the gioi nghe thuat tho y nhi - Pdf 46

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội

đỗ thị hoa
Thế giới nghệ thuật thơ ý nhi
------------
Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Hà nội - 2008
1
B
ộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học s phạm hà nội

đỗ thị hoa
Thế giới nghệ thuật thơ ý nhi
- - - - - - - - - - - -
luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.34
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Chu văn sơn
Hà Nội - 2008
2
Lời cảm ơn !
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn TS.
Chu Văn Sơn, ngời thầy đã tận tình giảng dạy và hớng em hoàn thành luận văn
này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo thuộc Khoa Ngữ văn,
Phòng quản lý sau Đại học trờng Đại học S phạm Hà nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi, hớng dẫn, giúp đỡ em trong khóa học vừa qua và trong suốt quá trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp.

2.1.2. Cái tôi trăn trở khôn nguôi về thời cuộc...............................................42
2.2. hình tợng thế giới ...........................................................................................46
2.2.1. Chốn yên bình.......................................................................................47
2.2.2. Miền khắc nghiệt...................................................................................58
2.3. hình tợng ngời tình..........................................................................................66
2.3.1. Ngời đàn ông can trờng ........................................................................67
2.3.2. Ngời đàn ông hào hoa...........................................................................70
Chơng 3..........................................................................................................75
Một số phơng diện nghệ thuật thơ ý nhi ..............................75
3.1. thể thơ và giọng điệu ......................................................................................75
4
3.1.1. Thể thơ ..................................................................................................75
3.1.2. Giọng thơ ..............................................................................................79
3.2. ngôn từ nghệ thuật ..........................................................................................84
3.2.1. Ngôn từ giản dị, đời thờng....................................................................85
3.2.2. Ngôn từ mang xu hớng khái quát, triết luận.........................................87
3.3. cấu tạo hình ảnh thơ........................................................................................90
3.3.1. Từ những hình ảnh tơi rói chất sống đến những hình ảnh giàu tính tợng
trng.........................................................................................................................90
3.3.2. Các biện pháp tạo dựng hình ảnh..........................................................92
Kết luận.....................................................................................................101
Th mục tài liệu tham khảo............................................................102
Mở Đầu
i. Lý do chọn đề tài
1. Thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm tất cả các yếu
tố, cấp độ của sáng tạo nghệ thuật. Mỗi cấp độ, yếu tố này lại có thể là một chỉnh
thể nhỏ hơn đợc đặt trong những mối quan hệ biện chứng nhất định, xâu chuỗi với
các yếu tố khác. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật là để tìm hiểu quy luật của từng
loại thế giới nghệ thuật, sự sáng tạo của chủ thể, quan niệm về nghệ thuật, về
cuộc sống, nhân sinh của ngời nghệ sĩ.

6
ii. lịch sử vấn đề
Là nhà thơ viết có trách nhiệm, đều đặn và có chất lợng cao, đặc biệt từ sau
khi tập thơ "Ngời đàn bà ngồi đan" ra đời, thơ của ý Nhi đã đợc các cây bút
nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ lớn, các giảng viên và nhiều bạn đọc
chú ý. Những nghiên cứu về thơ ý Nhi chủ yếu là từ năm 1985 cho đến nay. Đó
là những bài nghiên cứu rất có giá trị của Mã Giang Lân, Chu Văn Sơn, Lu Khánh
Thơ, Trần Trung, Nguyễn Hoàng Sơn, Hoàng Hng, Nguyễn Thị Minh Thái, Ngô
Thị Kim Cúc... Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao thơ ý Nhi, khẳng định
giọng thơ và vị trí thơ rất riêng của chị. Thơ của ý Nhi giản dị mà đậm chất suy
nghĩ, chất trí tuệ và là một giọng thơ trầm lắng, suy t.
Đa số các bài viết đều tập trung nghiên cứu về giọng thơ mới lạ, bút pháp
thơ riêng của ý Nhi. Năm 1998, trong bài viết "Trò chuyện về thơ với "Ngời đàn
bà ngồi đan" Nguyễn Thị Minh Thái đã khẳng định tập thơ "Ngời đàn bà ngồi
đan" là đỉnh cao nhất và là tập thơ đánh dấu phong cách thơ, giọng điệu thơ riêng
trong sự nghiệp thơ ca của ý Nhi. Bút pháp thơ của chị là bút pháp ngoài lạnh,
trong nóng "bởi đằng sau cái vẻ ngoài gần nh lành lạnh khép kín ấy, là trái tim
ấm nóng, cái tình chín muộn của ngời đàn bà làm thơ."
ý trên đợc nhà thơ Hoàng Hng phát triển thêm trong bài viết "Thơ ý Nhi".
Ông khẳng định bút pháp thơ ý Nhi là trữ tình gián cách và cảm xúc đợc kìm nén
hoặc để nguội. Thể thơ chủ yếu là thơ tự do không vần, lắm lúc văn xuôi một cách
triệt để. ý Nhi có xu hớng cảm nhận cuộc đời trong tính nghịch lí hai mặt của nó.
Đây là lối thơ hiếm trong đời sống thơ ca quen thuộc lâu nay ở Việt Nam.
Cũng cùng quan điểm trên, nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn (trong "ý Nhi qua
tuyển thơ") cho rằng đến khi tập thơ "Ngời đàn bà ngồi đan" xuất hiện, chị đã
khẳng định đợc "một giọng thơ mới lạ, đơng vào độ chín" của mình và chị thờng
sử dụng bút pháp đối lập để bộc bạch nội tâm.
7
Trong bài viết "ý Nhi- một nghiệp thơ không bao giờ hết dây da" Khánh
Phơng nghiên cứu phạm vi phản ánh trong thơ ý Nhi. ý Nhi "thờng soi mình vào

Khi bàn về hình thức nghệ thuật, tác giả chú ý đến sự phát triển của thơ ý
Nhi ở giọng thơ, lời thơ, hình tợng thơ. Thơ ý Nhi "càng lúc càng đợm chất
giọng riêng", tăng dần "những lời thơ tiết chế nặng chất suy t", gia tăng những
lời phân tích sắc sảo, những biểu tợng làm diện mạo thơ biến đổi, nhiều độ nén,
nhiều d vang hơn.
Về thơ tình của ý Nhi, Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng "ý Nhi có một lối
thơ tình kín đáo, dịu dàng và đắm đuối nh hoa quỳnh hiếm hoi, nở muộn, chỉ nở
một lần, thơm một lần và dâng hiến một lần vào thời khắc ngắn ngủi vào giữa
đêm" ("Thơ tình Thành phố Hồ Chí Minh").
Tập thơ "Ngời đàn bà ngồi đan" ra đời đánh một dấu mốc đặc biệt trong sự
nghiệp thơ ý Nhi. Tập thơ này và các tập thơ tiếp theo của chị nh "Ngày thờng",
"Ma tuyết", "Gơng mặt", "Vờn" đã đợc các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc
yêu thơ quan tâm.
Về tập thơ "Ngời đàn bà ngồi đan", ngay sau khi tập thơ ra đời năm 1985
Mã Giang Lân viết bài "Ngời đàn bà ngồi đan". Ông khẳng định hớng tìm tòi và
phẩm chất mới của thơ ý Nhi là nội tâm. Nhà thơ có những mạnh bạo trong t duy
sáng tạo, câu thơ có độ khái quát, độ sâu, bút pháp chính là hồi tởng. Theo ông,
thơ ý Nhi không dễ cảm nhận nhng thuyết phục ngời đọc ở tình cảm chân thành
và đến tập thơ này ý Nhi đã bộc lộ đợc bản lĩnh nghệ thuật của mình.
Tác giả Chu Văn Sơn trong bài "Thơ của tâm hồn" "xao xác giữa ngày
yên" gọi tên tâm trạng đặc thù của cái tôi ý Nhi là "nỗi lòng không xác thực".
9
Trong thơ ý Nhi "nỗi lòng không xác thực" không chỉ là đối tợng phản ánh mà
"nó còn là phơng tiện tơng đối thông dụng để phản ánh đời sống tinh thần của
con ngời trong cuộc sống hiện tại". Bàn về nhân vật tác giả nhận thấy các nhân
vật đều hiện lên nh "một chân dung đa diện, đã lẳng lặng sống, lẳng lặng làm
việc với một nỗi lòng phức hợp". Thành công của ý Nhi là đã tăng cờng "chất
nghĩ" cho thơ, đặc biệt "ngẫm nghĩ suy t đã đợc tâm trạng hoá"; cảnh vật thì đợc
"biểu tợng hoá để trở thành một biểu tợng nào đó của cảnh quan nội tâm bài
thơ".

thắm và đầy nữ tính với tình cảm yêu quê hơng, niềm hoài niệm và đặc biệt là
tình yêu. Đó là tình yêu nồng nàn, dốc hết lòng mình với những buồn vui, hạnh
phúc và cũng đầy mâu thuẫn.
Tác giả Thuý Nga phát hiện về tình yêu và nỗi buồn của tập thơ - một "
tình yêu lại đậm đặc, đậm đặc hơn nhiều tập thơ của những ngày trẻ hơn" và "
nỗi buồn không gào thét, không đau đớn vật vã, không gọi tên đợc, nhng cứ âm ỉ
trong lòng, cứ trong ngần nh những giọt nớc mắt lặng lẽ".
ý Nhi có nhiều bài thơ đã thực sự sống trong lòng bạn đọc nhng đợc viết
đến nhiều nhất vẫn là bài thơ "Ngời đàn bà ngồi đan". Bài thơ đã đợc tuyển vào
tập "100 bài thơ hay thế kỷ XX". Tất cả đều nhất trí bài thơ là đỉnh cao trong sự
nghiệp thơ ý Nhi và khẳng định giọng thơ riêng của chị qua tác phẩm này.
Nguyễn Hoàng Sơn chú ý đến sự "ngắn gọn, không vần, lập tứ rất vững"
của bài thơ và biểu tợng đẹp về cuộc đời qua hình tợng Ngời đàn bà ngồi đan.
Khánh Phơng rút ra ý nghĩa của bài: "Ngoài ý nghĩa về sự nớc đôi của cuộc
sống, cái gì cũng có thể vừa là nó vừa là điều ngợc lại, bài thơ còn mang ý
nghĩa dự báo" và "tác giả đã nhanh chóng tìm ra cánh cửa nhiều chiều" của
11
cuộc sống. Cũng nh vậy, Hà ánh Minh tập trung khai thác tính ẩn dụ và suy tởng
sâu sắc. Bài thơ vì vậy vừa có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc vừa là lời phát biểu về
quan niệm sáng tạo nghệ thuật. Tác giả Trần Trung trong bài bình về tác phẩm
cũng khẳng định vẻ đẹp giản dị cả về nội dung và hình thức của tác phẩm mà gợi
nhiều suy ngẫm cho ngời đọc.
Nguyễn Bảo Chân trong bài viết "Nơi nỗi buồn nơng náu" đặc biệt xúc
động trớc bài thơ "Thơ vui dới hàng cây cơm nguội". Tác giả phát hiện vẻ đẹp của
bài thơ là vẻ đẹp giản dị và cảm xúc ấm áp: "một bài thơ ngắn giản dị mà từng
câu, từng ý của nó cứ toả bóng mát lành, xoa dịu và che chở".
Trên đây là những ý kiến tham khảo hết sức quý báu đối với chúng tôi
trong việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ ý Nhi. Qua tìm hiểu chúng tôi nhận
thấy hầu nh các yếu tố, các cấp độ về thế giới nghệ thuật của thơ ý Nhi đã ít
nhiều đợc đề cập tới. Nhng các phơng diện đó cha đợc nghiên cứu một cách hệ

Phơng pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể giúp cho ngời nghiên
cứu tổng hợp đợc những số liệu chứng minh cho các nhận định, đánh giá.
3. Phơng pháp so sánh
So sánh đồng đại và lịch đại để thấy đợc những nét độc đáo, riêng biệt của
ý Nhi so với các nhà thơ khác. Đồng thời để thấy đợc những cách tân độc đáo của
thơ chị đối với thể thơ truyền thống của dân tộc.
4. Phơng pháp phân tích tác phẩm
Qua việc phân tích tác phẩm thơ cụ thể tìm ra cái hay, cái đặc sắc trong
từng bài lấy đó làm cơ sở để khái quát chung về thơ ý Nhi.
v. cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và th mục tài liệu tham khảo, luận văn đợc
sắp xếp thành 3 chơng.
13
Chơng 1. Quan niệm nghệ thuật và những cơ sở hình thành thế giới
nghệ thuật thơ ý Nhi.
Chơng 2. Thế giới hình tợng trong thơ ý Nhi.
Chơng 3. Một số phơng diện nghệ thuật của thơ ý Nhi.
Chơng 1
Quan niệm nghệ thuật và những cơ sở hình thành thế
giới nghệ thuật thơ ý nhi
1.1. quan niệm nghệ thuật
1.1.1. Quan niệm nghệ thuật của một nhà văn
Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm gần đây có nhiều cách sử dụng với
nhiều nội hàm khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm "Quan
niệm nghệ thuật" với hàm nghĩa: Cách nhìn nhận, nhận thức về nghệ thuật. Nói
một cách đơn giản: "Quan niệm nghệ thuật là cách hiểu "Thế nào là nghệ thuật".
Đối với nhà văn, quan niệm nghệ thuật thuộc phạm trù ý thức tự giác về nghệ
thuật, là cách nhìn nhận, đánh giá của cá nhân nghệ sĩ về lĩnh vực nghệ thuật,
phần nào nh ý thức về nghề của ngời hành nghề.
Quan niệm nghệ thuật bao gồm ba yếu tố cơ bản: Quan niệm về các vấn đề

phơng cách duy nhất để trang trải nỗi xao xác, giải thoát nỗi bồn chồn. Mỗi lần -
ớm bút gieo chữ xuống trang thơ là một lần gửi vào đó những nguyện ớc, những
mong cầu đợc yên hàn" [49]. Nh vậy, thơ là một cứu cánh cho tâm hồn con ngời
mà trớc hết là cần cho chính nhà thơ. Trong một lần đọc thơ trên đất Mỹ, chị kể,
chị đã ví thơ với cuộc đời chị giống nh cái bục đỡ, là điểm tựa cho cuộc đời chị:
"Tôi rất ít khi đọc thơ trớc công chúng nên lên đây tôi rất lúng túng, may mà có
cái bục này cho tôi nơng tựa. Tôi nghĩ thơ đối với cuộc đời mình cũng giống nh
cái bục ấy" [62]. Lời nói giản dị chân thành ấy của chị đã có sức thuyết phục lớn
15
và đợc bạn đọc ở Mỹ hết sức tán thởng. Suy cho cùng thơ chỉ có thể có sức lây lan
về tình cảm và nói lên tiếng lòng của nhiều ngời, có giá trị cho cuộc đời khi nó có
ý nghĩa trớc tiên với chính nhà thơ.
Không chỉ sáng tác, chị còn là ngời đỡ đầu cho rất nhiều nhà thơ trẻ và các
tác phẩm để thơ có thể đến đợc với công chúng yêu thơ. Công việc ở nhà xuất bản
là một thuận lợi để chị thực hiện đợc tâm huyết của mình. Theo chị thơ rất cần
cho cuộc sống và nhất là trong cuộc sống hiện đại khi mà nền văn minh càng phát
triển thì một số phơng diện văn hoá càng có nguy cơ bị xuống cấp và tâm hồn con
ngời càng có nguy cơ bị xơ cứng hoá. Con ngời không thể là cỗ máy, không thể
sống nh một cỗ máy vô hồn vô cảm. Lúc này thơ là điểm tựa về tinh thần, thơ sẽ
tìm lại những rung cảm cho con ngời. Cũng trong dịp đọc thơ này chị nói rõ hơn
về suy nghĩ, quan niệm của mình: "Tôi có cảm tởng chính trong một đời sống
hiện đại căng thẳng, ngời ta lại cần đến thơ nh một sự nơng tựa tinh thần" [45].
Bởi vậy nhà thơ rất tâm đắc với câu nói của O.Paz: "Thơ là thuốc giải độc cho thị
trờng và kỹ thuật''.
Nhận rõ tầm quan trọng của thơ nh vậy, chị luôn biết ơn những vần thơ đã
dạy cho chị bao điều quý giá để rồi một lần qua Tuy Hoà chị lại bồi hồi thổn
thức:
Nhớ ngời làm thơ ngày trớc
Xót lòng nghe gió quê hơng
cầm súng ngời đi đánh giặc

Cô xin tặng câu thơ
để cháu làm chiếc lá
để cháu làm bóng mây
một mai khi đời cháu
gặp độ đờng không cây
17
(Thơ tặng cháu)
Cùng ý thơ đó, tác giả triển khai cụ thể hơn ở câu kết của bài thơ "Thơ vui dới
hàng cây cơm nguội":
Tôi xin giữ lại nỗi buồn
giữ lại u phiền cay đắng
một mai đờng tha bóng cây
đem buồn thơng che ma nắng.
Lựa chọn của nhà thơ thật cả quyết. Chị đã giữ lại cho mình nỗi buồn nh
một lẽ đơng nhiên. Cảm xúc ăm ắp của câu thơ đợc giữ nhịp bởi một trí tuệ minh
triết. Nó hớng ngời đọc tới bờ giác ngộ qua những hỉ nộ, ái ố mà ai cũng trải qua
trong đời. Theo tác giả Nguyễn Bảo Chân "ý Nhi là một trong số không nhiều các
nữ sĩ Việt Nam có thể nhìn thấu cuộc đời này bằng con mắt thứ ba. Chị điềm tĩnh
bớc ra khỏi bản thể, đi qua chiếc cầu vồng cheo leo mà quyến rũ kia để viết" [6].
Quả thật vậy, bằng tấm lòng nhân hậu, bằng sự điềm tĩnh thơ chị đã truyền cho
ngời đọc có thêm rất nhiều sức mạnh.
Chị là một nhà thơ "biết tiết chế" để tạo nên cái đẹp, để đem lại niềm hạnh
phúc cho con ngời. Bằng sự nhạy cảm riêng của nữ giới nhà thơ có cách so sánh
và lối diễn đạt giản dị đầy sức thuyết phục:
nh một nhà thơ biết tiết chế
tôi vừa đun nấu trên ngọn lửa dầu chút thức ăn ít ỏi
vừa nghĩ đến vẻ đẹp thực chất của bữa ăn
niềm hạnh phúc tôi có thể đem cho mọi ngời
(Ngày thờng)
Đó là khát vọng cuối cùng, là khát vọng lớn nhất trong đời thơ của chị. Trong

Chúng tôi hát cùng các cô
để đánh kẻ thù.
19
(Thành phố thân yêu)
Khi quay trở về thăm Đà Lạt, hồi tởng lại những kỷ niệm trong quá khứ về
những ngời bạn cũ, về "Củ sắn nớng chia đôi, cơn sốt rét ở rừng", về ngời đồng
chí đã ra đi thì cảm xúc trong thơ lại nghẹn ngào:
Câu thơ còn đến nghẹn lòng ta
(Thăm Đà Lạt)
Bài thơ "Lời cám ơn" là một minh chứng cụ thể nhất cho quan điểm "không
có thứ thơ tách biệt hoàn toàn với đời sống" [15, 322]. Nguồn cảm xúc vô tận của
thơ chính là hiện thực cuộc sống, là "cây đời mãi mãi xanh tơi". Chính những
tiếng cời, những nỗi đau, những đêm thức cùng con tàu của ngời thuỷ thủ đã
đánh thức những lời thơ trong lòng tác giả. Thơ không phải là thứ gì quá xa lạ,
siêu hình mà thơ là những hình ảnh giản dị, thân thơng của cuộc sống: là cánh
buồm, là cánh chim nâu; thơ đến từ những con sóng, những làng quê
Nh cánh buồm đột ngột hiện ra sau doi cát vàng tơi
nh con chim cánh nâu bỗng bay lên từ màu xanh bãi cói
câu thơ đến từ con sóng đỏ bao niềm mong đợi
từ vệt xanh dài dặc những làng quê
(Lời cám ơn)
Quan niệm thơ của ý Nhi còn thể hiện qua chính những điều mà chị hết
sức ngỡng mộ ở những ngời nghệ sĩ khác - những tài năng và là những nhân cách
đã đắc đạo. Coi Dơng Bích Liên là một nghệ sĩ nh vậy, ý Nhi đã viết, một cách
cũng trầm tĩnh:
Dơng Bích Liên uống rợu
lặng im và vẽ
Ông đã vợt qua những vớng bận đời thờng, những vớng bận vinh quang, những
thứ phù vân, phù hoa. Theo tác giả Chu Văn Sơn Đắc đạo là lúc ngời nghệ sĩ trở
thành chính mình, chân ngã hiện ra [49]. Đó là khi "Những đối cực đã tuyệt vời

(Viếng mộ Hàn Mặc Tử)
Chị đặc biệt trân trọng những câu thơ đợc chắt lọc ra từ đời sống, từ những
bơn trải của một nhà thơ trẻ để nuôi "những đứa em thơ dại". Và rồi anh đã có đ-
ợc những câu thơ nh giọt nớc trong vút lên từ bùn bẩn, từ những đau thơng, là thứ
"thanh âm trong trẻo" giữa bản đàn nhạc luật hỗn độn, xô bồ: Mặc kệ cho ng ời
ta chen chúc/ mặc kệ cho ngời ta quay theo vũ điệu tân thời// anh đã gạn lại
giọt nớc trong từ bùn bẩn, từ đau thơng cùng quẫn/ Rồi ngày kia có một câu thơ/
lan toả nh sang/ quẫy cựa nh sang/ trắng xoá/ và xanh biếc. (Tặng một ngời
làm thơ trẻ).
Những câu thơ đợc chắt lọc từ đời sống nh thế sẽ là những câu thơ thực sự
có ý nghĩa với con ngời. Vẻ đẹp giản dị, chân thực chính là cái đích lớn nhất cần
vơn tới của nghệ thuật chân chính muôn đời.
1.1.2.2. Về sáng tác thơ - "Vấn đề đặt ra là cách liên hệ giữa thơ và cuộc sống"
Chị quan niệm rất rõ: "Một tác phẩm hay không phụ thuộc vào việc anh
viết cái gì mà là viết nh thế nào" [2]. Đây cũng là khát vọng muôn đời của những
ngời lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc. Quan niệm này đợc nhà thơ nói hết
sức thấm thía, sâu sắc: "Có lẽ giờ đây mọi ngời đều hiểu rằng không có thứ thơ
tách biệt hoàn toàn với đời sống. Vấn đề đặt ra là: Cách liên hệ giữa thơ và đời
sống. Cái cách của mỗi nhà thơ phụ thuộc vào tài năng, và bản lĩnh thơ của họ. Có
cái chung của những nhà thơ cùng thời, cùng khuynh hớng, trờng phái. Nhng
trong mỗi nhóm này, cái cách của nhà thơ để giải quyết mối liên hệ giữa họ và
đời sống phải độc đáo riêng biệt" [15, 332].
Lơng tâm và trách nhiệm của ngời cầm bút
Mỗi ngời khi làm bất cứ làm nghề nào cũng cần phải có lơng tâm có trách
nhiệm trong nghề nghiệp của mình. Nghề văn lại càng cần phải nh vậy. Trong việc
làm thơ, chị luôn giữ một nguyên tắc "chỉ viết khi nào thấy thực sự muốn viết".
Đó là những khi nội tâm cần sự lên tiếng. Với ý Nhi, trung thực là phẩm chất cao
22
nhất cần có của ngời nghệ sĩ. Khi đối diện với cát, với những mất mát hi sinh của
dân tộc trong quá khứ, chị tự nhủ lòng mình:

ý Nhi cũng có nhiều bài thơ gợi cảm thể hiện hiện thực tâm trạng, đào sâu
vào tâm trạng, chắt chiu chất thơ từ nhiều phía, nhằm bộc lộ cảm xúc thật của
mình, qua đó nhà thơ muốn mang đến cho ngời đọc cái xao động của cuộc đời.
Nhà thơ sâu nặng với tình mẹ con, với thành phố Hải Phòng nơi tuổi thiếu niên
của chị với nhiều yêu thơng gắn bó, với Quảng Ngãi quê hơng có sông Trà gợi
cảnh thanh bình thuở ấu thơ. Rồi Thái Nguyên, Quảng Bình, trung du, miền trung
gió cát... mỗi địa danh đều gắn với kỷ niệm buồn vui, nhiều ơn nghĩa với bản thân
chị. Nhà thơ ý thức và gắng diễn đạt những trạng thái phức tạp vốn có của tâm
trạng con ngời. Và những buồn vui của chị trải lên các trang thơ cũng mong đợc
nh "chùm rau me đất", nh "chiếc lá", "bóng mây", ở "những độ đờng không cây"
trên đờng đời mỗi ngời sẽ trải.
Đến với thơ, chị sẵn sàng chấp nhận những khó khăn gian khổ, chấp nhận
nghèo khó, đơn độc. Bỏ lại sau lng những ham muốn, những đam mê vật chất tầm
thờng, hành trang của chị chỉ có bài ca "tự mình tôi hát/ tự mình khổ đau/ tự
mình hạnh phúc". Khát vọng của chị vơn tới sự cao cả, tới "trùng khơi", tới
"biển".
Có thể hình dung về "ngời phụ nữ làm thơ" ý Nhi qua chính những lời tự
bạch của chị. Đó là con ngời suốt đời "tranh đấu cho sự cân bằng của giá cả/
cân đo đong đếm" để nghĩ đến vẻ đẹp thực chất của bữa ăn chị có thể đem lại cho
mọi ngời dẫu rằng không phải cuộc đời luôn trọn vẹn nh thơ.
Hành trình đến với thơ là hành trình tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi,
thậm chí chấp nhận sự đơn độc
24
Nghệ thuật là sáng tạo, bản chất của nghệ thuật là sáng tạo. Với thi ca, sự
sáng tạo phải trở thành mục đích, yêu cầu và nội dung của hoạt động. Biêlinxki đã
từng xác định "tính nghệ thuật là sự sáng tạo"; và cũng có thể nói nh nhà thơ
Pierre Gamarra "thơ ca là sự sáng tạo của sáng tạo" [Tạp chí Châu Âu, số 443].
Apôline cũng khẳng định "Thơ ca và sáng tạo chỉ là một". Hay nói nh Nguyễn
Tuân "Thơ là mở ra một cái gì mà trớc khi có câu thơ đó, trớc khi có nhà thơ đó
vẫn nh là bị phong kín" [Tạp chí văn nghệ, số 48] Cùng một quan niệm nh vậy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status