tác nghề nghiệp gần gũi với cách tư duy nghệ thuật của
thơ" [25, tr.300].
Theo quan điểm của Bùi Việt Thắng trong công trình nghiên cứu,

nhà nghiên cứu đã nói đến đặc trưng cơ bản của truyện ngắn trữ tình. Đó là
truyện ngắn nhưng mang chất thơ, không có cốt truyện, yếu tố sáng tác
thuộc về tình cảm, cảm xúc của nhân vật. Vì thế, truyện ngắn trữ tình mang
những đặc điểm tạo thành một dòng văn học riêng trong truyện ngắn hiện
đại Việt Nam.
2.2. Những công trình nghiên cứu về truyện ngắn trữ tình trước 1945
Năm 1995, trong công trình nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Thị Thu Hương:
Ba phong cách truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 (Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh) đã có những quan niệm
rất đúng đắn về truyện ngắn trữ tình. Trong đề tài tác giả có nêu lên được
những ý kiến có giá trị về loại hình truyện ngắn trữ tình: "Trong tác phẩm trữ
tình, yếu tố chủ quan của nhà văn bao giờ cũng rất đậm nét và nó được thể
hiện ở tất cả mọi phương diện nghệ thuật. Dù tả cảnh, tả ngoại hình nhân vật
hay tả nội tâm nhân vật Truyện ngắn trữ tình thường không có cốt truyện.
Nó có kết cấu gần với cấu tứ thơ trữ tình. Truyện ngắn trữ tình thường đi sâu
miêu tả một cách tinh tế những phản ứng của tâm thức đối với “kinh nghiệm
sống" [22, tr.7]. Theo tác giả luận án, "Truyện ngắn trữ tình đã đưa vào văn
xuôi nghệ thuật Việt Nam với chất thơ man mác, bàng bạc rất riêng. Truyện
ngắn trữ tình mang lại cho người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, sâu lắng, sau
những trang viết tràn trề hiện thực của các nhà văn hiện thực" [22, tr.7].
9

Năm 2001, với luận án Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại
(Trên cơ sở dữ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945), tiến sĩ
Nguyễn Văn Đấu đã chứng minh có 3 loại hình truyện ngắn hiện đại cơ bản
là: Truyện ngắn - kịch hóa, truyện ngắn - trữ tình hóa, truyện ngắn - tiểu
thuyết hóa. Trong chương viết về truyện ngắn trữ tình hóa nhà nghiên cứu đã
phát hiện nhiều điểm độc đáo trong tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, tổ
chức trần thuật của loại hình truyện ngắn này. Theo tác giả luận án, "Truyện
ngắn trữ tình hóa về cơ bản không phải là truyện quan hệ xã hội, truyện về

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ kết cấu thể loại
truyện ngắn trữ tình, từ việc tìm hiểu về mặt lý thuyết lí luận văn học gắn với
những sáng tác cụ thể của các tác giả trữ tình tiêu biểu trước năm 1945.
Chúng tôi muốn nêu bật lên những đặc điểm riêng về kết cấu thể loại truyện
ngắn trữ tình so với kết cấu của những loại truyện ngắn - kịch hóa, truyện
ngắn - tiểu thuyết hóa, từ đó chúng tôi nhằm khẳng định nét đặc trưng của
truyện ngắn trữ tình qua phương diện kết cấu hình tượng và tổ chức lời
văn trong truyện ngắn trữ tình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận văn tập trung chứng minh những luận điểm cơ bản sau:
+ Những vấn đề chung về truyện ngắn trữ tình.
+ Kết cấu hình tượng trong truyện ngắn trữu tình
+ Tổ chức ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn trữ tình.
Ba luận điểm này có liên quan chặt chẽ với nhau, từ luận điểm mang
tính khái quát rồi đi đến những luận điểm nhỏ nhằm chứng minh, khẳng định
đặc trưng về kết cấu truyện ngắn trữ tình.
11
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối với thể loại truyện trữ tình chỉ bắt đầu vào giai đoạn 1930 nhưng
nở rộ và thành công nhất bắt đầu từ những năm 1935-1936 với những tác giả
nổi tiếng như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Thanh Châu, Xuân Huy,
Đỗ Tốn Đây được coi là thời kỳ mở đầu của thể loại truyện ngắn trữ tình.
Họ như là những tác giả tiên phong cho một loại hình truyện ngắn mới càng
về sau càng được nhiều tác giả, độc giả và giới phê bình quan tâm nhiều hơn.
Chính điều đó nhiều tác phẩm truyện ngắn trữ tình ra đời ở thời kỳ tiếp theo
cho đến nay có một số lượng truyện ngắn trữ tình khá phong phú. Như vậy
phạm vi sáng tác của thể loại này rất rộng và khó có thể nghiên cứu, nắm bắt
hết được trong khuôn khổ một luận văn. Vì thế chúng tôi tập trung nghiên cứu

được những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tác phẩm. Do đó, phương pháp
thống kê, phân loại cũng góp phần giúp quá trình nghiên cứu đạt hiệu quả.
5.3. Phương pháp lịch sử
Văn học Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển với những biến
đổi nhất định. Giai đoạn đầu với sáng tác lãng mạn, văn xuôi nghệ thuật ở
dạng cân bằng giữa văn xuôi và thơ. Liền sau đó, với sáng tác “tả chân"của
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, thế cân bằng bị phá vỡ văn
xuôi phát triển theo hướng đối lập với thơ. Vận dụng phương pháp lịch sử để
đánh giá, chúng tôi sẽ đi vào lí giải những hiện tượng đó, đồng thời chứng
minh được truyện ngắn trữ tình có một kết cấu mang những đặc trưng khác
hẳn với truyện ngắn sự kiện.
5.4. Phương pháp phân tích, chứng minh
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, chứng minh qua các tác
phẩm chọn lọc mang đậm yếu tố trữ tình của tác giả giai đoạn trước 1945 để
tìm ra nét chung nhất về kết cấu của truyện ngắn trữ tình ở giai đoạn này.
Các phương pháp trên được sử dụng phối hợp với nhau một cách linh
hoạt trong luận văn nhằm đem đến cho người đọc một cái nhìn toàn diện bao
quát nhất về loại hình truyện ngắn trữ tình được nhìn từ phương diện kết cấu.
13
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi nhằm bổ
sung và khẳng định thể loại truyện ngắn trữ tình là một thể loại văn học với
những đặc trưng riêng về kết cấu hình tượng và cách tổ chức lời văn trong
truyện ngắn trữ tình có thể phân biệt với thể loại truyện ngắn khác. Ngoài
phong cách riêng biệt của các nhà văn trữ tình, là một loại hình văn học, cấu
trúc thể loại của truyện ngắn trữ tình thì tôi xin đóng góp thêm một nét đặc
trưng của thể loại này đó là kết cấu của truyện ngắn trữ tình về phương diện
hình tượng và tổ chức ngôn từ trần thuật. Luận văn là công trình nghiên cứu
chuyên biệt về vấn đề trên vừa có tính kế thừa của người đi trước đồng thời
vừa tìm tòi khám phá để đóng góp những phát hiện mới mẻ có ý nghĩa, đặc

vật, diễn biến sự kiện thú vị như: truyện cười, truyện cổ tích, truyện thần thoại,
truyện truyền kỳ, truyện nôm, truyện thơ, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn,
truyện rất ngắn.
Theo từ điển văn học - Đỗ Đức Hiểu chủ biên thì “Truyện thuộc loại tự
sự có hai thành phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật. Thủ pháp nghệ thuật
chính là kể. Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng"
[20, tr.450].
15
Cũng trong từ điển văn học nhóm nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cũng đã
nêu "Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ. Truyện ngắn khác với truyện
vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập chung mô tả một mảnh của cuộc sống, một
biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống
nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía
cạnh nào đó của vấn đề xã hội" [20, tr.456].
Trong giáo trình lí luận văn học Trần Đình Sử chủ biên thì định nghĩa
về truyện: "Thể loại tự sự, văn xuôi bắt nguồn từ các truyện thần thoại, kể
chuyện những chuyện li kỳ, khác thường chỉ có trong trí tưởng tượng của con
người" [43, tr.202]. Còn trong truyện ngắn "Tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, sáng
tác bằng hư cấu. Truyện ngắn sở dĩ ngắn là do thể hiện cuộc sống qua lát cắt,
khoảnh khắc nhờ những bố cục đặc biệt" [43, tr.202]. Như vậy, truyện ngắn,
khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi các hình thức
truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại truyện cười, hoặc gần với những
bài kí ngắn. Nhưng thực ra không phải mà nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là
hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời. Nội dung truyện ngắn có thể
rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn.
Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay
một chốc lát trong cuộc sống của nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn
không phải là hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời. Như
truyện Dưới bóng Hoàng lan của Thạch Lam chỉ kể lại cảm xúc, suy ngẫm
của nhân vật Thanh trong một khoảnh khắc về quê sau nhiều năm. Cảm nhận

điều gì. Cái chính của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu sắc về cuộc đời và
tình người. Kết cấu của truyện thường là một sự tương phản, liên tưởng, bút
pháp trần thuật thường là chấm phá. Yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất của
17
truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác
phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũng hết
sức quan trọng làm nên cái hay của truyện ngắn.
Như vậy có thể nói, truyện ngắn là một trong những thể loại cơ bản
nhất trong hệ thống văn học. Đó là hình thức tự sự ngắn gọn, dung lượng tuy
nhỏ nhưng hiệu quả phản ánh và biểu hiện rất lớn. Chịu sự chi phối của
nguyên tắc tư duy tiểu thuyết nên tác phẩm thường có cấu trúc đa dạng và
phức tạp.
1.1.2. Phân loại truyện ngắn
Truyện được xuất hiện từ rất sớm, tác phẩm văn học được lưu truyền
qua phương thức truyền miệng. Những tác phẩm văn học ấy như một bản kể
có miêu tả nhân vật và diễn biến sự việc thú vị và được gọi tên như: truyện cổ
tích, truyện thần thoại, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện truyền kỳ. Với
kết cấu đơn giản, nhân vật ít với mục đích "văn dĩ tải đạo" nên thường rất
ngắn, có thể một trang thậm chí nửa trang giấy. Cho đến đầu thế kỷ XX xuất
hiện một loại truyện ngắn mới đó là tiểu thuyết với tác phẩm đầu tiên Tố Tâm
- Hoàng Ngọc Phách. Với dung lượng lớn hơn và số lượng nhân vật phong
phú hơn và có sức phản ánh đa chiều về nhiều khía cạnh trong cuộc sống. Tuy
là tiểu thuyết nhưng nó mang hình thức như truyện ngắn. Như vậy, truyện
ngắn ra đời cho đến nay đã hơn một thế kỷ. Nhưng đạt được thành công rực
rỡ nhất về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật thì phải kể đến giai
đoạn trước năm 1945.
Từ những năm 1930 cho đến nay, truyện ngắn phân chia thành nhiều
thể loại như Lê Huy Bắc khi nghiên cứu Hêmingue đã phân loại truyện ngắn
của tác giả này thành các kiểu: "Truyện ngắn - dòng ý thức, truyện ngắn - kịch,
truyện ngắn - mini, truyện ngụ ngôn - hành động, truyện - triết lí" [5, tr.116].

phân tích, suy lý, đúc kết. Mà trường hợp đậm đặc nhất ở mỗi nhân vật giống
như một tư tưởng được nhân vật hóa vậy. Như nhân vật Chí Phèo - trong tác
phẩm cùng tên của Nam Cao điển hình hóa là một tên lưu manh chuyên rạch
mặt ăn vạ để có được rượu uống quên ngày tháng và sự đời. Hay như, nhân
vật Hoàng trong tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao cũng là một nhân vật điển
hình cho quan điểm của tầng lớp tiểu tư sản lúc bấy giờ. Đó là lối sống ích kỷ
nhìn cuộc đời với đôi mắt lệch lạc. Diện mạo của loại truyện ngắn này cũng
nghiêng về triết luận như truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao “Chao
ôi! Cuộc đời chưa hẳn đáng buồn”. Hay như Nguyễn Minh Châu trong tác
phẩm Bến quê, nhân vật Nhĩ cuối đời đã thấy được những nghịch lý trong
cuộc đời và chiêm nghiệm ra một điều rằng con người ta thường đi "vòng vèo,
chùng chình".
Về cốt truyện truyện ngắn - tiểu thuyết hóa thường được xây dựng bằng
các sự kiện và hành động của nhân vật, bộc lộ các xung đột xã hội, trình bày
số phận tính cách của cả một đời người với những biến đổi khôn lường của nó.
Như tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố trình bày những mâu thuẫn xung đột
xã hội. Đó là sự xung đột giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, nhà văn đã
thể hiện sở trường mổ xẻ, phanh phui những mâu thuẫn đó cần được giải
quyết một cách thỏa đáng. Đồng thời cũng miêu tả một cách sắc sảo diễn biến
tâm lí nhân vật điển hình là chị Dậu thông qua cuộc xung đột giữa chị Dậu
với người nhà lí trưởng và tên cai lệ. Từ đó, thấy được phẩm chất đẹp đẽ của
người phụ nữ Việt Nam qua nhân vật điển hình là chị Dậu. Hay như trong tác
phẩm Đôi mắt, tác giả đã đẩy mâu thuẫn giữa hai giai cấp, nhân vật Hoàng
đại diện cho giai cấp tiểu tư sản với giai cấp nông dân. Hoàng đã thấy ở
những người nông dân kia toàn những điều bần tiện xấu xa mà không nhìn
thấy được những vẻ đẹp của họ qua việc làm, suy nghĩ. Nhưng rồi cuối cùng
thì Hoàng đã tự nhận ra được vẻ đẹp ấy mà từ trước tới nay anh chưa hề khám
phá thấy.
20
Giọng điệu trong các truyện ngắn tiểu thuyết hóa thường sử dụng đa

hình tượng nhất định, ứng với nó là kiểu kết cấu phá vỡ tuyến tính thời gian
như Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn và một số truyện khác của
Nguyễn Công Hoan như: Oẳn tà roằn, Ngựa người và người ngựa, Răng
con chó nhà tư bản, Hai thằng khốn nạn. Những truyện này sẽ tạo cho
người đọc những ấn tượng nghệ thuật mới mẻ.
Ở truyện Sống chết mặc bay - Phạm Duy Tốn, mở đầu đã là cảnh đối
lập mang tính cao trào: hình ảnh hàng ngàn sinh linh đang náo loạn trước
nguy cơ đê vỡ- một sự kiện có tính đe dọa tới sự sống còn của bao người thì
quan phụ mẫu vẫn “uy nghi, chễm chệ ngồi " ngài vẫn "ù thông tôm, chi chi
nảy, điếu mày”. Kịch tính cứ được đẩy lên mãi, để rồi kết thúc truyện người
đọc thực sự phẫn nộ trước sự vô lương tâm, vô trách nhiệm và mất hết lương
tri của tên quan phụ mẫu đối với mạng sống của bao người dân nghèo khổ.
Truyện Răng con chó nhà tư bản của Nguyễn Công Hoan, tình huống
của truyện lại đặt vào cuối tác tác phẩm sau việc người ăn mày vì giành đĩa
thức ăn của con chó mà đấm gãy hai chiếc răng của con chó. Khiến cho tên
nhà giàu "nghiến răng nhảy lên ô tô nổ máy xình xịch, bật đèn pha lên" với
quyết tâm “ông kẹp cho mày chết tươi rồi ông đền mạng bất quá ba chục là
cùng”. Không cần phải nhiều lời bình luận, bản thân hành động ấy đã cho
thấy nhà tư bản kia hoàn toàn là một con ác thú phi nhân tính.
Về tính chất, có thể thấy đó là tình huống hành động trong đó nhân vật
bị đẩy lên một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động.
Tình huống này thường hướng tới một kiểu nhân vật: nhân vật hành động.
Tức là loại nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động
của nó, các bình diện khác ít được quan tâm. Do đó, nó quyết định đến diện
mạo của toàn truyện: truyện ngắn giàu kịch tính.
22
1.1.2.3. Truyện ngắn - trữ tình hóa
Trước kia, truyện ngắn thường là những tác phẩm tự sự thuần nhất.
Nhưng trong văn học hiện đại, nhiều loại hình truyện ngắn (trong đó có
truyện ngắn trữ tình) không còn mang tính chất tự sự thuần túy nữa. Truyện

của cô gái lầu xanh với bao nỗi sầu thường lan tràn trên những trang giấy.
Có thể khẳng định với sự xuất hiện của kiểu truyện của kiểu truyện
không có cốt truyện thì những dòng cảm xúc, nội tâm của con người, những
vui buồn, hờn giận, ghen tuông, sầu tủi, nhớ mong, hạnh phúc của con người
đã được trải rộng trên trang giấy. Nếu chỉ có kiểu truyện truyền thống nặng về
các sự kiện xã hội thì chắc những dòng nội tâm đó được giãi bày nhiều như
thế cho nên nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định nó thuộc thể loại truyện
ngắn trữ tình.
1.2. Truyện ngắn trữ tình - những vấn đề về thể loại
Thế kỷ XX là thế kỷ có nhiều tìm kiếm, phát hiện mới về thể loại, vị trí
của thể loại trở nên rất quan trọng. Theo M.Bakhtin: "Thể loại chứ không phải
phương pháp hoặc trường phái sáng tác là những nhân vật chính của tấn kịch
lịch sử văn học. Mỗi thời đại lịch sử có hệ thống thể loại của mình, trong đó
những thể loại chính thể hiện tập chung nhất, nổi bật nhất tâm thức, tầm nhìn,
những mối quan tâm, những quan niệm và chuẩn mực giá trị con người trong
thời đại đó. Lịch sử văn học trước hết là lịch sử hình thành, phát triển tương
tác giữa các thể loại này" [6, tr.7-8]. Ngày nay, giới nghiên cứu văn học trên
thế giới rất quan tâm tới vấn đề thể loại (đặc biệt quan tâm tới thể loại) bởi thể
loại là một hiện tượng lịch sử, luôn luôn vận động và phát triển, luôn đòi hỏi
những tìm kiếm về lý thuyết và những thể nghiệm thực tiễn. Trong dòng
truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói chung và thể loại truyện ngắn trữ tình nói
24
riêng mang những nét đặc trưng riêng về thể loại. Chính điều đó, chúng ta tìm
hiểu về những quan niệm về truyện ngắn trữ tình và kết cấu trong truyện ngắn
trữ tình.
1.2.1. Quan niệm về truyện ngắn trữ tình
Truyện ngắn trữ tình là kiểu truyện ngắn, một kiểu tổng hợp thể loại,
một mô hình nghệ thuật độc đáo có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự
sự (kể chuyện) với yếu tố trữ tình (tình cảm, cảm xúc, tâm trạng rung động)
hình thức là truyện nhưng nội dung và cấu trúc là tiểu thuyết. Đã có nhiều

gần với thơ, mang đậm chất thơ của đời sống bình dị của tình người. Truyện
ngắn trữ tình thường phi cốt truyện hoặc cốt truyện mờ nhạt, chủ yếu là cốt
truyện tâm lý. Nhân vật truyện ngắn trữ tình thường không mô tả ngoại hình,
khắc họa tính cách mà chủ yếu tái hiện thế giới nội tâm với những cảm giác,
tâm trạng của nhân vật mô tả vô cùng phong phú, tinh tế, phức tạp. Truyện
ngắn trữ tình còn quan tâm miêu tả những bức tranh thiên nhiên. Trong
truyện ngắn trữ tình, tính chủ quan của người nghệ sỹ sáng tạo cũng được thể
hiện tương đối đậm nét. Kết cấu truyện có kết cấu gần với cấu tứ thơ trữ tình.
Những đặc điểm ở trên cho ta thấy truyện ngắn trữ tình có một vị trí ngang
bằng độc lập với các dòng truyện ngắn khác. Với những đóng góp không nhỏ
của các tác giả truyện ngắn trữ tình, truyện ngắn trữ tình có một vị trí quan
trọng trong dòng chảy của truyện ngắn trữ tình Việt Nam hiện đại tạo nên sự
đa diện cho bộ mặt văn học dân tộc.
1.2.2. Vấn đề kết cấu trong truyện ngắn trữ tình
Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những
chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận Tất cả những yếu tố,
bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status