1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ...............................................................................
3
2. Lịch sử vấn đề ....................................................................................
3
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................
5
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................
6
5. Cấu trúc luận văn ..............................................................................
6
Chương 1. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT THƠ
MỚI 1932-1945 ................................................................................................... 7
1.1. Thơ mới - Cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam ..................................
7
3.1.1. Một hồn thơ gắn bó tha thiết với quê hương .............................. 65
3.1.2. Không gian làng quê với vẻ đẹp bình dị ...................................... 69
3.1.3. Không gian làng quê với vẻ đẹp văn hoá truyền thống ............... 71
3.1.4. Không gian thị thành và không gian tha hương - tâm trạng của
kẻ lữ thứ ................................................................................................. 74
3.2. Xuân Diệu với không gian vườn trần đầy quyến rũ .................................. 80
3.2.1. Không gian vườn trần là nơi tâm hồn thi sĩ khát khao giao hoà ... 81
3.2.2. Không gian vườn trần nhuộm sắc màu luyến ái .......................... 83
3.2.3. Không gian tương phản của thi sĩ cô độc chốn sa mạc cô liêu .... 87
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 95
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ mới (1932-1945) là một trào lưu rộng lớn trên bước đường hiện
đại hoá thơ ca dân tộc. Chỉ hơn mười năm hình thành và phát triển, phong trào
Thơ mới đã có những đóng góp quan trọng, làm thay đổi toàn bộ thi pháp thơ trữ
tình tiếng Việt, đưa lại cho nền thơ ca nước nhà một sức sống mới, mở ra “một
thời đại trong thi ca”.
1.2. Tuy còn có những hạn chế nhất định, song Thơ mới vẫn nằm trong văn
mạch văn học dân tộc, kế thừa và phát triển tinh hoa thơ ca dân tộc. Những đóng
góp của phong trào Thơ mới là không thể phủ nhận. Thơ mới ra đời đã tạo nên sự
đổi mới về thi pháp thơ, từ quan niệm về con người đến thời gian, không gian
nghệ thuật, từ cảm xúc đến giọng điệu, từ ngôn ngữ đến thể loại. Không gian
nghệ thuật là một phương diện quan trọng thể hiện sự cách tân nghệ thuật của
Thơ mới. Vì vậy nghiên cứu không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 (qua
sáng tác của một số tác giả tiểu biểu) - một bình diện thuộc phạm trù thi pháp - là
Quốc Tuý, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974), Một thời đại
trong thơ ca của Hà Minh Đức (1997), Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Những thế
giới nghệ thuật thơ (1995) của Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Huy Cận của Trần
Khánh Thành... đã khảo sát khá công phu về đặc điểm của các loại hình thơ xuất
hiện trong lịch sử văn học và về tác giả tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại. Tuy
chưa nói cụ thể về không gian nghệ thuật Thơ mới nhưng đã có nhiều gợi mở
trong phạm trù này.
Dạng phân tích về tác giả và tác phẩm riêng lẻ: Chủ yếu đề cập đến phong
cách sáng tạo của các nhà thơ, tìm cái hay, cái mới mẻ, độc đáo qua các sáng tác
của họ như: Nguyễn Bính thi sĩ đồng quê của Hà Minh Đức, Nguyễn Bính, hành
trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức Phương, Thơ với lời bình của Vũ Quần
Phương, Ba đỉnh cao Thơ mới của Chu Văn Sơn, Thơ Xuân Diệu trước Cách
mạng tháng Tám 1945 (Thơ thơ và gửi hương cho gió) của Lý Hoài Thu, Con
mắt thơ của Đỗ Lai Thuý...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã khai thác, tìm hiểu khá
kỹ về các tác giả và tác phẩm của phong trào Thơ mới, nhiều công trình đã làm
sáng tỏ về đặc điểm Thơ mới cả nội dung lẫn hình thức, cũng có đề cập đến vấn
5
đề thi pháp Thơ mới hay định nghĩa khái quát về phong trào Thơ mới. Nhưng thi
pháp Thơ mới nói chung, không gian nghệ thuật Thơ mới nói riêng là một phạm
trù rất rộng, không phải của riêng một tác phẩm nào, mà phải đặt nó trong cả một
hệ thống, phong trào của một giai đoạn văn học. Đến nay, chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách thật hệ thống và đầy đủ về không gian nghệ thuật Thơ mới
hay không gian nghệ thuật trong các sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu để có
thể khái lược thành những đặc điểm chung của không gian nghệ thuật. Một phần
có thể là vì Thơ mới đến nay đã trở thành “cũ”, “quen thuộc”, vả lại trong đời
sống văn học hiện nay có nhiều khía cạnh để khám phá, khai thác cho nên vấn đề
quát nên không gian nghệ thuật Thơ mới. Trong phạm vi một luận văn cao học,
chúng tôi chỉ tập trung khảo sát, phân tích qua một số tác giả tiêu biểu như Thế
Lữ, Huy Cận, Nguyễn Bính và Xuân Diệu. Qua đó có thể khái quát nên một
phạm trù về đặc điểm thi pháp của một trào lưu lớn giai đoạn 1932-1945.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được nhiệm vụ của đề tài này, luận văn kết hợp vận dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống để làm nổi bật vấn
đề không gian nghệ thuật Thơ mới 1932-1945 qua sáng tác của một số tác giả
tiêu biểu.
5. Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài Mở đầu, Kết
luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1. Những đặc điểm nổi bật của không gian nghệ thuật Thơ mới
1932-1945.
Chương 2. Không gian nghệ thuật của Thế Lữ, Huy Cận.
Chương 3. Không gian nghệ thuật của Nguyễn Bính, Xuân Diệu.
7
Chương 1
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
THƠ MỚI 1932-1945
1.1. Thơ mới - Cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam
1.1.1. Bối cảnh xã hội và nhu cầu đổi mới văn học
Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là một xã hội phong kiến
phương Đông. Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như
không thay đổi về hình thức cũng như tinh thần. Nhưng cuộc biến thiên lớn nhất
trong lịch sử dân tộc đã xảy đến, làm đảo lộn toàn bộ cuộc sống yên bình tưởng
nằm trong một hệ thống ước lệ, một khuôn mẫu bất di bất dịch. Văn theo quan
niệm của nhà Nho là biểu hiện của Đạo và được dùng để truyền đạt đạo lý thánh
hiền. Thơ chủ yếu là để gửi gắm, bộc bạch tâm sự, để “ngôn chí”, “cảm hoài”,
chứ không phải là phát ngôn của cái “tôi” riêng tư. Xã hội phong kiến ràng buộc
con người bởi bổn phận, trách nhiệm trong đạo lý cương thường cho nên phần cá
nhân bị lấn át và không có cơ hội để bộc lộ mình trước cái Ta đạo lý. Chính vì
vậy thơ ca Trung đại Việt Nam thường thiếu vắng cách biểu thị trực tiếp của chủ
thể trữ tình dưới dạng thức “tôi”, “ta”, “chúng ta”. Môtip con người duy lý, con
người cao khiết không màng danh lợi đã chi phối toàn bộ hệ thống thơ ca Trung
đại trên phương diện chủ thể trữ tình. Đó là những con người sánh ngang tầm vũ
trụ về cả tài năng lẫn khí tiết như trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh
Khiêm,...
“Thu đến cây nào chẳng lạ lùng
Một mình lạt thuở ba đông
Lâm tuyền ai rặng rà làm khách
Tài đống lương cao ắt cả dùng!”
(Tùng - Nguyễn Trãi)
Cho đến cuối thế kỷ XIX, khi mà “mầm mống chống Nho giáo” (theo cách
nói của Trần Đình Hượu) ngày càng phát triển thì trong thơ ca, con người Nho
giáo không còn ý nghĩa cao siêu như trước. Bởi Nho giáo đã tỏ rõ sự bất lực của
mình trước những biến đổi không ngừng của cuộc sống. Vị trí độc tôn của nó như
một ý thức hệ chính thống đã không còn vững chắc như trước. Lớp nhà Nho cuối
9
mùa như Nguyễn Khuyến đành phải quy ẩn để rồi quay lại tự phủ nhận mình, tự
đả kích chính mình:
“Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già”
Xương Linh... thì giờ đây họ say sưa với các tác phẩm văn học Pháp của Hugo,
Musset, Sten’dal, Balzac, Baudelaire, Rimbaud, Verlaine... và tiếp xúc với các
nhà khai sáng như Moutesquieu, Diderot, Vontaire.
Chính từ ảnh hưởng của các đô thị và nhà trường Pháp Việt cũng như sách
báo và các tác phẩm văn học Pháp, một thế hệ thanh niên Việt Nam với tư duy và
nhu cầu thẩm mĩ mới được hình thành. Họ có cách cảm, cách nghĩ và lối sống
khác với thế hệ trước. Những câu nói có phần “xô bồ”, “liều lĩnh” mà “tha thiết”
của Lưu Trọng Lư ở nhà học Hội Quy Nhơn năm 1934 đã bộc lộ tâm lý của lớp
thanh niên hồi ấy:
“Các cụ ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt... Các cụ
bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn
một cô gái xinh xắn, ngây thơ các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là
mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự
hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình
thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi... cái tình trong giây phút, cái tình
ngàn thu...” [64, 13].
Chính vì sự khác nhau sâu xa giữa hai thế hệ ấy đã khiến cho lối thơ ngâm
vịnh, thù tạc không còn phù hợp với xúc cảm của họ nữa. “Tình chúng ta đã đổi
mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy” [64, 14].
1.1.2. Tản Đà - thi sĩ giao thời
Trong tiến trình thơ ca dân tộc đầu thế kỷ XX, Tản Đà thực sự có một vị trí
quan trọng trong bước chuyển từ thơ cũ sang Thơ mới. Chính vì vậy, không phải
ngẫu nhiên trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân đã “Cung chiêu
hồn anh Tản Đà” để chứng kiến cuộc hội họp của các nhà Thơ mới, bởi Tản Đà
sinh ra và lớn lên trong buổi giao thời của hai thế kỷ - chứng kiến sự bất lực của
Nho giáo trước thời cuộc và sự đảo lộn của nhiều giá trị truyền thống, cùng lúc
đó là sự xâm nhập của những nếp sống phương Tây và những quan niệm hết sức
mới mẻ. Xã hội đang trong thời kỳ “Á - Âu lẫn lộn” khiến Tản Đà và một lớp
người thuộc thế hệ của ông cũng không thể sống thuần nhất như trước nữa.
ngông nghênh, kiêu bạc.
Không những “thị tài” mà còn “đa tình”, thơ Tản Đà thực sự đã mở đầu
cho cuộc cách mạng giải phóng tình cảm cá nhân, tạo đà cho Thơ mới viết về tình
12
yêu sau này. Tản Đà tự nhận mình là “giống đa tình” nhưng lại không gặp may
mắn trong thực tế. Yêu nhiều nhưng thất tình cũng nhiều, Tản Đà không gặp
được giai nhân trong cuộc đời thực, ông đành tìm đến những người đẹp của cõi
mộng. Người đọc sẽ ngỡ là phi lý khi Tản Đà viết thư cho “người tình không
quen biết” rồi lại gửi thư “trách người tình nhân không quen biết”. Nhưng sự phi
lý lại chính là cái logic trong tâm hồn nhà thơ - tâm hồn của một kẻ quá nhiều ẩn
ức trong tình yêu và mong muốn được giải toả trong thơ.
Người ta nói Thơ mới là thơ của nỗi buồn, nỗi buồn giăng mắc khắp nơi thì
thơ Tản Đà chính là sự báo trước. Những thay đổi về mặt nội dung trong thơ ông
tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hình thức thể hiện. Tản Đà đã làm một cuộc
tổng duyệt tất cả các thể loại thơ cũ từ dân gian đến bác học nhưng có sự vận
dụng và sáng tạo một cách linh hoạt để phù hợp với nội dung cảm xúc mới.
Thành công của thơ Tản Đà chính là đã thoát khỏi sự ràng buộc chật hẹp
của thể thơ Đường luật, mang chất dân gian hoà vào chất bác học. Chính vì thế
những câu thơ thất ngôn bát cú Đường luật không còn cái vẻ trang nghiêm, cao
đạo như trước nữa.
Tản Đà đã không thoả mãn với khuôn khổ chật hẹp của thể thơ Đường
luật, ông tìm về với nhiều thể thơ và hình thức diễn đạt của thơ ca dân tộc với sự
sáng tạo đầy cá tính, thể hiện một phong cách rất Tản Đà. Tản Đà đã “chế tác”
những câu ca dao của mình mà ông gọi là “phong thi” thành những câu thơ lục
bát êm ái, mượt mà và không còn vẻ mộc mạc của ca dao.
Khi nói về Tản Đà, nhà văn Lan Khai đã viết: “Trong cái di sản thơ ca mà
Tản Đà truyền lại cho ta, tôi yêu thích nhất những câu lục bát kiểu phong dao ấy,
“Mỗi năm một tuổi
Như đuổi xuân đi
Măng mọc có lứa
Đôi ta có thì.
Chơi đi thôi
Chơi mau đi thôi!”
(Chơi xuân kẻo hết xuân đi)
Với quan niệm văn chương mới mẻ, với sự cách tân độc đáo trên phương
diện biểu hiện nhưng Tản Đà vẫn chưa được xếp vào hàng Thơ mới. Điều này
hẳn có nguyên nhân cả về mặt chủ quan lẫn khách quan. Sự hạn chế của lịch sử
chính là tấm rào ngăn cản con người vượt thoát mặc dù trong lòng họ luôn ấp ủ
khát khao giải phóng. Và ngay trong chính bản thân nhà thơ cũng luôn tồn tại hai
14
đối cực. Mặc dù chưa thâm nhập văn chương cử tử nhưng hơn ai hết Tản Đà là
một nhà Nho nên văn chương Nho giáo đã ăn vào tiềm thức. Ngay cả những bài
thơ được coi là mới nhất của ông vẫn còn thấp thoáng bóng dáng của thơ cũ, và
cái mới vẫn chỉ là “dị biệt”. Nhưng điều đáng nói chính là ở những cái “dị biệt”
như thế - những cái mầm đang được ấp ủ cho mùa sau. Thơ ca Việt Nam đến Tản
Đà bắt đầu có sự đổi dòng. Sự đan xen hoà trộn giữa hai dòng thơ cũ và mới
trong con người Tản Đà khiến ông trở thành “người của hai thế kỷ”, “dạo những
bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kỳ đương sắp sửa” [64, 8].
1.1.3. Sự ra đời của phong trào Thơ mới
Đầu năm 1932 với bài “Một lối Thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của
Phan Khôi (đăng trên Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932), lối Thơ mới bắt
đầu định hình và ngày càng lan tỏa rộng rãi. Phan Khôi khẳng định lối thơ cũ “hết
đất” phải tìm “nơi khác mà đóng đô” rồi kêu gọi “Duy tân đi! Cải lương đi!”.
Xuất hiện vào năm 1932 nhưng phải đến năm 1936 Thơ mới khẳng định được ưu
Nhưng đó cũng chỉ là những cái Tôi riêng lẻ, nhỏ bé trong xã hội, họ chưa
có đủ điều kiện để làm nên một cuộc cách mạng cho cái Tôi. Đến phong trào Thơ
mới, cái Tôi xuất hiện với đầy đủ màu sắc, cá tính mạnh mẽ đã tạo nên một thời
đại của chữ Tôi. Cá nhân của mỗi con người được khẳng định trước xã hội, ý
thức về cái Tôi đầy đủ như một chủ thể. Như vậy có nghĩa là quan niệm nghệ
thuật về con người đã thay đổi, con người với những xúc cảm cá nhân riêng tư trở
thành đối tượng phản ánh của văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Sự thức tỉnh
ý thức cá nhân đòi hỏi thơ phải đặt cái Tôi ở vị trí trung tâm, các nhà Thơ mới
không ngần ngại trong việc khẳng định cái bản ngã của mình: Họ dùng cái Tôi để
xưng hô, để đối thoại, giao tiếp với mọi người cùng với niềm khao khát giao cảm
với đời:
“Tôi chỉ là một khách tình si
Ham vẻ Đẹp có muôn hình, muôn thể.
Mượn cây bút nàng Ly Tao, tôi vẽ,
Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca...”
(Cây đàn muôn điệu - Thế Lữ)
“Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm”
(Cảm xúc - Xuân Diệu)
Khi cái Tôi được khẳng định cũng tức là cá tính sáng tạo được bộc lộ rõ
ràng. Đúng như Hoài Thanh nhận định, thời đại Thơ mới là “thời đại cái Tôi”
16
trong thơ. Mỗi nhà thơ đều cố gắng khẳng định cái Tôi của mình trong những
phong cách độc đáo, không giống ai, điều đó được thể hiện rõ ràng trên bề mặt
câu chữ: Tôi là “khách bộ hàng phiêu lãng”, tôi là “khách tình si”, tôi là “con
chim đến từ núi lạ”, tôi là “con nai bị chiều giăng lưới”, tôi chỉ là “một kiếp đi
hoang”... Hoài Thanh đã không ngần ngại khi quả quyết rằng: “Trong lịch sử thơ
tinh tế của trái tim con người, đã đi vào tận cùng những ngóc ngách, những nơi
sâu kín nhất của tâm hồn. Để “trải lòng mình trên trang giấy trắng” mong muốn
sự sẻ chia của những trái tim đồng cảm.
Sự cách tân của thi pháp Thơ mới được khẳng định trên rất nhiều phương
diện quan trọng như: Thể loại, ngôn từ, giọng điệu, thời gian nghệ thuật, không
gian nghệ thuật,...
Trước hết, về mặt thể loại, như Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” đã
đúc kết: “Phong trào Thơ mới đã vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều
khuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững” [64, 47]. Điều đó có nghĩa Thơ mới không
phải hoàn toàn là những thể mới mà trên cơ sở các thể thơ truyền thống, các nhà
Thơ mới đã cải tạo cho phù hợp với nhu cầu cảm xúc của thời đại mới, đồng thời
sáng tạo ra một số thể Thơ mới. Xét về mặt phương diện thể loại, các nhà thơ của
phong trào Thơ mới đã thực sự tạo nên những bước đột phá quan trọng. Chỉ trong
một khoảng thời gian ngắn, nhiều thể thơ được định hình và phát triển ổn định.
Thơ mới thể nghiệm thành công trong câu thơ tám âm tiết phát triển từ thể ca trù
của dân tộc đã tạo nên một âm điệu, tiết tấu độc đáo mới lạ:
“Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước”
(Xuân không mùa - Xuân Diệu)
Với những vần thơ đầy táo bạo, mới mẻ, không hề có bóng dáng của thơ
cũ, và với sự không giới hạn về số câu, số khổ thơ, thể thơ tám chữ rất đắc dụng
trong việc diễn tả tình cảm với nhiều cung bậc khác nhau:
“Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo;
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da”
(Lời kỹ nữ - Xuân Diệu)
18
Và dang dở nữa cuộc tình duyên”
19
(Bắt gặp mùa thu - Nguyễn Bính)
và thậm chí nó còn có tác dụng trong việc triết lý vừa tự nhiên, vừa giản dị lại vô
cùng sâu sắc:
“Làm sao sống được mà không yêu,
Không nhớ, không thương một kẻ nào”
(Bài thơ tuổi nhỏ - Xuân Diệu)
Một thể thơ quen thuộc nữa cũng được các nhà Thơ mới sáng tạo và làm
giàu thêm vốn từ ngữ đó là thể lục bát truyền thống. Lục bát trong ca dao và đến
Truyện Kiều đã đạt tới mức nhuần nhuỵ, điêu luyện. Nhưng nhiều nhà Thơ mới
đã thành công và xác lập cho mình một vị thế nhất định trong phong trào Thơ
mới với thể loại này như Hồ Dzếnh, Huy Cận, Nguyễn Bính, Xuân Diệu... Các
thi nhân của phong trào Thơ mới đã mang đến cho lục bát những nhịp tâm hồn
mới bên cạnh chất dân quê giản dị đậm đà vốn có của một thể thơ truyền thống.
Tiêu biểu cho thể lục bát trong phong trào Thơ mới là Nguyễn Bính - người lưu
giữ chất thôn quê mộc mạc trong tâm hồn Việt Nam:
“Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê”
(Chân quê - Nguyễn Bính)
Những lời thơ giản dị, mộc mạc thể hiện tình cảm, thái độ nâng niu, trân
trọng cội nguồn, bản sắc dân tộc.
Bên cạnh những thể thơ truyền thống được cách tân cho phù hợp với tư
duy, cảm xúc mới thì phong trào Thơ mới còn mang đến cho thơ ca dân tộc
những thể Thơ mới lạ. Có lẽ thơ tự do là phương thức đắc dụng cho những tâm
hồn luôn rộng mở, khao khát được tháo cũi sổ lồng và khẳng định bản lĩnh cá
nhân. Khi văn xuôi tràn vào địa hạt thơ thì thơ văn xuôi xuất hiện. Có sự thử
nhà thơ bị trói chặt trong một hệ thống ngôn ngữ mang tính chất ước lệ, tượng
trưng và hệ thống hình ảnh sáo mòn như tùng, cúc, trúc, mai, ngư, tiều, canh,
mục,... Do đó thơ họ rất hạn chế trong việc bộc lộ cảm xúc riêng. Đến Thơ mới,
các nhà thơ được tự do phóng bút theo cảm xúc cá nhân cho nên ngôn ngữ thơ rất
cá tính độc đáo, mang đậm phong cách riêng của mỗi người. Xuân Diệu là một thi
sĩ luôn khát khao yêu đương và chiếm lĩnh tình yêu bằng tất cả mọi giác quan, thơ
ông mang nét tươi mới, rạng rỡ rõ nét và tâm trạng của nhà thơ hay của nhân vật
trữ tình trong thơ luôn ở trạng thái say đắm, cuồng nhiệt hết mình: “Hỡi xuân
hồng, ta muốn cắn vào ngươi”, “Ta bấu răng vào da thịt của đời - Ngoàm sự sống
21
để làm em đói khát”... Với Hàn Mặc Tử - con người đam mê cuộc sống đến cuồng
dại đã tạo ra những hình ảnh thơ kỳ lạ, khác thường đến mức ma quái với những từ
ngữ đầy ám ảnh: “Hôm nay có một nửa trăng thôi - Một nửa trăng ai cắn vỡ
rồi...” (Một nửa trăng); “Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt” (Rớm máu); “Lời
thơ ngậm cứng không rên rỉ - Mà máu tim anh vọt láng lai” (Lưu luyến).
Mỗi tác giả Thơ mới đều tự tìm tòi và thể hiện những sáng tạo riêng về
ngôn ngữ thơ. Chế Lan Viên đi vào thế giới của sọ người, ma quái, của Tháp
Chàm trong cõi xa xăm... nên ngôn ngữ thơ có màu sắc siêu hình rõ nét. Đoàn
Văn Cừ, Nguyễn Bính, Anh Thơ... là những nhà thơ thôn quê đất Việt thì ngôn
ngữ thơ lại trong sáng tinh tế mang đậm phong vị làng quê. Còn Huy Cận thì
ngôn ngữ rất giàu chất gợi, gợi lên cái bâng khuâng, ảo não, ngậm ngùi...
“Đêm mưa nằm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn...”
(Buồn đêm mưa)
Nhìn chung, các nhà Thơ mới có cách sử dụng ngôn ngữ khá mới mẻ, đặc
đắc dụng biện pháp tu từ của các nhà thơ. Lấy hiện thực để vật chất hoá các yếu
tố xúc cảm trở thành phong cách chung cho các nhà Thơ mới. Bởi đối với họ cái
đẹp phải là cái hiện hữu, cái có thực, cho dù nó chỉ tồn tại trong cảm giác hay ở
cõi thiên linh nào đó họ cũng cố kéo nó về hiện thực, biến nó thành những thứ vật
chất có thể cầm, nắm và cảm nhận một cách rõ ràng bằng các giác quan:
“Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi”
(Tỳ bà - Bích Khê)
Mỗi nhà thơ đều tự tìm cho mình những mảng đề tài riêng. Có người viết
hay về tình yêu, có người thành công khi đi vào khai thác những vẻ đẹp thanh
bình của thôn quê, có người lại thoát ly cõi trần để lên cõi thiên thai, có người lại
muốn tìm niềm vui ngay ở “vườn trần”, lại có người tìm cảm hứng ở một thế giới
mơ hồ có phần điên loạn...
23
Ở bất cứ mảng đề tài nào, mỗi thi nhân đều lựa chọn cho mình một phong
cách riêng độc đáo, hiệu quả qua cách sử dụng ngôn ngữ. Có thể nói rằng, biện
pháp tu từ, tính hình tượng của ngôn ngữ thơ được khai thác và sử dụng phong
phú hơn rất nhiều so với thơ ca thời kỳ trước. Thơ mới thực sự là nơi ghi dấu sự
thành công, ghi dấu sự sáng tạo, cách tân của nghệ thuật trên phương diện ngôn
từ. Nếu như việc ra đời của chữ Nôm giúp cho thơ ca tiếp nhận phần tâm linh
người Việt nhạy bén và sâu sắc hơn thì khi chữ Quốc ngữ ra đời và được sử dụng
phổ biến thì Thơ mới đã tận dụng được ưu thế của nó để tạo ra một cuộc cách
mạng ngôn từ trong việc khám phá con người ở bề sâu của nó.
Một trong những đổi mới dễ nhận thấy nữa ở Thơ mới là sự cách tân về
phong cách diễn đạt, giọng điệu, cách hiệp vần, ngắt nhịp... để tạo nên nhạc điệu
(Tình hoài - Thế Lữ)
- “Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi...”
(Nhị Hồ - Xuân Diệu)
- “Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...”
(Chiều - Xuân Diệu)
Các thi nhân thích dùng vần bằng để diễn tả nỗi buồn, việc sử dụng vần
bằng đã tạo gợi cảm giác về sự vô cùng vô tận của không gian để khắc hoạ trạng
thái chơi vơi, không định của tâm hồn.
Cùng với sự nỗ lực cách tân về hiệp vần, gieo vần, các nhà Thơ mới đã tạo
ra cho thơ những nhịp điệu mới, thanh điệu mới. Thơ mới gieo vần một cách tự
nhiên, các tác giả đã gieo vào thơ họ những nốt nhạc đủ mọi bậc thanh âm mới mẻ,
“âm nhạc sinh ra cảm xúc và cảm xúc lại sinh ra âm nhạc”. Bởi vậy, trong Thơ
mới yếu tố nhạc điệu rất được coi trọng và đề cao. Một điều không thể phủ nhận
được là chữ quốc ngữ đã góp một công lao không nhỏ vào sự thành công của Thơ
mới. Tiếng Việt vốn là một thứ tiếng đơn âm nhưng đa thanh đã làm cho câu thơ
vừa ngắn gọn, lại vừa có tính chất âm nhạc. Thơ mới đã tận dụng và khai thác tối
đa ưu thế này vì vậy đã tạo nên sự vang âm diệu kỳ cho lời thơ:
“Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê”
25
(Tình quê - Hàn Mặc Tử)
Những thanh bằng nối tiếp nhau tạo ra nhịp điệu du dương, nhẹ nhàng có
phần mơ hồ, kết hợp với tính gợi hình của từ ngữ và thanh điệu, câu thơ mang
một sắc thái mới lạ. Nhạc điệu của Thơ mới còn được tạo ra bởi sự đăng đối của
các vế câu, của các câu trong đoạn thơ - cho thấy sự ảnh hưởng của Đường thi