Luận văn thế giới nghệ thuật thơ trần đăng khoa thời niên thiếu - Pdf 13


TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM

TRẦN THỊ ĐỊNH
LỚP DH5C1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH NGỮ VĂN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
THỜI NIÊN THIẾU

Giảng viên hướng dẫn:
Th.S NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TRẦN ĐĂNG KHOA - “THẦN ĐỒNG” CỦA THI CA
VIỆT NAM.
1. Đôi nét về Trần Đăng Khoa và tập thơ Góc sân và khoảng trời 6
1.1. Về Trần Đăng Khoa 6
1.2. Về tập Góc sân và khoảng trời 7
2. Những yếu tố hình thành và phát triển hồn thơ Trần Đăng Khoa 8
2.1. Dòng sữa văn học dân gian của quê hương 8
2.2. Truyền thống gia đình 8
2.3. Ảnh hưởng từ các nhà thơ, nhà văn bậc thầy 9
2.4. Sự động viên, giúp đỡ của gia đình và thầy cô, bạn bè 9
2.5. Thời đại kháng chiến chống Mĩ 10
CHƯƠNG II: GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI - NHỮNG NGUỒN CẢM
HỨNG DÀO DẠT
1. Cảm hứng từ cảnh vật thiên nhiên và hình ảnh người nông dân
1.1. Cả
nh vật thiên nhiên 11
1.2. Hình ảnh người nông dân 19
2. Cảm hứng từ những người thân yêu 22
3. Cảm hứng từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước 25
3.1. Số phận của những em bé Việt Nam trong chiến tranh 25
3.2. Lòng căm thù giặc Mĩ sâu sắc 31
3.3. Tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu 34
3.4. Tình cảm dành cho các chú bộ đội 38
3.5. Tình c
ảm đối với những miền quê trên đất nước 44
CHƯƠNG III: GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI – MỘT SỐ HÌNH THỨC BIỂU
HIỆN NỔI BẬT
1. Giọng điệu 48
1.1. Hồn nhiên, trong sáng, thiết tha 48

ũi. Sau này lớn lên, tôi biết được tác giả của
những vần thơ đã theo mình suốt thời thơ ấu là Trần Đăng Khoa, và càng thú vị hơn khi
biết rằng những bài thơ đó được sáng tác từ khi tác giả còn rất nhỏ.
Tập thơ Góc sân và khoảng trời đã nhận được không ít ý kiến đánh giá, phê bình,
nhưng chỉ đơn thuần là một vài nhận định, phê bình ngắn ngủi, chung chung về tổng th

tập thơ hay cảm xúc đối với một vài bài thơ mà người viết cho là tiêu biểu. Với đề tài :
“Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu”, chúng tôi sẽ góp thêm một
cách nhìn, cách cảm tương đối toàn diện và có hệ thống về một nhà thơ từng được mệnh
danh là “thần đồng” cũng như khẳng định lại những đóng góp của nhà thơ
này.
2. Lịch sử vấn đề
Tập thơ Góc sân và khoảng trời được viết từ năm 1966 đến 1973, in năm 1973
được rất nhiều người quan tâm. Tập thơ đã nhận được một số ý kiến phê bình và đánh giá
về nội dung và nghệ thuật như sau:
2.1. Những ý kiến về giá trị nội dung của tập thơ
Nguyễn Văn Long đã xếp thơ Trần Đă
ng Khoa vào bộ phận văn học thiếu nhi từ sau
Cách mạng tháng 8 năm 1945 và có những nhận xét rất hay về tập thơ Góc sân và khoảng
trời cũng như về thơ của Trần Đăng Khoa nói chung: “Anh đã viết rất nhiều, rất hay về
nông thôn nhỏ bé của mình. Đến với thơ anh, ta được sống trong bầu không khí rất riêng,
không khí của làng quê nông thôn Việt Nam” [14;297]. Trong đó, ông nêu lên những ý
kiến của nhà nghiên cứu phê bình Nguyễ
n Đăng Mạnh về “nhà thơ mục đồng” và khen

2
ngợi “Trần Đăng Khoa luôn cảm nhận đựơc vẻ đẹp trong trẻo, trinh nguyên, thuần nhất
của vùng quê dân dã” [14;297].
Dương Thu Hương đã nhận định về thiên nhiên và cuộc sống của người nông dân
trong thơ Trần Đăng Khoa: Qua đó, Trần Đăng Khoa đã bộc lộ một tình yêu quê hương

đáng yêu mà lại rất sâu sắc: “Thơ Trần Đăng Khoa luôn gợi cho bạn đọc cảm
nhận về một thiên nhiên nông thôn thuần nhất, tinh nguyên và hết sức thơ mộng… thiên
nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ là sự yên tĩnh thơ mộng mà còn đầy sức sống,
luôn luôn vận động và phát triển” [5;155]. Bên cạnh đó, hình ảnh người nông dân được
nhắc đến. Đó là những người dân lam lũ, cực nhọc, chị
u thương chịu khó. Ngòi bút của
Trần Đăng Khoa đã phác họa được “bức chân dung người nông dân dũng cảm, tự tin và
chiến thắng”. Khi viết về điều gì, điều đầu tiên là người cầm bút phải thật hiểu rõ điều đó
và cần nhất là phải có tấm lòng sâu nặng. Viết về người nông dân quê mình, Trần Đăng
Khoa hội tụ đầy đủ các yếu tố đó. Khó có th
ể tìm thấy ở đâu có niềm vui tập thể bình dị,
trong trẻo như niềm vui đồng ruộng của người nông dân như trong thơ Trần Đăng Khoa.
(1)Việt Nam, hồn tôi - Gerad Gullaume (do nhà thơ Xuân Diệu dịch)

3
Qua việc miêu tả cuộc sống ở nông thôn, Trần Đăng Khoa đã ghi lại “âm vang của thời
đại”. Tuy nhiên, Trần Đăng Khoa không đi sâu miêu tả cảnh, liệt kê, thống kê các số liệu
lịch sử mà “dấu ấn của thời đại dội vào thơ anh đã biến thành hình tượng, thành số phận
của một lớp người, một thế hệ trong chiến tranh” [5;162]. Thế h
ệ măng non trong chiến
tranh cũng được miêu tả bằng những chi tiết rất xúc động. Các em thiếu nhi tuy ít được sự
quan tâm chăm sóc đầy đủ nhưng vẫn luôn lạc quan, tin tưởng ở tương lai của dân tộc.
Chính Trần Đăng Khoa đã là một ví dụ điển hình cho điều đó “Điều kì diệu là Trần Đăng
Khoa nhìn cuộc chiến tranh tàn khốc, dữ dội một cách bình thản” [5;163].
2.2.
Những ý kiến về giá trị nghệ thuật của tập thơ
Ngoài những ý kiến nhận xét, phê bình về nội dung còn có những ý kiến xoay
quanh mặt giá trị nghệ thuật của tập thơ Góc sân và khoảng trời như sau:
Lã Thị Bắc Lý đã nhận xét rằng Trần Đăng Khoa thường “sử dụng biện pháp nhân
hóa để miêu tả cảnh vật” [5;165]. Trong cái nhìn “vật ngã đồng nhất” của trẻ con thì Tr

nghiêm túc chứ không phải vung bút lên là nảy ra những bài thơ hay. Các ý kiến, nhận

4
định trên là cơ sở để chúng tôi tự phát hiện và khám phá để tìm hiểu rõ hơn, sâu hơn về
tâm hồn và tài năng Trần Đăng Khoa được thể hiện trong tập thơ. Trong qua trình nghiên
cứu, khóa luận sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn khách quan để đánh giá chính xác những đóng
góp của Trần Đăng Khoa cho bộ phận văn học thiếu nhi nói riêng và tiến trình phát triển
của văn học Việt Nam nói chung.
3. Mục đích, nhiệm vụ
nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu”, chúng tôi
muốn tập trung tìm hiểu thơ Trần Đăng Khoa ở góc độ thế giới nghệ thuật. Tuy tập thơ
được viết từ khi tác giả còn rất nhỏ nhưng vẫn được xem xét như một chỉnh thể nghệ thuật
có sự đan xen, hòa quyện và thống nhất giữ
a các yếu tố nội dung và hình thức. Từ đó,
chúng tôi cùng người đọc khám phá được cảm nhận và những sáng tạo từ hình tượng nghệ
thuật đến biện pháp nghệ thuật được Trần Đăng Khoa sử dụng trong tập thơ.
4. Đối tượng nghiến cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa
thời niên thiếu. Trong phần trình bày củ
a khóa luận, chúng tôi chủ yếu dựa trên văn bản
của tập thơ Góc sân và khoảng trời được Nhà xuất bản Văn học in năm 2006. Trong đó,
chúng tôi chỉ khảo sát và nghiên cứu các bài thơ được Trần Đăng Khoa viết từ năm 1966
đến 1973, in từ trang 16 đến trang 152. Những bài còn lại viết vào năm 1974 được bổ sung
sau này, chúng tôi xin phép không khảo sát mà chỉ liên hệ để làm phong phú thêm ý của
các vấn đề.
5. Phạm vi, nội dung nghiên cứu
Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xin được đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thế giới
nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa qua một điển hình là tập Góc sân và khoảng trời ở góc độ
các cảm hứng chủ đạo của tác giả và một số đặc sắc nghệ thuật nổi bật trong tập thơ.

như là một thần đồng thơ v
ới Góc sân và khoảng trời. Thế nhưng, mọi người lại ít quan
tâm nghiên cứu tập thơ một cách toàn diện. Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi muốn khẳng
định tài năng, phong cách riêng của thơ Trần Đăng Khoa. Đồng thời khóa luận sẽ cung cấp
một phần kiến thức cho giáo viên cấp I cấp II khi giảng dạy thơ Trần Đăng Khoa cũng như
một số phép tu từ có trong phân môn Tiếng Việt.
8. Dàn ý khóa luận
Khóa lu
ận với đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Trần Đăng Khoa thời niên thiếu gồm
có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Trong đó, nội dung là phần trọng
tâm, gồm có 3 chương:
Chương I: Trần Đăng Khoa - “thần đồng” của thi ca Việt Nam: Khóa luận sẽ
tìm hiểu về tiểu sử và những nhân tố hình thành và phát triển hồn thơ
Trần Đăng Trần
Đăng Khoa. Bên cạnh đó, sẽ giới thiệu đôi nét nội dung của tập Góc sân và khoảng trời
Chương II: Góc sân và khoảng trời - Những nguồn cảm hứng dào dạt: Chúng
tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những cảm hứng chủ đạo được thể hiện trong tập thơ từ thiên nhiên
đến cuộc sống của người dân ở làng quê Trần Đăng Khoa nói riêng và của c
ả nước nói
chung trong không khí sôi sục của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ đó, chúng ta sẽ cảm
nhận được cái nhìn trong trẻo, tươi sáng, tấm lòng chan chứa yêu thương của Trần Đăng
Khoa dành cho quê hương, đất nước, con người Việt Nam anh hùng.
Chương III: Góc sân và khoảng trời - một số hình thức biểu hiện nổi bật: Chúng
tôi sẽ tập trung tìm hiểu một số hình thức nghệ thuật nổ
i bật được biểu hiện trong tập thơ
như: giọng điệu, ngôn ngữ và các phép tu từ… Từ đó, chúng tôi khẳng định phong cách
riêng của thi sĩ nhỏ tuổi này.

viện Văn học thế giới mang tên M. Gorki. Khi trở về nước, Trần Đăng Khoa làm việc cho
Tạp chí Văn nghệ quân đội. Về sau chuyển sang công tác tại Ban văn học nghệ thuật của
Đài tiếng nói Việt Nam.
- Các tác phẩm chính
+ In ở trong nước
• Từ góc sân nhà em(1968)
• Thơ Trần Đăng Khoa, t
ập 1 (tuyển 1966-1969, 1970)
• Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1975)
• Kể cho bé nghe (1979)
• Thơ Trần Đăng Khoa, tập 2 (tuyển 1969-1975, 1983)
+ In ở nước ngoài:
• Tiếng hát còn tiếp tục (Pháp 1971)
• Góc sân và khoảng trời của tôi (Cuba, 1973)

7
• Cánh diều no gió (CHDC Đức, 1973)
• Con bướm vàng (Hunggari, 1973)

- Các giải thưởng:
• Giải thưởng thơ Báo Thiếu niên Tiền Phong (1968, 1969, 1971)
• Giải thưởng văn học của Bộ lao động - thương binh xã hội (1975) với
Trường ca Khúc hát người anh hùng.
• Giải A cuộc thi thơ Báo Văn nghệ (1981 - 1982) với bài Đợi mưa trên
đảo Sinh Tồn.
• Giải thưởng Báo Ng
ười giáo viên nhân dân (1987)
• Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt I năm 2001) với tập
thơ Góc sân và khoảng trời.
1.2. Về tập Góc sân và khoảng trời

ng sự vật vô cùng phong phú, đa dạng và sinh

8
động: nghệ thuật tả cảnh, ngôn ngữ chính xác, gợi cảm khiến hình ảnh quen thuộc trở nên
độc đáo và giọng thơ vừa hồn nhiên, trong sáng lại vừa triết lí, sâu sắc. Tất cả những gì
Trần Đăng Khoa nhắc đến trong thơ không xa lạ, cao siêu mà ngược lại, rất gần gũi, quen
thuộc, thân thương. Gần gũi, quen thuộc đến mức chúng ta không để ý, không nghĩ rằng
tr
ăng, cây lúa, con trâu, con mèo, cánh cò, những đồ vật trong nhà… lại có thể viết thành
thơ với những nét vô cùng độc đáo của nó. Trần Đăng Khoa, với đôi mắt trẻ thơ, với tài
năng thiên bẩm cùng với sự học tập, lao động, sáng tạo nghiêm túc đã viết nên những vần
thơ thật hay. Trải qua gần nửa thế kỉ mà tập thơ của một em nhỏ Trần Đăng Khoa vẫn
được
đánh giá là hay, là có ý, có tình. Đây là trường hợp hiếm hoi của nền văn học nước ta
từ trước đến nay.
Với phạm vi nghiên cứu của một khóa luận đại học, chúng tôi xin phép chỉ đi sâu
vào hai vấn đề: nguồn cảm hứng dào dạt làm nên Góc sân và khoảng trời và một số hình
thức biểu hiện đặc sắc làm nên Góc sân và khoảng trời.
2. Những yếu tố hình thành và phát triển hồn thơ Tr
ần Đăng Trần Đăng Khoa
Bất kì một sự thành danh ở lĩnh vực nào cũng phải có sự đóng góp của các nhân tố
khách quan bên cạnh tài năng của chủ thể. Trần Đăng Khoa, sẽ không phải là một trường
hợp ngoại lệ. Vậy, những nhân tố nào đã góp phần hình thành và phát triển hồn thơ Trần
Đăng Khoa, một hiện tượng nổi bật đến mức Trần Đăng Xuy
ền đã ca ngợi không tiếc lời là
hiện tượng “vô tiền khoáng hậu của nền văn học Việt Nam” ? [14;16].
2.1. Dòng sữa văn học dân gian của quê hương
Tuổi thơ của Trần Đăng Khoa gắn bó máu thịt với thôn Điền Trì, xã Quốc Tuấn -
một làng quê ven bờ sông Kinh Thầy. Chính cái cảnh sắc quê hương với hương đồng gió
nội, tấm chân tình, mộc mạc của những ng

2.3. Ảnh hưởng từ các nhà thơ, văn bậc thầy
Một điều may mắn là trong quá trình sáng tác, Trần Đăng Khoa đã được gặp và tiếp
xúc với các bậc thầy văn thơ như: Tố Hữu, Huy Cận, Tô Hoài, Chế Lan Viên,… Những
nhà văn, nhà thơ ấy đã dìu dắt rất tận tình để Trần Đăng Khoa vượt qua sự ấu trĩ mà phát
triển tư duy nghệ thuật, nhanh chóng trưởng thành trong vi
ệc sáng tác thơ. Đặc biệt hơn,
ngay từ năm 1968, sau khi gặp nhà thơ Xuân Diệu, Trần Đăng Khoa mới có ý thức được
sự vất vả của việc làm thơ. Đó không phải là một cuộc rong chơi nhàn nhã mà đó chính là
“một công việc sáng tạo cực nhọc, nếu không muốn nói là nghề lao động khổ ải”. Trần
Đăng Khoa đã hiểu đựơc rằng: Thơ cần có tính chân thực nhưng không ph
ải là sự sao chép
nguyên vẹn, thô thiển mà phải được sáng tạo một cách công phu, linh hoạt. Hầu như, các
bài viết của Trần Đăng Khoa đều được nhà thơ Xuân Diệu đọc trước và đóng góp ý kiến.
Trong cuộc đời sáng tác, Trần Đăng Khoa chịu ảnh hưởng sâu sắc của người thầy nghiêm
khắc này.
2.4. Sự động viên, giúp đỡ của gia đình và thầy cô, bạn bè
Từ khi biết đọc, biết vi
ết, Trần Đăng Khoa đã hết sức tận dụng tủ sách của anh Trần
Nhuận Minh. Anh là người rất thích làm thơ, ham đọc sách. Anh đã tạo cho mình một “thư
viện nhỏ” ở trong nhà. Trong “thư viện” ấy, có rất nhiều sách như: Bỉ Vỏ (Nguyên Hồng),
Giông tố, Số đỏ ( Vũ Trọng Phụng), truyện ngắn của A. Sekhov, Đỏ và đen (Stendhal),…
Trần Đăng Khoa đã đọc rấ
t nhiều khi chỉ là học sinh cấp I, II. Bấy giờ, Trần Nhuận Minh
là một thầy giáo, một nhà thơ được nhiều người ngưỡng mộ ở vùng đất mỏ Hồng Gai. Trần
Đăng Khoa rất khâm phục tài năng “xuất khẩu thành thơ” của anh trai mình. Để bù đắp
những cái mình không được như thế, Trần Đăng Khoa đã bí mật làm rất nhiều bài thơ.
Người đầu tiên được thưởng thức thơ
Trần Đăng Khoa là bé Thuý Giang. Được anh Trần
Đăng Khoa đọc thơ cho nghe, bé Giang rất thích và cứ đọc đi đọc lại cho bạn bè nghe. Khi
mọi người biết chuyện, hỏi ra thì mới biết những câu thơ đó là của Trần Đăng Khoa.

quyết liệt của cuộc chiến đấu chống Mĩ, dân tộc ta phải huy động và phát huy cao độ tất cả
sức mạnh vật chất và tinh thần, phải gắn kế
t tất cả lại với nhau, không phân biệt tầng lớp,
lứa tuổi, giới tính, tôn giáo,… để tiến hành công cuộc vệ quốc vĩ đại, khẳng định chính
nghĩa, tinh thần và sức sống bất diệt của đất nước và con người Việt Nam.
Trong thời “đất nước đứng lên” như thế, hồn thơ trẻ của Trần Đăng Khoa bỗng vụt
sáng như một hiện tượng l
ạ chưa từng có trong lịch sử văn học nước nhà. Hồn thơ đó đã
nói lên tiếng nói chung của cả dân tộc, được mọi người đồng tình, ủng hộ và ngưỡng mộ.
Tóm lại, nếu không có những yếu tố như trên thì hồn thơ của Trần Đăng Khoa sẽ
không được hình thành và phát triển. Hoặc là, nếu có hình thành và phát triển cũng không
thể gây được tiếng vang như ngày hôm nay.

11
CHƯƠNG II: GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI - NHỮNG NGUỒN
CẢM HỨNG DÀO DẠT
1. Cảm hứng từ cảnh vật thiên nhiên và hình ảnh người nông dân
Cũng giống như các cây bút thiếu nhi thời kháng chiến chống Mĩ, Trần Đăng Khoa
viết về nhiều đề tài mang âm hưởng thời đại: Lòng yêu mến và tự hào về đất nước anh
hùng, niềm kính yêu Bác Hồ, thương mến bộ đội, căm thù giặc, chán ghét chiến
tranh…Nhưng, khác với các bạn, Trần Đăng Khoa dành sự quan tâm đặc biệt cho cảnh s

“thần đồng” đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác như thế nào.
Bài thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa là “Con bướm vàng”. Con bướm vàng hiện ra
rất thật và sống động với đôi cánh chập chờn. Lúc ấy, Trần Đăng Khoa đang ngồi đun bếp.
Nhìn thấy cánh bướm, Trần Đăng Khoa đã đuổi theo hệt như một thi nhân xúc
động trước
cái đẹp và muốn nắm bắt cho kì được khoảnh khắc tuyệt vời này. Kết quả của việc chạy
theo chú bướm ấy là nồi cơm bị trương, Trần Đăng Khoa bị mẹ mắng. Trần Đăng Khoa chỉ

12
đứng im, không dám bảo là tại làm thơ. Cánh bướm vàng ấy bay là một hoạt động bình
thường như các loài vật khác vận động, bắt mồi, lại chính là tác nhân khơi dậy một hồn
thơ còn đang ẩn giấu bên trong một thân hình bé con của cậu bé lớp một. Hồn thơ Trần
Đăng Khoa đi lên từ bài thơ đầu tiên “Con bướm vàng” là như vậy đó. Mãi sau này, Trần
Đăng Khoa mới tiế
t lộ ban đầu viết là “Con bướm vàng – Bay nhẹ nhàng – Trên bờ rào…”
Trần Đăng Khoa thấy gì ghi nấy, hoàn toàn chưa biết thế nào là ý đồ nghệ thuật. Con
bướm vàng chao trên bờ rào là thật chứ không phải là bờ cỏ. Làm gì có “bờ cỏ” ở vườn
nhà. Người dân quê, nhất là những người ở miền Bắc đời sống rất khó khăn, chủ yếu là
trồng trọt nên họ rất quý đất, có miế
ng nào là tận dụng cho bằng hết, dù chỉ miếng đất cạnh
chân rào, hay ô đất bé bằng bàn tay bên vại nước, không trồng cây thì họ cũng gieo một ít
rau thơm hay rau húng láng.
Từ sự gắn bó, từ lòng yêu thương cảnh sắc thiên nhiên của quê nhà, Trần Đăng
Khoa đã đưa vào thơ mình những hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam. Đọc
thơ Trần Đăng Khoa, không chỉ các em nhỏ mà tất cả chúng ta đều nhận ra s
ự quen thuộc
ấy. Ở đâu mà chẳng có góc sân, cây trầu, khoảng trời, cánh đồng, cánh cò bay,… Ở đâu mà
chẳng có chẳng có trò chơi thả diều, chọc ếch, câu cá, … Những hình ảnh đó trong cái nhìn
trong trẻo, tinh khiết của trẻ thơ bỗng trở nên có hồn, có thần và đầy chất thơ. Tuy giống
đấy mà lại khác đấy. Khác bởi cảm nhận của mỗi người không ai giống ai. Đối với một số

Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuố
ng cấy…
Sinh ra và lớn lên ở nông thôn, gắn bó với ruộng đồng nên hơn ai hết, Trần Đăng
Khoa hiểu rằng hạt gạo trong cuộc sống có một vị trí vô cùng quan trọng. Trong những
năm tháng chiến tranh thì giá trị của nó càng tăng lên gấp bội. Để có được hạt gạo, người
nông dân đã rất vất vả, phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Và như đã nói, trong
chiến tranh thì có biết bao người nông dân
đang làm đồng đã chết vì bom Mĩ. Thế nên, hạt
gạo “gửi ra tiền tuyến – gửi về phương xa” lại kết tinh thêm tình cảm thiết tha, sâu nặng
của hậu phương đối với tiền tuyến. Tố Hữu khi nhận định về thi ca, đã viết: “Bài thơ hay
làm cho người ta không thấy câu thơ, chỉ còn cảm thấy tình người”. Với bài thơ này, Trần
Đăng Khoa đã làm cho chúng ta cảm nh
ận được tình người đó. Trần Đăng Khoa đã khiêm
nhường cho rằng bài thơ của mình hay là nhờ được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc.
Không khó khăn để tìm ra những em bé có những câu, những ý như Trần Đăng Khoa viết
“hạt gạo làng ta” nhưng mãi mãi chúng ta sẽ không tìm được ai khác ngoài Trần Đăng
Khoa với câu “hạt vàng làng ta”.
Cánh đồng làng Điền Trì cũng được Trần Đăng Khoa nói đến. Đó là n
ơi sản xuất,
trồng trọt của xóm làng. Đó là nơi tuổi thơ để mặc cho cánh diều thỏa sức tung bay. Ngày
ngày đứng trước sân nhà nhìn thấy cánh đồng nên nó trở nên quen thuộc với tất cả những
người nơi đây. Riêng Trần Đăng Khoa với giác quan tinh tế, nhạy cảm đã phát hiện:
Cánh đồng làng Điền Trì
Sớm nay sao mà rộng
Sương tan trên mũi súng

Những con vật trong thơ của một em bé đều có những nét đáng yêu: con mèo (Đánh tam
cúc), con gà (Nói với con gà mái, Ò ó o…), con chó (Sao không về Vàng ơi), chim (Tiếng
chim chích chòe, con chim hay hót), Trong bài Buổi sáng nhà em, tất cả hiện lên thật sinh
động trong cái nhìn và sự liên tưởng của trẻ thơ. Mèo dậy rửa mặt trong tư thế hết sức đỏm
dáng “cái tay rửa mặt, cái đầu nghiêng nghiêng”. Cái Na, cu Chuối nghịch ngợm đứng vỗ
tay cườ
i. Chị Tre “chải tóc bên ao”, nàng Mây thì “ghé vào soi gương” trong khi bà Sân đã
“vấn chiếc khăn hồng đẹp thay” từ khi “Ông trời nổi lửa đằng đông”.
Con người và sự vật gắn bó, giao hòa với nhau, cùng nhau bắt đầu ngày mới. Không
chỉ riêng nhà Trần Đăng Khoa mà mọi nhà đều như thế, tất cả tạo nên một không khí nhộn
nhịp, sôi động. Bài thơ mang đậm nét hồn nhiên, trẻ thơ đã làm cho chúng ta vừa
đọc vừa
nở nụ cười trên môi. Cười vì không ngờ sự liên tưởng, ví von của một em nhỏ lại hay và
đúng bản chất của sự vật như thế. Cười vì đọc bài thơ này ta như sống dậy một cảm giác
yêu mến cuộc sống lạ lùng. Chợt nhận ra những ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ đã rơi rớt
trên bước đường ta tìm kiếm công danh, địa vị. T
ự nhủ lòng sáng mai sẽ dậy sớm để lắng
nghe âm thanh của cuộc sống…
Hình ảnh con cò từ lâu đã được thơ ca Việt Nam biểu hiện như là một dấu hiệu về
làng quê nông nghiệp với những con người lam lũ, vất vả nơi đồng ruộng mà hồn hậu,
trắng trong. Trong cảm nhận của Trần Đăng Khoa, con cò có lúc hư ảo như trong ca dao
thần thoại:
Xưa mẹ
ru em
Cũng tiếng võng này

15
Cánh cò trắng muốt
Bay - bay - bay - bay
(Tiếng võng kêu)

Các em sáng tác một cách ngẫu hứng, không chủ ý, không theo một đề tài nhất định.
Hãy đọc một số bài thơ của các em nhỏ, ta sẽ nhận ra một điều trùng hợp ngẫu nhiên là các
em miêu tả rất nhiều về thiên nhiên. Bên cạnh việc miêu tả, các em cảm nhận được sự thay
đổi của cảnh vật, thời tiết cho dù sự thay đổi đó rất nhỏ mà đôi khi chúng ta không để ý
đến.
Ánh trăng được Trầ
n Đăng Khoa nhắc đến rất nhiều trong thơ mình (hơn 10 lần).
Trẻ em ở nông thôn ngày ấy rất thích chơi trước sân nhà vào những ngày trăng sáng. Các
trò chơi mang đậm tính dân gian: xỉa cá mè, mèo đuổi chuột,… Với Trần Đăng Khoa,

16
trăng không chỉ là một người bạn thân thiết cùng em chơi, chia sẻ bao điều suy nghĩ mà
còn là một người bạn thơ. Vẻ đẹp của trăng làm cho mọi vật như lặng đi:
Hàng cây cau lặng đứng
Hàng cây chuối đứng im
Con chim quên không kêu
Con sâu quên không kêu
Chỉ có trăng sáng tỏ
Soi rõ sân nhà em…
(Trăng sáng sân nhà em)
Thực ra, chính Trần Đăng Khoa người đứng lặng trước ánh sáng huyền diệu ấy.
Trong tư th
ế đó, Trần Đăng Khoa cảm giác như tất cả mọi vật xung quanh cũng đều như
thế. Ánh trăng mênh mông, bát ngát như rải thảm xuống nhân gian làm rung động một tâm
hồn bé nhỏ. Không chỉ có một lần mà còn nhiều lần khác nữa: Tiếng đàn bầu và đêm
trăng, Trông trăng, Trăng ơi… từ đâu đến Trăng gợi cho Trần Đăng Khoa biết bao liên
tưởng, so sánh, mỗi liên tưở
ng, so sánh là một điều bất ngờ, thú vị, ngộ nghĩnh mà lại rất
hợp với trẻ con:
Trăng như cái mâm con

người nào có những nỗi niềm, trăn trở mới phải thức đến lúc này. Chú bé Trần Đă
ng Khoa,
có lẽ, chỉ giật mình thức giấc nhưng trong cái se lạnh của gió heo may cùng tiếng mưa khẽ
rơi và hương thơm thoang thoảng của hoa cau đã không tài nào ngủ tiếp được. Cảnh vật
thiên nhiên đã không vận động, biến đổi một mình mà còn có một con người bé nhỏ đang
lặng theo dõi. Nằm trong nhà mà nghe được nhiều sự vật như thế, hẳn không chỉ Trần
Đăng Khoa có thính giác tinh nhạy mà chính là nhờ vào vốn hi
ểu biết của mình. Kiểu mưa
nhẹ nhàng điểm xuyết thêm cái rét mướt của gió heo may báo hiệu một mùa Đông sắp đến
chỉ có ở đồng bằng Bắc bộ mà thôi. Một bài thơ ngắn nhưng nắm bắt được khoảnh khắc
tuyệt vời của đất trời. Em nhỏ sống ở miền Nam không thể viết được những câu thơ như
thế.
Trần
Đăng Khoa còn nghe được rất nhiều âm thanh mà không phải ai cũng nghe
được nếu như không có sự tinh nhạy của giác quan, đặc biệt là tâm hồn yêu thiên nhiên sâu
đậm:
Tiếng sương đọng mật
Đọng mật trên cành tre
Nghe ri rỉ tiếng sâu
Nó đang thở cuối tường
Nghe rì rầm rặng chuối
Há miệng đòi uống sương
(Nửa đêm tỉnh giấc)
Đọc những câu như thế, chúng tôi không thể không xuýt xoa bởi phát hiện tinh vi
c
ủa Trần Đăng Khoa và tự nhủ: Thì ra giọt sương, rặng chuối, sâu cũng có âm thanh nữa
đấy. Nhưng chắc gì chúng ta nghe được nếu không có một tâm hồn như Trần Đăng Khoa.
Cái tài, cái tình của Trần Đăng Khoa còn thể hiện ở việc cảm nhận được một âm thanh mà
mình không thể gọi tên, và không biết có thực hay không:
Một tiếng gì không rõ

n trở trong đêm thu, nhịp thở của cái ngõ nhỏ, tiếng sâu, tiếng hạt sương đọng mật,
“tiếng cây lách cách đâm chồi” và tuyệt vời hơn nữa là tiếng rơi của chiếc lá đa “tiếng rơi
rất mỏng như là rơi nghiêng”. Câu thơ này đã được mọi người hết lời khen ngợi. Nghiêng
gợi tả hình dáng nhiều hơn nên khi mới đọc ta cứ nghĩ rằ
ng người viết đã trông thấy chứ
không phải nghe thấy.
Đọc thơ Trần Đăng Khoa, ta như được sống với những hình ảnh dung dị nhất về
một miền quê yên bình, ấm áp tình người. Tất cả những sự vật, sự việc, con người dưới
con mắt trẻ thơ thông minh, đầy sáng tạo đã đi vào thơ đong đầy kỉ niệm. Một phút
đứng ở
bờ ao nhìn hoa khế rụng, nghe tiếng chim hót, một lần sang nhà bạn thấy chú bù nhìn, một
mầm hoa dại ven đường,… cũng gợi cho Trần Đăng Khoa niềm thương mến thiết tha. Tất
cả hồn quê được Trần Đăng Khoa lưu giữ bằng thơ để những ai mỗi khi nhớ quê hương
đọc lên cảm thấy mình đã tìm được một đồng hương, một tri âm.
Viết về thiên nhiên thành công như
thế, phải thừa nhận rằng bên cạnh tâm hồn, tài
năng của mình Trần Đăng Khoa còn học tập rất nhiều từ văn học dân gian và các nhà văn,
nhà thơ bậc thầy. Những học tập đó được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo. Trong bài
Đám ma bác Giun ta thấy thấp thoáng hình bóng ca dao:
Con cò mắc dò mà chết
Mẹ con bìm bịp đổ thóc nếp ra xay
Cà cuống uống rượu la đà
Con cóc, con ngóe nhảy ra chia phầ
n
Từ nhà văn Tô Hoài, Trần Đăng Khoa đã học để viết “Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt
râu” (Gửi bạn Chi-lê) dựa vào “Dế mèn phiêu lưu kí” và “Hạt mẩy uốn cong – Chim ngói
bay theo đàn” dựa vào đoạn văn “Tháng năm chim gáy đi ăn đôi, tháng mười chim gáy về

19
theo đàn”. Từ nhà văn Anđecxen, Trần Đăng Khoa viết “Chim co chân ngủ - Lim dim cành

đồng lao động. Người đọc như được Trần Đăng Khoa truyền sang nỗi thấm thía, xúc động
mạnh mẽ xen lẫn cảm thông, biết ơn những con người ngày đêm lao động, cống hiến thầm
lặng cho cuộc sống này. Những câu thơ “
chạm vào bản chất của nông dân quê hương”
[14; 19]. Giọt mồ hôi gợi cho ta liên tưởng đến câu ca dao:
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Nếu như mẹ em đứng cấy bất chấp cả cái nắng gay gắt, dữ đội của mùa hè Bắc bộ
thì bố em là người hùng trong cơn mưa: “Bố em đi cày về - Đội sấm – Đội chớp – Đội cả
tr
ời mưa…”. Bức chân dung của người nông dân không bị mưa gió làm nhạt nhòa mà ngời
sáng như một tâm điểm của đất trời. Nắng mưa hay thậm chí là những thiên tai nào khác là
điều mà người nông dân phải chống chọi, phải vượt qua. Sức mạnh của họ không phải là

20
sức mạnh thần thánh mà chính là sức mạnh đã trải qua những năm tháng lao động vất vả
cùng với niềm tin bất diệt: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta sẽ chiến thắng, đất nước ta sẽ
thống nhất hoàn toàn. Niềm tin đó là động lực thúc đẩy họ lao động và chiến đấu trong lạc
quan. Trên cánh đồng lúc nào cũng có tiếng nói, tiếng cười:
Nơi này mấy bác cày
Đâu nghiêng nghiêng chiếc nón…
Nơi kia là mấy chị
Thì thòm tát gầu dai…
Nơi ấy mấy cô cấy
Ngửa tay phí mặt trời
Mạ bén hàng thẳng đứng
Hồn nhiên trong tiếng cười
(Cánh đồng làng Điền Trì)
Đời sống tinh thần của người nông dân rất đơn giản, bình dị. Niềm vui của họ là
niềm vui được lao động, được cống hiến, được gặt hái những bông lúa vàng tươi sau một

Cũng có khi làng tự tổ chức đêm văn nghệ. Thế là những nông dân lam lũ hàng
ngày bỗng trở thành diễn viên. Họ đã sống hết mình với vai diễn:
Kìa cô Thị Mầu lên chùa
Đỏng đảnh dáng đi, mắt liếc
Ngắm cái tay cô phẩy quạt
Tưởng mình sống đã trăm năm
(Cô Thị
Mầu)
Những người xem cũng chỉ biết có cô Thị Mầu đỏng đảnh:
Người xem thoáng như quên chị
Chiều nay gánh lúa trên đồng
Tảo tần nuôi em, nuôi mẹ
Mười năm ròng rã chờ chồng…
Cả cuộc đời gắn bó với ruộng đồng, với lũy tre làng, cây đa, bến nước… nhưng khi
đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng lên đường chiến đấu, không một chút đắn đo, do dự. Hình
ảnh chú d
ế mèn điềm nhiên vuốt râu (trong Gửi bạn Chi-lê) là tư thế của người nông dân
ung dung, sẵn sàng ra chiến trường chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, ngọn rau cho quê hương,
đất nước mình. Để rồi có người ngã xuống ở vùng đất xa xôi nào đó của Tổ quốc, có người
trở về với thân thể không còn nguyên vẹn, lại tiếp tục làm bạn với cái cuốc, cái cày, con
trâu, tiếp tục lao
động, tiếp tục cống hiến. Ở thời kì sau (1975 đến nay), thơ của các em
thiếu nhi vẫn viết về thiên nhiên, về con người, nhất là những người thân xung quanh mình
nhưng không có được cái không khí khẩn trương, sôi nổi như Trần Đăng Khoa và các bạn
của mình đã viết trong thời đại kháng chiến chống Mĩ.
Tình cảm của con người và cảnh vật nơi đồng ruộng được Trần Đăng Khoa thẩm
th
ấu và đưa vào bài Khi mùa thu sang. Cảnh vật không lạ nhưng ăm ắp tình làm cho Trần
Đăng Khoa muốn kêu to lên “Thu sang rồi đấy! Thu sang!”. Chúng tôi nghĩ, thơ hay
không chỉ ở các con chữ đọc lên nghe mượt mà, êm dịu mà cốt ở cái tình của tác giả đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status