Khoá luận tốt nghiệp ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 197 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN

TRÀN THỊ HƯƠNG

NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU
SAU 1975

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC








Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học
TS. LA NGUYỆT ANH

HÀ N Ộ I-2 0 1 5


LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, em
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo

Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Người cam đoan

Trần Thị Hương


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đ ề ..................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu....................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu...................................................................................... 5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên c ứ u ................................................................. 5
6. Phương pháp nghiên c ứ u ................................................................................6
7. Đóng góp của khóa luận.................................................................................6
8. Bố cục của khóa luận...................................................................................... 7
NỘI DUNG............................................................................................................. 8
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÈ NGÔN NGỮ NGHỆ
THUẬT VÀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN......................................................... 8
1.1.Giới thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật........................... 8
1.1.1. Khái niệm vê ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật.................................8
1.1.2. Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật trong văn h ọ c ........................... 9
1.1.3.Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn............................................. 10
1.2.

Nguyễn Minh Châu và quá trình sáng tạo nghệ thuật.......................12

1.2.1. Vài nét về tác giả Nguyễn Minh Châu................................................12
7.2.2. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyên Minh Châu................... 14

đã đổi mới về cách viết, cách tiếp cận đời sống, và đặc biệt chú ý đến đặc
trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của mình.
Ở chặng đầu trên hành trình đổi mới còn đầy khó khăn của nền văn
học, Nguyễn Minh Châu đã trải qua “ một cuộc trở dạ đầy đau đem” . Là nhà
văn quân đội, Nguyễn Minh Châu từng có những trang văn đầy hảo sảng và
được đánh giá cao trong những năm chiến tranh. Tuyên ngôn về sự đổi mới
với ý thức vượt qua giai đoạn văn nghệ “ minh họa” . Chính vì vậy, những
trang văn của ông sau 1975 có một sắc thái mới thể hiện rõ tinh thần dân chủ.
Đặc biệt, ở phương diện ngôn ngữ trong một không gian văn hóa, một tư duy
nghệ thuật mới sáng tác của Nguyễn Minh Châu cũng mang một sắc thái mới.
Mặt khác, sáng tác của Nguyễn Minh Châu được đưa vào các bậc học,
nghiên cứu chuyên sâu về bất cứ vấn đề nào xung quanh những sáng tạo nghệ
thuật của ông, đều có ý nghĩa thiết thực đối với việc học tập, nghiên cứu,

1


giảng dạy, sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói riêng và truyện ngắn nói
chung.
Khao khát tìm hiểu thể giới ngôn ngữ đặc sắc, độc đáo của Nguyễn
Minh Châu đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu đề tài: “Ngôn ngữ nghệ thuật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975”.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Minh Châu đã từng nói “Bất cứ một cây bút nào cũng không
thế làm công việc của cả một nền văn học. Miên ỉà môi người với tất cả tâm
lòng trân thành với cuộc sống, hãy ỉn cho thật sâu đậm dấu vết và bản sắc tư
tưởỉĩg cùng tiếng nói nghệ thuật riêng của mình - tức cũng là chút đóng
góp”.[2; tr307]. Sáng tác của Nguyễn Minh Châu ra đời gây được sự chú ý
của bạn đọc cũng như giới nghiên cứu, phê bình. Tính đến nay, tìm hiểu về
Nguyễn Minh Châu có nhiều công trình nghiên cứu về quá trình sáng tác,

Nguyễn Minh Châu có sự đối mới về cách tiếp cận đời sống và con người
trong thời đại đó. Có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu như
Những chuyến biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyên Minh
Châu sau ì 975 khóa luận của Nguyễn Văn Công - Trường Đại học sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh hay bài viết của giáo viên Nguyễn Thị Minh Tâm Trường THPT Võ Nguyên Giáp Những đôi mới trong quan niệm nghệ thuật
về con người của Nguyễn Minh Châu sau 1975. Một số nhà nghiên cứu văn
học cũng đã đưa ra một số nhận định liên quan đến ngôn ngữ nghệ thuật trong
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như Nguyễn Trọng Hoàn trong “Truyện
ngắn Bức tranh - sự đoi diện và thức tỉnh lương tâm ” đã có cái nhìn khái
quát về ngôn ngữ trần thuật, cách thức trần thuật, giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu khi nói rằng “Ớ Nguyễn Minh Châu còn
phải kể đếrt sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ đa thanh và thời gian,
không gian và đồng hiện. Khỉ lùi vào độc thoại nội tâm, khi chuyến sang đối
thoại trực tiếp, lúc cắt ngang bình luận ngoại đề, sự đan xen linh hoạt đó

3


khiến cho ngôn ngữ tác phấm có giọng điệu phức hợp, tạo nên hiệu quả cá
biệt hóa hình tượng nhân vật từ bình diện đến điếm

nhìn trần thuật”

[14; trl71].
Trần Đình Sử cũng thấy biệt tài của nhà văn trong việc sử dụng ngôn
ngữ trần thuật làm cơ sở hình thành hệ thống, giọng điều trần thuật sinh động,
phong phú và đa dạng, tác giả viết: “Anh là nhà văn có biệt tài sử dụng chi
tỉêt, miêu tả chân dung, môi trường, khăc họa tâm ỉỉ...anh ỉạỉ sành vận dụng
ngôn ngữ nửa trực tiếp, dựng lại được những giọng điệu khác nhau của nhân
vật”. [21; trl92]

Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung về khái niệm ngôn ngữ nghệ
thuật và đặc trưng cơ bản về thể loại truyện ngắn.
Tìm hiểu vị trí truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong nền văn học Việt
Nam và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
sau 1975.
Từ lí thuyết đã nêu vận dụng để nghiên cứu các tác phẩm cụ thể.Từ đó
giúp chúng ta khắng định những đóng góp của Nguyễn Minh Châu một cách
toàn diện về sự đổi mới nghệ thuật sau 1975.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
5.1. Đối tưọng nghiên cún
Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975
5.2. Phạm vi nghiên cún
Khóa luận bên cạnh đi tìm hiểu những nét chính về cuộc đời và sự
nghiệp của Nguyễn Minh Châu còn đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ
trong các truyện ngắn của ông, đặc biệt là truyện ngắn sau 1975.
Với khuôn khố một khóa luận tốt nghiệp và khả năng làm chủ các tư
liệu có hạn, chúng tôi tìm hiểu đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 cụ thể qua : Tuyển tập truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu.

5


Trong quá trình thực hiện đề tài người viết có thể so sánh với các tác
phấm thời kỳ trước để thấy những nét riêng, độc đáo trong nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
6. Phương pháp nghiên cứu
Cùng với việc sử dụng các phương pháp thường dùng trong văn học ở
khóa luận này chúng tôi tập trung vào các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học



NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỬNG VẤN ĐÈ CHƯNG VÈ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
VÀ THẺ LOẠI TRUYỆN NGẮN
1.1.Giói thuyết chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1.

Khải niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, con người sử dụng đế liên

lạc hay giao thiệp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả
năng sử dụng một hệ thống như vậy. Ngôn ngữ còn là một hệ thống tín hiệu
đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, cũng chính là phương tiện tư
duy và công cụ giao tiếp của xã hội. Gorki cũng khắng định: “Ngôn ngữ là
yếu tố thứ nhất của văn học là công, chất liệu cơ bản của văn học nên nó
được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ ” [ 15, tr.35].
Vậy ngôn ngữ nghệ thuật là gì?
Ngôn ngữ nghệ thuật còn được gọi là ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ sử
dụng trong tác phẩm văn chương. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn
học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hoá. Ngôn ngữ ấy được chọn
lọc, gọt rũa, chau chuốt,... và đặc biệt ngôn ngữ ấy phảỉ đem lại cho người
đọc những cảm xúc thẩm mĩ, xúc cảm được nhận biết thông qua những rung
động tình cảm.
Theo Từ đỉến thuật ngữ văn học, ngôn ngữ văn học: “là một trong
những yếu tố quan trọng thế hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng
của nhà văn, môi nhà văn lớn bao giờ cũng là tỏa sáng về mặt hiếu biết sâu
sắc ngôn ngữ nhân dân, cẩn cù lao động đế trau dồi ngôn ngữ trong quá trình
sảng tác ” [10; tr215].

ngữ, quá trình tích luỹ ngôn ngữ, vốn hiểu biết về văn hoá... của tác giả.

9


Vì vậy, ta không thể phủ định vai trò to lớn của ngôn ngữ nghệ thuật
đối với sáng tạo văn học và mỗi thời đại, mỗi thể loại lại có những đặc trưng
ngôn ngữ riêng.
1.1.3.Ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn
1.1.3.].

Thế loại truyện ngăn

Truyện ngắn là một thế loại hết sức quen thuộc và gẫn gũi nhưng đế
tìm một định nghĩa đầy đủ và chính xác thì không hề dễ. Theo Từ đỉến thuật
ngữ văn học, truyện ngắn được xác định như sau: “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ.
Nội dung của thế loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời
sống: đời tu, thế sự hay sử thỉ nhung cải độc đáo của nó là ngắn. Truyện
ngắn được viết ra đế tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ ”
[10; tr370].
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “truyện ngắn là tác
phắm tự sự cỡ nhỏ, được viết bằng văn xuôi... Nét nối bật của truyện ngan là
sự giới hạn về dung lượng... [1; tr345].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều có sự thống nhất khi giới thiệu về
thể loại truyện ngắn trước hết qua dung lượng, qua tính chất của nó và xem:
“hình thức tự sự nhỏ, ngắn” trở thành đặc điểm và dấu hiệu để người đọc
nhân diện nó.
1.1.3.2. Đặc trưng ngôn ngữ của truyện ngắn
Truyện ngắn là một kiểu tư duy mới, sự nhận thức mới về cuộc đời mới
và nó cũng có những đặc trưng cơ bản sau:

Châu, tuy không phủ nhận những thành tựu của mảng tiểu thuyết nhưng vẫn
cho rằng:

. .cải mà nhà văn đế lại cho đời lại không phải là những tác phâm

dài hơi ấy, mà là dăm ba truyện ngan ỉn rải rác trên báo chí, trong các tập
truyện cuối đời của anh'’ [6; tr.346]. Đi vào tìm hiểu sự nghiệp sáng tác văn
chương của Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn, nhất là giai đoạn sau 1975,
ta thấy truyện ngắn có một vị trí đặc biệt trên nhiều bình diện: lượng, chất,

11


nhịp độ chuyển biến, khả năng thể hiện tư tưởng nghệ thuật đáp ứng tinh thần
“tiên phong” trong hoạt động sáng tác của nhà văn,...
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không
gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về
cuộc đời và tình người. Ket cấu của truyện thường là một sự tương phản, liên
tưởng và bút pháp trần thuật thường là chấm phá.
Đặc điểm quan trọng của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung
lượng lớn đối với lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo ra cho tác phẩm những
chiều sâu chưa nói hết. Các đặc điểm đó khiến sắc thái ngôn ngữ trong truyện
ngắn có những đặc thù riêng.
Ngoài ra giọng điệu cũng hết sức quan trọng làm nên cái hay của truyện
ngắn.
Có thế nói đặc trưng của thế loại đã chi phối đặc trung ngôn ngữ của
truyện ngắn như một yêu cầu ngôn ngữ truyện ngắn phải chính xác, hàm súc
có độ nén cao, đa nghĩa.
Như vậy, những đặc trưng truyện ngắn đã đưa thể loại này thành một
thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống thường ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn

trở ra Hà Nội, nhưng có lẽ dải đất miền Trung mới là miền đất để lại cho ông
nhiều yêu thương nhất. Những năm cuối đời, ông còn ấp ủ dự định viết một
cuốn tiểu thuyết của cuộc chiến ở thành cổ Quảng Trị, rất tiếc ông không thể
hoàn thành vì ông đột ngột ra đi khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất.
Sau hơn một năm trời vật lộn với căn bệnh ung thư máu hiểm nghèo, ông đã
vĩnh viễn chia tay cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại viện Quân y
108 Hà Nội.
Với những đóng góp của mình với nền văn học Việt Nam, Nguyễn
Minh Châu đã nhận được nhiều giải thưởng trong đó có Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học và nghệ thuật năm 2000.

13


1.2.2. Quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu
Là một nhà văn quân đội, tiếu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu viết nhiều về đề tài chiến tranh như một điều tất yếu. Tác phẩm Dấu
chân người lính của ông từ lúc ra đời đã được bạn đọc và giới nghiên cứu
đánh giá cao, được xem như là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu về thời
kì chống Mĩ. Bám sát hiện thực đời sống những năm chiến tranh, các sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trước 1975 với những sáng tác; Cửa sông, Những
vùng trời khác nhau...âầ cho chúng ta cái nhìn tương đối trọn vẹn về một thời
kì hào hùng của dân tộc.
Sau 1975, hiện thực cuộc sống đòi hỏi văn học phải có sự nhìn nhận
toàn diện và thấu đáo hơn. Là một nhà văn luôn có ý thức gắn bó với đời
sống, nhạy cảm với những thay đổi của thời cuộc. Nguyễn Minh Châu đã sớm
nhận ra những vấn đề mới của đất nước ngay vào thời điểm chuyển giao từ
chiến tranh sang hòa bình. Ông có nhiều chuyển biến ngoạn mục với nhiều
tìm tòi đối mới về tư tưởng và nghệ thuật. Nhà văn Nguyên Ngọc từng nhận
định “ Nguyên Minh Châu thuộc số những nhà văn mở đường tinh anh và tài

vật, hiên tượng.
Từ những năm 80 trở đi, Nguyễn Minh Châu có sự tìm tòi, thế nghiệm
mới. Quan niệm mới về nghệ thuật đã chi phối làm thay đổi cách kiến tạo
ngôn ngữ. Tạo nên một không gian nghệ thuật mới ở đó nhà văn vừa là chủ
thể sáng tạo vừa là phát ngôn chủ thể giao tiếp tạo ra những cuộc đối thoại gọi
mời sự đồng sáng tạo. Cũng theo đó, những sáng tạo ngôn ngữ đồng thời đưa
nhà văn lên một vị trí mới trở thành nhà tư tưởng.
Có thể nói, với sự đào sâu vào đặc trưng của thể loại văn học cùng các
tính sáng tạo độc đáo truyện ngắn, Nguyễn Minh Châu đã đạt tới nét tiêu biểu
của truyện ngắn. Với dung lượng ngắn, truyện ngắn có một khả năng bao quát
hiện thực với những chi tiết, tính cách, nhân vật, kết cấu, cốt truyện mang tính
điển hình cao độ và sức khái quát cao tạo một sức liên tưởng mạnh mẽ nơi

15


người đọc. Vì vậy, Nguyễn Minh Châu đã từng quan niệm “một truyện ngắn
bao giờ cũng có khả năng tạo ra trong đông đảo người đọc một sức liên
tưởỉĩg rộng rãi và bao quát vuợt ra ngoài khuôn khố của những trang truyện
ít ỏi của bản thân n ó ” [8; tr434].
Ở Nguyễn Minh Châu, sự đổi mới mạnh mẽ trong ý thức nghệ thuật
luôn đi liền với những tìm tòi đối mới trong sáng tác của nhà văn. Người đi
tiên phong ấy không tránh khỏi những khó khăn nguy hiếm, thiệt thòi và sự
đơn độc trong những bước khởi đầu của hành trình tìm kiếm mở đường. Điều
quan trọng là Nguyễn Minh Châu “với sự dũng cảm rất điềm đạm” [17; trl 5]
đã kiên trì dẫn bước trên con đường đã chọn của mình. Và ông xứng đáng là
“người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là
người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ sau này”. [17; tr46].
Nguyễn Minh Châu khi sáng tác những tác phấm mang đậm không
khí sử thi hào sảng của thời đại đã thầm lặng suy nghĩ về những bước đi sắp

Châu là một quan niệm đặt trên nền tảng tinh thần nhân bản: “ Văn học và đời
sống ỉà những vòng tròn đồng tâm mà tâm điếm là con người”[12]. Nhà văn
tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là: làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho
những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con
người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và
đoạ đầy đến.
Nguyễn Minh Châu là người sớm nói lên khát vọng dân chủ trong đời
sống văn nghệ và tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, điều mà nhà văn trăn trở
từ lâu nhưng chỉ có thể bộc lộ khi có công cuộc đối mới. Ông đã nhận thấy,
suốt một thời gian dài nhà văn của ta “chỉ được giao phó công việc như một
cán bộ truyền đạt đường loi, chính sách bằng hình tượng văn học sinh
động”[12], đội ngũ cầm bút được “chăm sóc, chăn dắt quá kỹ ỉưỡng”[\ 1] để
không đi chệch khỏi định hướng nhiệm vụ đó.

17


Với quan điếm nhân bản, Nguyễn Minh Châu thế hiện sự cảm thông
sâu sắc với những con người bị số phận dồn đấy vào những bi kịch không thế
nào thoát ra được. Chiến tranh chẳng những đã phạt ngang cuộc đời của Lực
và Thai ra làm hai nửa, mà còn đem đến số phận bi kịch cho hầu khắp mọi
nhân vật trong Cỏ lau. Tất cả họ đều là nạn nhân của chiến tranh với những
mất mát không thế nào bù đắp được những cuộc đời dang dở và không có gì
chờ đợi họ ở phía trước. Neu Hạnh - Bên đườỉĩg chiến tranh là biếu tượng cho
tình yêu và niềm tin ở người phụ nữ vẫn cất giữ vẹn nguyên qua bao nhiêu
biến động, của chiến tranh và thời gian thì Quỳ - Người đàn bà trên chuyến
tàu tốc hành lại là một tính cách, có vẻ dị biệt nhưng thật độc đáo và đầy sức
ám ảnh. Người phụ nữ ấy với rất nhiều khả năng và cũng rất nhiều ham hố,
luôn khát khao đi tìm cái tuyệt đối, luôn hành động một cách khác thường, để
rồi phải dành cả đời mình đế sửa chữa những lầm lạc, cực đoan của chính

được. Các yếu tố, sự kiện bên ngoài: chỉ là những tác nhân đế kích thích, khêu
gợi các trạng thái tâm lí với những hồi tưởng, suy tư của nhân vật. Độc thoại
nội tâm được khai thác như một thủ pháp quan trọng nhất đế các nhân vật tự hiện
diện đời sống bên trong của nó, đặc biệt là loại nhân vật tư tưởng, nhưng cũng
không thiếu ở các nhân vật tính cách, các thân phận đời tư. Thủ pháp này đạt đến
sự thuần thục, nhuần nhuyễn và hiệu quả cao trong Phiên chợ Giát.
Ngôn ngữ đối thoại được sử dụng nhiều trong các sáng tác của Nguyễn
Minh Châu sau 1975. Qua cuộc đối thoại với các nhân vật, tác giả đế các nhân
vật của mình tự chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống mà họ đã trải qua như nhân
vật Nhĩ trong Ben quê, Quỳ trong Người đàn bà trên chuyến tài tốc hành.
Ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn Minh Châu cũng có nhiều tìm tòi. Đó
là sự nói lỏng cốt truyện, tạo tình huống, việc thay đổi linh hoạt điểm nhìn trần
thuật, sử dụng thường xuyên các biểu tượng và đổi mới giọng điệu trần thuật.

19


CHƯƠNG 2
ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975

Hiểu được vai trò to lớn của ngôn ngữ đối với một tác phẩm của văn
chương, nhà văn nghiêm khắc lựa chọn từ ngữ phù hợp nhất với từng chủ đề,
từng đối tượng thể hiện. Xuyên suốt những truyện ngắn sau năm 1975 của
Nguyễn Minh Châu chúng tôi nhân thấy: Đe tạo nên đặc sắc ở mỗi truyện,
nhà văn đã đưa vào trong tác phẩm của mình ngôn ngữ đậm chất hiện thực và
rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Bên cạnh đó ngôn ngữ đậm chất trữ
tình, ngôn ngữ đậm chất triết lý, suy tư cũng là một phương diện khiến văn
của ông khá sâu sắc và lãng mạn.
Như vậy phải đến những năm sau 1975, xuất phát từ yêu cầu của cuộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status