TRƯỜNG ĐẠI HỌC su' PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮVẤN
PHẠM THỊ LƯỢNG
BIỆN PHÁP TÁCH CÂU TRONG TRUYỆN
NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ họcNgười hướng dẫn khoa họcThS - GVC LÊ KIM NHUNG
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo Lê Kim Nhung
-
giảng viên tô Ngôn ngữ, người đã tận tình giúp đờ, hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong tổ Ngôn ngữ cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ
Văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập,
nghiên cứu.
Hù Nội, ngày 5 thảng 5 năm 2015 Sinh viên
Phạm Thị Lượng
Khóa luận tất
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của
bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS - GVC Lê Kim Nhung.
Đe tài này không trùng với kết quả của tác giả khác.
Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong hoàn cảnh cụ thể,
nhằm một mục đích nhất định. Tách câu là biện pháp tu từ đặc trưng được nhà văn sử
dụng trong ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ kịch và trong một số phong
cách chức năng khác nhau. Tìm ra cách diễn đạt khác với bình thường thông qua tách
câu, sử dụng câu tách biệt cũng là một quá trình tìm tòi đôi mới của nhà văn, nhà thơ.
Tuy nhiên, sử dụng biện pháp tách câu của các tác giả khác nhau tùy thuộc vào phong
cách của mỗi nhà văn.
1.2. Trong các nhà văn Việt Nam đương đại, Nguyễn Thị Thu Huệ là cây bút
được nhận xét là có khả năng làm “nóng bầu không khí văn chương” nước nhà. Nhiều
độc giả biết đến chị bởi phong cách riêng độc đáo và cuốn hút mà cây bút trẻ này đã tạo
dựng được ở tác phấm của mình. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ đã được rất
nhiều nhà nghiên cứu phê bình quan tâm. Tuy nhiên tiếp cận tác phâm của chị họ mới
chỉ dừng lại ở góc độ bài nghiên cứu ngắn không quá mười trang. Tìm hiểu truyện ngắn
của Thu Huệ từ góc độ ngôn ngữ đang được quan tâm vì ở mặt này Nguyễn Thị Thu
Huệ trong một chừng mực nào đó tiêu biếu cho xu hướng có sự sáng tạo trong cách viết.
Trong đó đáng chú ý là việc sử dụng biện pháp tách câu. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài:
“Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ” để góp phần hiếu rõ hơn
phong cách truyện ngắn của nhà văn nữ này. Đồng thời việc tìm hiểu về biện pháp tách
Khóa luận tắt
biệt trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có ý nghĩa góp thêm tư liệu đi sâu vào
giảng dạy, học tập truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Biện pháp tách câu
2.1.1.
Nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp
“tỉnh lược” nhìn chung, cũng tức là lặp thừa phần tương ứng nầm ở câu lân cận hữu quan,
nhất là đối với những câu “tỉnh lược” cả chủ ngừ lẫn vị ngữ.
Những “câu” được nhấn mạnh trong ví dụ trên (và những câu tương tự chúng) là
nhừng biến thể của câu nhưng không mang đầy đủ các đặc trưng cần yếu trong câu. Mặt
khác, chúng cũng không thuộc về những đơn vị bậc thấp trong câu, chúng là những biến
thể dưới bậc của câu, gọi tắt là “câu dưới bậc”. Câu dưới bậc chứa vị ngữ thì tự nó đã có
tính vị ngữ, ta sẽ gọi nó là câu dưới bậc có tính vị ngữ tự thân. Câu dưới bậc không chứa
vị ngừ thì tính vị ngừ của nó sẽ có tính lâm thời, tức là chỉ có được trong trường hợp sử
dụng cụ thê, đó là câu có tính vị ngừ lâm thời.
Câu dưới bậc có tính vị ngữ lâm thời chính là hiện tượng tách câu mà chúng ta
đang xét. Đó là những câu dưới bậc vốn tương đương với chủ ngữ, hoặc chỉ tương đương
với thành phân phụ của câu hay thành phân phụ của từ trong câu lân cạn hữu quan, nếu ta
sát nhập vào câu lân cận đó. Căn cứ vào khả năng này chúng ta có ba kiêu nhỏ chủ yêu
sau đây.
- Câu dưới bậc tương đương với chủ ngữ.
Ví dụ:
“Tiếng hát ngừng. Cả tiêng cười”.
(Nam Cao)
- Câu dưới bậc tương đương với thành phần phụ của câu.
Ví dụ:
“Ngay buôi chiêu hôm đó. Mặt biên trở lại thanh bình”.
(Nguyễn Tuân)
- Câu dưới bậc tương đương với thành phần phụ của từ.
Ví dụ:
“Tỏi nghĩ đến sức mạnh của thơ. Chức năng và vinh dự của thơ”.
Khóa luận tắt
“Nói xong, anh ta vùng đứng lên, giơ tay chào mọi người rồi đi ra cửa. Mọi người nhìn
theo anh ta. Im lặng”.
(Nguyễn Ngọc Tư)
Tác giả nêu hiệu quả và cách sử dụng biện pháp này như sau:
- Cụ thê hóa nội dung của bộ phận trung tâm.
Khóa
tắt xúc của chủ thê.
- Đặc tả trạng thái
tâmluận
lí - cảm
- Mô tả hoàn cảnh, điều kiện, chi tiết của những biến cố được nói đến.
- Chuyến hóa thông báo một cách tự nhiên và sinh động, gắn kết các mảnh đoạn
của văn bản, tạo mảnh đoạn mới.
- Hoàn thành chức năng tạo nhịp điệu cú pháp, nâng cao tính tình thái cho câu
văn; tạo nên những điểm dừng, điểm nhấn, làm nối bật đặc điểm kết cấu của lời văn.
Tác giả cũng khăng định: “Cớ thê nói, tách biệt xuât hiện khả nhiêu trong thơ và
đem lại một tác dụng biêu cảm - cảm xúc khả lớn”.[3, tr 264]
2.1.2.2. Cùng quan điểm nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thái Hòa trong
“Phong cách học tiêng Việt” đã nhận xét: “Tách các thành phần câu, nâng các thành phần đó
thành những câu, ngữ trực thuộc và câu dưới bậc là một biện pháp tu từ quan trọng”. [3, tr 243]
Mặc dù cả hai tác giả trong cuốn sách đã nêu lên một số tác dụng của biện pháp
tách câu, khăng định hiệu quả tách câu, nhưng mới chỉ dừng lại là những gợi ý, những
nhận định cơ bản nhất và cũng chỉ dừng lại ở việc lấy ví dụ tách vị ngữ, chưa đưa ra bảng
phân loại cụ thê của các trường hợp tách câu.
2.1.2.3. Tác giả Nguyễn Minh Thuyết trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” - NXB
Giáo dục, 1997 ở phần “Rên luyện kĩ năng đặt câu” đã nêu định nghĩa về tách câu như
Đẹp nhất”.
(Vũ Thư Hiên)
-
Tách vế của câu ghép Ví dụ:
“Bác dư sức trở thành nhà vãn lớn của Châu Âu hay
mộtnhà thơ thiên tài
Châu Ả. Neu như không có những cái khác lớn hơn Bác”.
(Chế Lan Viên)
Tác giả còn nêu tác dụng của việc tách một bộ phận của câu thành câu riêng biệt,
đó là:
-
Làm nổi thông tin ở nòng cốt câu.
-
Làm nổi rõ thông tin trong bộ phận câu được tách riêng ra.
-
Tạo điều kiện đê chuyển sang một chủ đề khác.
-
Thể hiện những ý nghĩa nhất định trong miêu tả sự vật, sự
câu trong văn xuôi Nguyễn Tuân.
- Trần Minh Phượng - K34C - Khoa Ngữ Văn, Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp
tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Như vậy, dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau có những đánh giá riêng theo
cách của mỗi người nhưng cuối cùng các tác giả mới chỉ đi vào giới thiệu khái quát lí
thuyết chứ chưa đi sâu vào phân tích, trên cơ sở những gợi ý trên chúng tôi đi sâu vào tìm
hiêu biện pháp tách câu và hiệu quả của nó trong truyện ngăn Nguyễn Thị Thu Huệ.
2.2. Nghiên cứu về tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ
2.2.1.
2.2.1.1.
Nghiên cứu từ góc độ văn học, lí luận văn học
Các bài viết, bài nghiên cứu ở góc độ văn học, lí luận văn học trong
truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Nguyễn Thị Thu Huệ bắt đầu được độc giả yêu mến từ khi có tác phâm “Hậu thiên
đường” in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 9 năm 1993. Tuy rằng trước đó Thu
Huệ đã được giải songKhóa
chưa luận
đê lạitắt
nhiều dấu ấn trong lòng độc giả. Đen cuộc thi truyện
ngắn của Tạp chí Quân đội 1992-1994, Nguyễn Thị Thu Huệ mới nổi lên như một ngôi
sao sáng trên văn đàn. Mặc dù số lượng tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ không nhiều
nhưng đóng góp của nhà văn không phải là nhỏ. Nhừng sáng tác của Thu Huệ đă đế lại
những giá trị đáng kế khắng định vị trí của chị trong lòng bạn đọc. Cho tới hiện tại,
Nguyễn Thị Thu Huệ đã có 4 tập truyện ngắn và một số tác phâm in chung.
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy cho đến nay có một số bài viết của các nhà
nghiên cứu có uy tín quan tâm tới sáng tác của nhà văn ở một số khía cạnh khác nhau,
nhân vật và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ.
Nhà văn Hồ Phương lại lưu ý đến vốn sống và sự trải nghiệm trong truyện ngắn
của Thu Huệ khi nhận xét: “Trong các tác giả trẻ, Thu Huệ là cây bút hết sức sắc sảo.
Đọc Huệ tôi ngạc nhiên lắm, sao còn ít tuổi mà Huệ lại lọc lõi thế. Nó như con mụ phù
thủy lão luyện. Nó đi guốc trong bụng mình. Ruột gan mình có gì hình như nó cũng biết
cả”.
2.2.1.2. Khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 2 tìm
hiếu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ văn học, lí luận văn học.
-
Thời gian và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ
- Vũ Thị Hạnh - K35 - Khoa Ngừ Văn.
- Nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại: Võ Thị Hảo,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư - Nguyễn Thị Thuận - Khoa Ngữ Văn.
- Gia đình thời hiện đại trong truyện ngắn của một số tác giả nữ: Nguyễn Thị Thu
Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư - Nguyễn Thị Lê Thùy - Khoa Ngữ Văn.
- Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Nguyễn Thị Thùy
- Khoa Ngữ văn.
2.2.2.
Nghiên cứu ở góc độ ngôn ngừ
Các bài viết nghiên cứu ở góc độ ngôn ngữ trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Khóa luận tắt
sâu vào tìm hiêu hiệu quả của việc sử dụng câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Các bài viết chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát.
2.22.2.
Khóa luận, luận văn tốt nghiệp của sinh viên trường ĐHSP Hà Nội 2 tìm
hiếu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ ngôn ngữ.
-
Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại: Nguyễn Thị Thu
Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư - Chu Thu Hiền - Khoa Ngữ Văn.
-
Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Nguyễn Thị Huyền Trang Khoa Ngừ Văn.
-
Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - Thiều Thị Hạnh - Khoa
Ngữ Văn.
Như vậy, việc nghiên cứu về Nguyễn Thị Thu Huệ là một vấn đề cần thiết và có
nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Trên cơ sở các bài nghiên cứu của các tác giả đi trước,
chúng tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ”. Hi vọng sẽ đưa ra được kết quả thống kê, phân loại, nhận xét bước đầu về mức độ
sử dụng và hiệu quả nghệ thuật của các trường hợp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ từ góc độ tu từ học ngữ pháp.
-
Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu trong một số trường họp tiêu biếu. Từ đó
rút ra nhận xét về tác dụng của biện pháp tách câu.
4. Đối tưọ'ng và giới hạn phạm vi nghiên cửu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tìm hiêu “Biện pháp tách câu trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”.
4.2. Giới hạn phạm vỉ nghiên cứu
4.2.1.
-
Giới hạn nội dung
Dựa vào khái niệm và kiến thức lí thuyết về tách câu đe nhận diện các trường hợp tách
câu trong các trường hợp cụ thê của các tác phâm thuộc .
-
Xác định hiệu quả tu từ của phép tách câu trong các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu
Huệ.
4.2.2.
Giới hạn thống kê
Đê thực hiện khóa luận, tác giả khóa luận đã tiến hành thống kê phép tách câu
trong các tác phấm của Nguyễn Thị Thu Huệ ở các tập truyện “Cữ/ đợi” (NXB Hà Nội,
1992), “Hậu thiên đường” (NXB Hội nhà văn, 1995), “Phù thủy” (NXB Văn học,
5.3. Phương pháp phân tích
Phương pháp này được dùng trong các trường hợp:
-
Xem xét đặc điêm câu trúc cú pháp của câu, của đoạn văn bản
-
những
đơn
vị cú pháp được tạo ra từ phép tách câu.
-
Xem xét chức năng biếu đạt nội dung thông báo, nội dung cảm thụ..của những đơn vị cú
pháp được tách biệt nhằm mục đích tu từ.
5.4. Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng khi cần tái hiện lại một ngữ liệu hoặc khi cần
miêu tả cấu trúc cú pháp của ngừ liệu đó.
5.5. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh dùng đế đối chiếu hai hay nhiều cấu trúc cú pháp có giá trị
tương đương (có thê tương đương về cấu trúc cú pháp hoặc cấu trúc về nghĩa) nhăm là cơ
sở đê xác định hiệu quả việc sử dụng các biên thê cú pháp được tạo ra từ phép tu từ tách
câu.
5.6. Phương pháp tông hợp
Sử dụng sau quá trình phân loại, phân tích đê xác định hiệu quả của phép tách câu
hoặc đế rút ra những nhận xét, những kết luận cần thiết.
6. Đóng góp của đề tài
-
vê ngữ pháp và vê ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo quy tăc của một ngôn ngữ nhất định, là phương
diện đê biêu đạt tư tưởng, thải độ của người nói với hiện thực”.
Đinh Trọng Lạc cho răng: “Câu là lời nói diên đạt một ỷ tương đổi trọn vẹn”.
(Sổ tay tiếng Việt THPT- NXB Hà Nội, 1994).
Đe có thể đưa ra một khái niệm về câu một cách hoàn chỉnh và hợp lý, tác giả
Diệp Quang Ban đã nhận xét về câu trên hai phương diện:
- về mặt ngữ pháp, khi so sánh câu với văn bản, câu là đơn vị cấu trúc ngừ pháp
mang nghĩa, văn bản là đơn vị nghĩa có cấu trúc khác nhau.
- Vê mặt tô chức nội bộ của câu, câu là một khúc đoạn ngôn ngừ tập trung xung
quanh một vị ngữ (yếu tố trung tâm của câu về ngữ pháp và ngữ nghĩa), và được dùng đe
diễn đạt một sự việc.
Từ hai mặt xem xét trên, tác giả đưa ra định nghĩa về câu như sau:
Khóa luận tắt
“Câu (cảu đơn) là đơn vị lớn nhất của mặt câu trúc trong tô chức ngữ pháp của một ngôn
ngừ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngừ tập trung xung quanh một vị ngừ (vị tô), và được
dùng đê diên đạt một sự thê (hay một sự việc)” [1, tr 7].
Định nghĩa trên có tính khái quát cao, không phân biệt ngôn ngữ nói và viết,
không phân biệt ngôn ngừ thuộc các loại hình khác nhau, chỉ kiêu nghĩa rõ nhất và tương
đối ổn định trong một câu là nghĩa chỉ sự việc, chưa tính các kiêu câu khác.
Trong giáo trình “Ngừ pháp tiếng Việt”, 2002 Đỗ Thị Kim Liên đã định
nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quả trình suy nghĩ được gắn với ngữ cảnh nhất định
nhăm mục đích thông báo hay thê hiện thải độ đảnh giả. Câu cỏ câu tạo ngữ pháp độc lập và cỏ
ngữ điệu kêt thúc”.
1.1.2.
Tiêu chỉ phân loại câu
CN; Cô ấy.
VN: là y tá.
- Phân loại câu đơn
+ Câu đơn hai thành phần.
+ Câu đơn đặc biệt.
+ Câu đơn mở rộng nòng cốt câu: thành phần phụ của câu.
+ Câu đơn mở rộng thành phần câu: thành phần phụ của từ.
+ Câu dưới bậc.
• Câu ghép
- Khái niệm: Câu ghép là câu có từ hai kết cấu c - V trở lên. Các kết cấu c - V ấy
không bao nhau song chúng lại có ý nghĩa quan hệ chặt chẽ về mặt ngữ pháp.
Ví dụ 1: Vợ anh không kêu mà bà trùm cũng không giục rặn nữa.
(Nguyễn Công Hoan)
CN1: Vợ anh VN1: không
kêu CN2: bà trùm VN2:
không giục rặn nữa
- Phân loại câu ghép:
+ Câu ghép đẳng lập.
+ Câu ghép chính phụ.
1.2.Biện pháp tách câu
1.2.1.
Biện pháp tách câu
1.2.1.1. Định nghĩa
Tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “Tách câu là biện pháp tu từ đặc trưng của cú
pháp biêu cảm, cụ thê là tách riêng một cách có dụng ý từ câu trúc cú pháp thống nhất ra
sử dụng trong văn nghệ
thuật,
văn chính luận và đem lại những khả năng biếu
cảm - cảm xúc nhất định.
1.2.1.2. Hiệu quả tu từ của biện pháp tách câu
• Tách câu được dùng đê khăc họa rõ nét hình tượng nhân vật.
Ví dụ:
“Dung là cô gái bà béo chủ nhà. Chăng đẹp gì nhưng cũng mũm mĩm và trăng
trẻo. Mà lại là con một. Mà lại diện. Cô diện nhât vùng này”.
(Nam Cao)
• Tách câu được dùng đê mô tả hoàn cảnh, điều kiện chi tiết của biến cố được nói
tới.
Ví dụ:
“Đôi mắt ấy nhìn tôi, ngập ngừng nhiều lần. Lặng im nhiều lần. Rồi mới
Khóa luận tắt
hỏi”.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)
• Tách câu có thê thấy chức năng chuyển hóa thông báo một cách tự nhiên và
sinh động, có giá trị như một sự đánh dấu các đoạn văn bản liên đới với nhau, gắn kết các
đoạn văn bản, tạo đoạn văn bản mới.
• Tách câu hoàn thành chức năng tạo nhịp điệu cú pháp, nâng cao tính tình thái
cho câu văn. Trong chuồi ngừ lưu, tách câu tạo nên những điểm dừng, điểm nhấn.
Ví dụ:
(Nguyễn Thị Thu Huệ)
Dựa vào chức năng ngữ pháp thì bộ phận được tách ra đồng chức năng với bộ
phận câu trước nó.
Theo tác giả Hoàng Kim Ngọc trong cuốn “Tiếng Việt thực hành” - Nxb Văn hóa Thông
tin - 2007 thì “ Câu bị tách bao giò' cũng phải năm sau một câu trọn
vẹn nào đó” và có thê kiêm tra băng cách “nêu bỏ dâu châm, nó sẽ trở thành một bộ phận của câu
trước”.
Ví dụ:
“Bầu trời bồng tối sầm lại như mực. Đen thui”.
Hoặc là bộ phận tách cùng có thê là một vế của câu ghép.
Ví dụ:
“Em hay mua sắm cho tôi. Bởi tôi nghèo”.
(Nguyễn Thị Thu Huệ)
Những câu được tách ra như trong ví dụ trên nếu đứng một mình hay xét từ bên
trong thì chúng là những câu không đầy đủ, câu què câu cụt (câu sai cú pháp). Nhưng
nếu nhìn chúng từ bên ngoài, trong mối quan hệ với những câu khác (đi trước hoặc đi sau
chúng) thì chúng là những câu bô sung thêm hoặc chuấn bị cho những câu mà chúng có
liên hệ về ngữ pháp và ngữ nghĩa.
1.2.2.2.
Dựa vào hiệu quả tu từ
Tách câu là một biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tách câu luôn được sử dụng
với mục đích và dụng ý của người viết. Vì thế sử dụng phép tách câu mang lại một hiệu
quả nhất định. Nhận diện tách câu dựa vào hiệu quả nghệ thuật của nó, tức là phải xem
câu được tách ra với dụng ỷ gì và hiệu quả nghệ thuật của câu tách ra đó là gì.
Ví dụ:
Khóa luận tắt
ngược hướng của dòng âm thanh khi nói về quá khứ.
Ví dụ:
“Huấn đi về trạm máy. Một mình trong đềm”.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú)
- Liên kêt hai hướng (song phương) là môi liên hệ ý của câu đứng giữa cùng một
lúc với câu đứng trước nó (hướng lùi) và câu đứng sau nó (hướng tới).
Khóa luận tắt
Ví dụ:
“Bác chắt chiu đê dành được hai trăm Đông Dương, định về tô chức cho nó cưới
cái Soan xong Bác hãy về hậu phương mà tăng gia sản xuất, nộp thuế nông nghiệp nuôi
đồng đội.
về hậu phương...
Cấp trên cho bác về mấy lượt, bác còn chần chừ”.
(Lê Khâm)
1.2.2.4 Dựa vào ngữ nghĩa
Câu được tách ra có quan hệ chặt chẽ với câu đi trước hoặc câu đi sau nó về mặt
ngữ nghĩa. Câu được tách ra có cùng nội dung ngừ nghĩa, bồ sung, chi tiết hóa câu đi
trước hoặc câu đi sau nó, bởi câu tách được người viết sử dụng nhằm làm rõ nội dung ý
nghĩa nào đó cho câu trung tâm. Vì vậy nếu đứng một mình thì câu tách ra không có
nghĩa.
Ví dụ:
“Hắn không còn kinh rượu nừa nhưng cố uống cho thật ít. Đe cho khỏi tốn tiền.
Nhưng nhất là đế tỉnh táo mà yêu nhau”.
(Nam Cao)
“Đê cho khỏi ton tiền” vốn là bố ngữ chỉ mục đích nhưng được tách ra thành câu
riêng đế nhấn mạnh sự thay đổi, thức tỉnh nhận thức của Chí Phèo.
Dựa vào những căn cứ đế nhận diện biện pháp tách câu như trên (dựa vào ngừ
nghĩa, dựa vào cấu tạo ngữ pháp, dựa vào hiệu quả tu từ và dựa vào tính liên kết giừa các
Có thể chia làm hai loại:
-
Tách câu trong câu đơn
-
Tách câu trong câu ghép
1.2.3.1.
Tách câu trong câu đơn
Câu đơn là câu được cấu tạo nên bởi một kết cấu chủ ngừ - vị ngữ nòng cốt. Ngoài
ra câu đơn còn có các cụm từ bồ sung cho nòng cốt câu như bố ngữ và định ngữ. Dựa vào
định nghĩa ta có thê phân loại tách câu trong câu đơn thành những loại sau:
• Tách trong phạm vi câu
- Tách vị ngừ
Ví dụ: