NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN QUA MỘT SỐ
TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
(HOÀNG TRỪU, TỐNG TRÂN – CÚC HOA, NHỊ ĐỘ MAI)
Giảng viên: TS NGUYỄN THỊ NƯƠNG
Học viên: NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
Lớp: Cao học K24 – Văn học Trung đại Việt Nam
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN
1. Khái niệm truyện thơ Nôm bình dân
2. Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm bình dân
2.1 Tiền đề lịch sử - văn hóa
2.2 Tiền đề văn hóa, văn học
CHƯƠNG II: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
1.Ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.1 Quan niệm về ngôn ngữ bình dân
1.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm
bình dân
1.2.1 Từ láy trong truyện thơ Nôm bình dân
1.2.2 Thi liệu dân gian trong truyện thơ Nôm bình dân
1.3 Giá trị của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình
dân
1.3.1
Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ mối quan hệ
với một số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật
nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả. Tiêu biểu là các tác giả: Dương
Quảng Hàm, Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Nguyễn Lộc…
- Dương Quảng Hàm là người dùng thuật ngữ Truyện thơ Nôm
bình dân sớm nhất. Trong “Việt Nam văn học sử yếu”, ông viết: “thể
này thường dùng để viết các truyện có tính cách bình dân như
Quan Thế âm, Phạm Công – Cúc Hoa…”.
- Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, các tác giả đã chỉ ra
những điểm khác nhau cơ bản giữa truyện Nôm bình dân và truyện
Nôm bác học. Theo đó, “Truyện Nôm bình dân viết trên cơ sở truyện
dân gian như Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Thạch
Sanh….Truyện Nôm bình dân hầu như không có tên tác giả, được
lưu truyền trong dân gian, ngôn ngữ bình dị, mộc mạc.”
- Nguyễn Lộc trong cuốn “Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ
XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX) đã khẳng định kho tàng truyện Nôm Việt
Nam tồn tại song song hai loại truyện: “Một loại là những truyện
Nôm kiểu Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân – Cúc Hoa, Phương Hoa,
Lý Công, Hoàng Trừu…; một loại là những truyện Nôm kiểu Truyện
Kiều, Hoa Tiên, Sơ kính tân trang, Phan Trần…Loại trên có thể gọi là
truyện Nôm bình dân; loại dưới có thể gọi là truyện Nôm bác học.”
Tiếp đó tác giả cũng đưa ra những tiêu chí để phân biệt truyện Nôm
bình dân và truyện Nôm bác học. Các tiêu chí đó là: tác giả, nguồn
gốc cốt truyện, chủ đề, hình thức nghệ thuật.
2. Tiền đề xuất hiện truyện thơ Nôm bình dân
2.1 Tiền đề lịch sử - văn hóa
3
- Truyện thơ Nôm bình dân xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện
những mâu thuẫn gay gắt. Đó là vào khoảng đầu thế kỉ XVI, nền
- Đến thế kỉ XVI, XVII cả chữ Nôm và thơ lục bát đều dã có
một quá trình rèn rũa, trưởng thành. Do vậy, nó có đủ khả năng để
truyền tải các vấn đề đời sống xẫ hội và đời sống tâm hồn con người.
CHƯƠNG 2: NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN THƠ NÔM BÌNH DÂN
1. Ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm bình dân
1.1. Quan niệm về ngôn ngữ bình dân
- Theo Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ
biên): “Bình dân Id. 1. Người dân thường (nói khái quát, thường là
trong xã hội cũ). Sự đối lập giữa quý tộc và bình dân. 2. (kng, dùng
phụ sau d). Bình dân học vụ (nói tắt), giáo viên bình dân, lớp bình
dân. It.1. Của tầng lớp bình dân, dành riêng cho tầng lớp bình dân.
Văn học bình dân. Quán cơm bình dân. 2. Bình thường, giản dị, gần
gũi với quần chúng: tác phong bình dân, cách nói năng rất bình dân”
[23 - 68].
- Ngôn ngữ bình dân có thể được hiểu là ngôn ngữ giản dị, gần
với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân.
Trong văn học, ngôn ngữ bình dân gồm: Từ thuần Việt, từ láy, thi
liệu dân gian…
1.2 Biểu hiện của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm
bình dân
1.2.1 Từ láy trong truyện thơ Nôm bình dân
- Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: “Từ láy là những từ được cấu
tạo bằng cách nhân dôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao
cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối hài hòa với
nhau về âm và nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa”.
Trong tiếng Việt, từ láy là những từ có giá trị đặc biệt.
Với tính chất điệp âm thanh (một bộ phận hay toàn bộ từ), từ
láy đã tăng cường sắc thái cho câu thơ tiếng Việt. Cơ sở của sự tăng
Tổng số câu
Số lần sử
Trung bình số
trích trong tập
dụng từ láy
lần sử dụng từ
truyện
láy/số câu.
Hoàng Trừu
732
186
1/3,9
Tống Trân – Cúc
1782
251
Đầu non thăm thẳm khơi chừng ghê thay”
+ Trong “Nhị độ mai”
“Quê người phong cảnh đìu hiu
Trăng thanh gió mát dường chiều chuộng ai”
“Hoàng hôn gác mái chênh vênh
Truyền tìm quán khách bộ hành nghỉ ngơi”
- Thứ hai: đưa các từ láy lên phía trước các thực từ mà nó bổ trợ
ý nghĩa để hình thành những đảo ngữ. Và những cụm từ đảo trang này
thường mang lại hiệu quả diễn đạt cao cho câu thơ.
Ví dụ:
+ Trong “Hoàng Trừu”:
“Mênh mông giữa chốn hải hà
Lòng trời còn tựa phúc nhà còn may
Cho nên trôi dạt đến đây
7
Bơ vơ thân gái đắng cay trăm đương”
+ Trong “Tống Trân – Cúc Hoa”:
“Bừng bừng vừa mới rạng ngày
Bảng vàng choi chói treo ngay cửa đền”
+ Trong “Nhị độ mai”
“Thênh thênh nhẹ bước thanh vân
Cành cây dám tưởng bận chân loan hoàng”
“Nhởn nhơ hoa cỏ đón chào
Hang men móc vượn, cây xào xạc chim”
“Tung nghe ra giọng đâm hông
Mặt ngăn ngắt tím, mắt sòng sọc trông”
* Về các kiểu từ láy được sử dụng
- Đa phần các từ láy được sử dụng trong các truyện thơ Nôm bình
(Nhị độ mai)
Theo tiến trình vận động của thể loại, các liên hợp từ láy
và từ láy tư xuất hiện ngày càng nhiều.
1.2.2 Thi liệu dân gian trong truyện thơ Nôm bình dân
- Thi liệu dân gian được hiểu là những thành ngữ, tục ngữ,
ca dao – những sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động.
- Các truyện Nôm “Hoàng Trừu”, “Tống Trân – Cúc Hoa”,
“Nhị độ mai” đều sử dụng đến các thi liệu dân gian, tuy nhiên
mức độ có khác nhau. Trong đó, “Hoàng Trừu” có 24 lượt thành
ngữ, 1 câu tục ngữ được sử dụng, không có ca dao. Ở “Tống
Trân – Cúc Hoa” số lượt sử dụng tục ngữ là 1, thành ngữ là 18.
Trong “Nhị độ mai” có 40 lượt thành ngữ, 5 lượt tục ngữ và 1
câu ca dao được sử dụng. (Theo kết quả thống kê trong khóa
luận “Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện thơ Nôm bình dân
trung đại” – ĐHSP Huế).
Nhìn vào kết quả thống kê trên có thể nhận thấy, thành ngữ
được sử dụng với số lượng cao hơn hẳn so với tục ngữ và ca
dao. Lý do của hiện tượng này nằm ngay ở lợi thế giàu hình
ảnh, khả năng tạo nhịp điệu và cấu trúc khá gọn nhẹ của thành
ngữ tiếng Việt. Ca dao và tục ngữ có thể không thua kém thành
ngữ về mức độ hàm xúc, thậm chí còn hơn hẳn thành ngữ ở khả
năng gợi dẫn các phạm vi ý nghĩa, kích thích tư duy của độc
giả, nhưng do các câu tục ngữ và ca dao đều tồn tại ở cấp độ
câu, có cấu trúc khép về nghĩa. Còn thành ngữ chỉ là một thành
9
phần của câu sẵn có , tự nó không diễn tả được một ý trọn vẹn
và cái ý không trọn vẹn của thành ngữ, người sử dụng có thể
làm cho nó trở nên trọn vẹn theo ý muốn chủ quan của mình.
(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Người tuổi tác, khách cô đơn
Để ai tan nghé, rẽ đàn vì ai?”
+ Mượn ý – rút gọn lời:
“Tấm thân lầm cát bấy chầy
Ví như nước đổ bốc đầy được không?”
(Hoàng Trừu)
“Phương chi thế sự bây giờ
Dễ dò bụng hiểm khôn lừa mưu gian”
(Nhị độ mai)
+ Mượn ý – tách lời:
“Thuyền son đỗ chẳng phải đầm
Như đàn cầm gảy tai trâu biết gì”
(Hoàng Trừu)
1.3 Gía trị của ngôn ngữ bình dân trong truyện thơ Nôm
bình dân
1.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ mối quan hệ
với một số yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật
Ngôn ngữ bình dân có vai trò rất lớn trong việc tạo vần,
luật, nhịp điệu cho câu thơ.
- Thơ lục bát Việt Nam rất chú trọng gieo vần. Hầu như
mọi yếu tố của hệ thống hình thức đều có thể ảnh hưởng đến
việc gieo vần trong thơ. Từ láy và các thi liệu dân gian cũng ảnh
hưởng đáng kể đến việc gieo vần trong truyện thơ Nôm bình
dân.
+ Các truyện thơ Nôm bình dân viết theo thể lục bát, những
từ láy ở vị trí giữa và cuối câu chiếm tỉ lệ rất cao, đó đều là
những vị trí gieo vần (chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 6
của câu bát). Vì vậy, những từ láy được bố trí ở hai vị trí này có
vai trò rất lớn trong việc gieo vần cho câu thơ.
thành ngữ, tục ngữ vào việc tạo nhịp cho câu thơ.
“Âm thầm /liệu bảy lo ba” (Hoàng Trừu)
“Vinh quy bái tổ/tên chàng Tống Trân”
12
(Tống Trân – Cúc Hoa)
“Ông rằng/nhục nhớn nan tri”
(Nhị độ mai)
=> Trong những câu thơ này, các thành ngữ, tục ngữ góp phần
tạo nhịp 4 cho câu thơ lục bát.
Hay tạo ra nhịp 2/2/2: “Trứng rồng/lại nở /ra rồng”
(Hoàng Trừu)
+ Các từ láy được sử dụng trong các truyện thơ Nôm bình dân có
khả năng tăng cường ngữ điệu cho nhịp thơ. Đặc biệt là các từ láy liên
hoàn được vận dụng một cách khéo léo, khiến cho câu thơ như những
nốt nhạc lên xuống trầm bổng:
“Buồn thì bà quận bạn cùng
Giữ gìn/ tắm táp/ bé bồng/ tương liên”
(Hoàng Trừu)
“Thẹn thùng/ lững thững/ chân dời
Nàng e còn đứng, chàng coi đã tường”
(Nhị độ mai)
Như vậy, nhìn chung trong truyện thơ Nôm bình dân, sự tác
động của ngôn ngữ bình dân tới một số phương diện thuộc hình thức
nghệ thuật là khá rõ, từ đó chúng ta có được những câu thơ hay, giàu
sắc thái biểu cảm.
1.3.2 Gía trị của ngôn ngữ bình dân nhìn từ khả năng tạo
- Nhiều khi chỉ bằng một câu với sự góp công của từ láy, tác giả
đã lột trần được bản chất của nhân vật:
“Tung nghe ra giọng đâm hông
Mặt ngăn ngắt tím, mắt sòng sọc trông”
(Nhị độ mai)
Tác giả Nhị độ mai đã lợi dụng trọng âm của từ láy đôi “ngăn
ngắt” và “sòng sọc” để tăng cường độ nhấn và bộc lộ thái độ đánh
giá. Trọng âm của “ngăn ngắt” và “sòng sọc” đều nằm ở hai âm phía
sau. Các chữ “ngắt” và “sọc” cùng là âm trắc, nhờ đó, mức độ sắc thái
và âm hưởng của từ được nâng cao hơn rõ rệt so với các từ gần nghĩa
như: tím, tim tím, chằm chằm, lăm lăm,... Hơn nữa, khi đứng trước
các thực từ mà nó tham gia bổ trợ nghĩa (tính từ “tím”, động từ
“trông”), “ngăn ngắt”, “sòng sọc” đã làm cho đối tượng miêu tả
14
(khuôn mặt và ánh mắt kẻ gian thần) được khắc sâu với những nét rất
đặc trưng. Vì vậy, các từ láy âm: “ngăn ngắt”, “sòng sọc” đã giúp tác
giả “chộp” được thái độ của Hoàng Tung trong một khoảnh khắc khi
Mai Bá Cao dũng cảm vạch mặt y, qua đó người đọc thấy được lòng
hãi sợ của một kẻ chuyên gây điều ác.
*Thi liệu dân gian góp phần thể hiện nội dung thế sự
Do đặc trưng của mình, các thi liệu dân gian khi đi vào truyện
thơ Nôm bình dân đã thể hiện khá sâu sắc những trăn trở, suy tư của
người bình dân trước các vấn đề cuộc sống, trọng tâm là vấn đề tình
nghĩa, đạo đức và lẽ công bằng.
Các câu thành ngữ: “ngồi ăn núi lở”trong Truyện “Tống Trân –
Cúc Hoa” là những kinh nghiệm, suy tư và cũng là lời răn về giá trị
của lao động.
giả thời trung đại, trong đó có tác giả thơ Nôm bình dân đã tìm cách
“Việt hóa” các điển có nguồn gốc Trung Hoa bên cạnh việc sử dụng cả
những điển có trong sách vở xưa, trong các câu chuyện được lưu
truyền của dân tộc.
Số lần sử dụng điển trong các truyện thơ Nôm được khảo sát
như sau: “Hoàng Trừu”: 12 lần; “Tống Trân – Cúc Hoa”: 22 lần; “Nhị
độ mai”: 85 lần. (Theo kết quả khảo sát của khóa luận “Ngôn ngữ
nghệ thuật trong truyện Nôm bình dân trung đại”).
-
Cách thức sử dụng điển tích điển cố:
+ Những điển tích, điển cố được các tác giả giữ nguyên,
không có cải biên gì. Ví dụ: Lưu lang, Châu Trần (Hoàng Trừu), Lã
hậu, Hán hoàng (Tống Trân – Cúc Hoa),
“Lưu lang còn được bèn vời
Huống chi người cũng là người trần gian”
(Hoàng Trừu)
Lưu lang : chàng Lưu , người Trung Quốc ngày xưa đi lấy
thuốc lạc vào động thiên thai gặp tiên. Ý nói người ở trần cũng gặp
được tiên.
“Kìa như Lã Hậu đồn rằng
Hán Hoàng mới thác đã lòng riêng tây”
(Tống Trân – Cúc Hoa)
16
Lã Hậu – vợ Lưu Bang, tư tình với nhiều người. Hán Hoàng –
Hán Cao Tổ. Ý nói những ngường phụ nữ không chung thủy.
+ Những điển được Việt hóa.
“Trượng phu thật đấng trung nghì
Chẳng như ăn xổi ở thì mà lo”
(Hoàng Trừu)
“Đố ai biết mặt khôi hoa
Có hai chị gái biết là tiên cung”
“Nàng ấy có nghĩa thay là,
Nuôi chồng đi học đăng khoa bảng rồng”
(Tống Trân – Cúc Hoa)
2.2.3 Thành ngữ gốc Hán trong truyện thơ Nôm bình dân
Trong truyện thơ Nôm bình dân, thành ngữ gốc Hán được sử
dụng không nhiều: “Hoàng Trừu”: không có, “Tống Trân – Cúc Hoa”:
3 lần, “Nhị Độ Mai”: 5 lần
Trong 8 lần sử dụng, có tới 5 lần thành ngữ được dùng theo lối
biến cách, 2 lần giữ nguyên.
-
5 lần biến cách thành ngữ gốc Hán:
Thành ngữ biến
cách
1. “Tới kỳ mãn
nguyệt gặp đầu thai
sinh”
( Tống Trân – Cúc
Hoa)
2. “Giai lão bách
niên”
(Tống Trân – Cúc
Hoa)
3. “Vũ giá đằng vân”
(Nhị độ mai)
biến
+ “Đằng vân giá vũ” (NĐM)
(Số liệu thống kê được lấy từ khóa luận “Ngôn ngữ nghệ thuật
trong truyện thơ Nôm bình dân trung đại)
Tóm lại, thành ngữ gốc Hán trong truyện thơ Nôm bình dân ít
được sử dụng. Đa phần chúng được biến cách bằng các phương thức
khác nhau để thể hiện tốt nhất dụng ý của tác giả. Nhìn vào lịch sử văn
học và trong tương quan so sánh với thể loại khác, chúng ta thấy, việc
ít vận dụng thành ngữ gốc Hán trong các truyện thơ Nôm bình dân có
nguyên nhân từ đặc điểm lưu truyền, đối tượng thưởng thức và “tính
khách quan của ngôn ngữ thể loại”, trong đó, nguyên nhân sau đóng
vai trò trọng yếu.
2.3 Gía trị của ngôn ngữ bác học trong truyện thơ Nôm bình
dân
2.3.1 Gía trị của ngôn ngữ bác học bình nhìn từ mối quan hệ
với các yếu tố thuộc hình thức nghệ thuật
* Góp phần tạo vần, nhịp và cấu trúc câu thơ
- Các điển tích điển cố giữ vai trò tạo nhịp 4 cho câu thơ:
+ “Ngựa Hồ chim Việt” trong câu “Ngựa Hồ chim Việt/luống đau
phiền”
+ “Vũ giá vân đằng” trong câu: “Giữa trời/ vũ giá vân đằng/ đem
đi”
+ “Thanh ứng khí cầu”, trong câu: “Than rằng/ “thanh ứng khí
cầu”
+ “Họa chí vô đơn”, trong câu: “Lời rằng/ họa chí vô đơn/ cũng
thường”
+ “Nhục nhỡn nan tri” trong câu: “Ông rằng/ nhục nhỡn nan tri”
Điều thú vị ở các thành ngữ gốc Hán trong truyện thơ Nôm bình
dân là cả 8 lần xuất hiện đều dành để nói các nhân vật chính diện. Có khi
nó nằm trong lời nhân vật như: “nhục nhỡn nạn tri”, “thanh ứng khí
cầu”, “đồng tịch đồng sàng”, “giai lão bách niên”, “Ngựa Hồ chim
Việt”, cũng có khi nó là lời của người kể chuyện như: “mãn nguyệt khai
hoa”, “vũ giá đằng vân”, “đằng vần giá vũ” , “họa chí vô đơn”.
Ví như hai lần tác giả dùng thành ngữ gốc Hán để khẳng định tình
nghĩa vợ chồng đều được đặt trong lời nhân vật Cúc Hoa ở một hoàn
cảnh đặc biệt – Tống Trân, chồng nàng, phải đi sứ Tần:
20
“Vợ chồng đồng tịch đồng sàng
Anh giã ơn nàng nuôi mẹ anh đi”
Đó là những lời trân trọng, tha thiết của người vợ sau bao năm
nuôi mẹ đợi chồng “vinh qui bái tổ” nay buộc phải chấp nhận chia ly để
chồng đi sứ. Ở đoạn khác, câu 1083, cũng là lời Cúc Hoa than thở : “Ngỡ
là giai bão bách niên”. Trước lúc lên kiệu hoa trong một cuộc ép duyên
trắng trợn của người cha, Cúc Hoa lần giở 3 bộ quần áo, những kỉ vật
của 2 vợ chồng từ thưở hàn vi, ra xem (lúc này Tống Trân đang ở bên
nước Tần). Nàng không khỏi đau xót cho tình cảnh vợ chồng li tán.
Thành ngữ “giai lão bách niên” (hay bách niên giai lão) là lời chúc phúc
thường gặp trong các đám cưới và cũng là ước mong của cổ dâu, chú rể,
ngờ đâu, lúc này lại nằm trong lời than thở cho hạnh phúc không trọn!
Cả “đồng tịch đồng sàng” lẫn “giai lão bách niên” đều được sử dụng
trong những bối cảnh đặc biệt đã góp phần thể hiện và khẳng định tấm
lòng chung thủy của nhân vật Cúc Hoa.
* Góp phần thể hiện nội dung đạo đức, quan niệm nhân sinh
Sự có mặt khá dày các từ Hán Việt biểu đạt khái niệm tư tưởng,
tôn giáo, quan phương trong truyện thơ Nôm bình dân đã cho thấy khá rõ
2. Mặc dù vậy, trong truyện Nôm bình dân, ngôn ngữ chưa được
trau chuốt, chưa được gia công nghệ thuật nhiều. Từ ngữ sử dụng không
chính xác, không súc tích, ít có hình ảnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội.
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
(2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội
3. Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam, nửa cuối thế kỷ XVIII
đến hết thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội
4. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều, Viện Đông Nam Á, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội
5. Hoàng Phê (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ
22
học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học Hà Nội –
Đà Nẵng
6. Lê Văn Quán (chủ biên) (1993), Tổng tập Văn học Việt Nam, tập
14 A, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội
7. Lã Nhâm Thìn (chủ biên) (2015), Giáo trình văn học trung đại