Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Nhuận Cầm - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐỒNG THỊ ĐỨC HẠNH THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
THƠ HOÀNG NHUẬN CẦM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN!

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lưu Khánh Thơ - người
thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm – tác giả đã
cung cấp những thông tin hữu ích để tôi hiểu sâu sắc hơn đề tài nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy - cô giáo, nhà trường đã tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các
em học sinh đã dành sự ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ qúi báu để tôi hoàn thành

MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………… 1
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………….1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 8
7. Cấu trúc của luận văn 9
II. PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1. DIỆN MẠO THƠ CHỐNG MỸ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TÁC CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM 9
1.1. Diện mạo thơ chống Mỹ………………………………………………….9
1.1.1 Sự xuất hiện của thơ trẻ thời kì chống Mỹ…………………………….9
1.1.2 Các chặng đường thơ trẻ thời kì chống Mỹ……………………………10
1.1.2.1 Chặng thứ nhất: từ 1964 đến 1968…………………………………10
1.1.2.2 Chặng thứ hai: từ 1969 đến 1972……………………………………12
1.1.2.3 Chặng thứ ba: từ 1973 đến 1985……………………………………14
1.2. Hành trình sáng tác của Hoàng Nhuận Cầm……………………………16
1.2.1 Tiểu sử…………………………………………………………… 16
1.2.2 Hành trình sáng tác……………………………………………………17
1.2.2.1 Thơ tuổi hai mươi - trẻ trung, tươi mới như màu xanh quân phục…17
1.2.2.2 Những câu thơ viết đợi mặt trời - chất lý tưởng nồng say của người
lính trẻ……………………………………………………………………….21
1.2.2.3 Xúc xắc mùa thu - tiếng thơ tiếc nuối thời gian…………………… 23
CHƯƠNG 2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ NHỮNG NGUỒN CẢM
HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ HOÀNG NHUẬN CẦM…………… 28
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thơ trẻ thời kì chống Mỹ là một hiện tượng rất đáng chú ý của Văn học
hiện đại Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện, trưởng thành của một thế hệ nhà
thơ và bước phát triển mới của nền thơ chống Mỹ. Những tác giả như: Lê Anh
Xuân, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đức Mậu,
Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng
Khoa… là những gương mặt tiêu biểu đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ
trẻ thời chống Mỹ. Chính các anh đã đem đến cho nền thơ hiện đại Việt Nam
một tiếng nói mới mẻ, tươi trẻ, khoẻ khoắn. Tiếng nói của một thế hệ sinh ra
và lớn lên trong lòng cách mạng. Tiếng nói của những người chiến sĩ xung
kích trên mặt trận chống quân thù, thực sự đáp ứng được yêu cầu của thời đại.
Nguyễn Hoàng Sơn từng nhận xét về những cây bút của thời kì này: “Bên
cạnh một Nguyễn Duy già dặn, từng trải, một Nguyễn Đức Mậu như còn
vương lửa khói và đất bụi chiến hào, một Lâm Thị Mĩ Dạ nhẹ nhõm, giàu nữ
tính là một Hoàng Nhuận Cầm trẻ trung, tươi rói như màu quân phục mới,
như tiếng chim cất lên trên vòm me sân trường” [76].
Hoàng Nhuận Cầm đã đứng trong dòng chảy của lịch sử để chiến đấu,
đứng trong dòng chảy của thi ca để cống hiến. Anh là một trong những gương
mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ chống Mỹ. Hoàng Nhuận Cầm đã làm nên một
“thương hiệu” riêng với các tác phẩm chính: Thơ tuổi hai mươi (1974),
Những câu thơ viết đợi mặt trời (1983), Xúc xắc mùa thu (1992) và Thơ với
tuổi thơ (2004)…
Thành công và sự nổi tiếng của Hoàng Nhuận Cầm được minh chứng
qua một loạt các giải thưởng. Đầu tiên phải kể đến Giải nhất cuộc thi tuần báo
Văn nghệ năm 1972 – 1973, với chùm thơ: Nhật ký, Thư mùa thu, Nghe chim
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3 Đoàn Minh Tuấn viết về Nỗi buồn khoẻ khoắn và niềm cô đơn âm vang
đăng trên báo Phụ nữ Hà Nội số 14, ra ngày 22/8/1992.
Năm 1993, tập thơ Xúc xắc mùa thu được nhận giải thưởng thường niên
của Hội Nhà văn Việt Nam và một lần nữa Hoàng Nhuận Cầm lại được giới
nghiên cứu quan tâm:
Hồ Thế Hà viết Xúc xắc mùa thu ru trong cỏ, đăng trên báo Thừa
Thiên Huế, số 338, ra ngày 19/10/1993.
Ngay sau đó, Khả Xuân có bài Viên xúc xắc xoay tròn, trên báo Bình
Định, số 429, ra ngày 22/10/1993.
Nguyễn Ngã nhận xét về Thơ Hoàng Nhuận Cầm trên báo Giáo dục và
Thời đại ngày 11/2/1996.
Nguyễn Hoàng Sơn đăng bài Hoàng Nhuận Cầm - tiếng thơ riêng khó
lẫn trên báo Tiền phong ngày 10/11/2002.
Thu Hà có bài Hoàng Nhuận Cầm “Không ai cho mình hạnh phúc”
trên báo điện tử vnexpress.net ngày 23/12/2004.
Minh Trường có bài Nhà thơ tình – Nhà biên kịch, hai trong một con
người trên trang web 100years.vnu.edu.vn.
Phạm Khải viết Cuộc hò hẹn bốn mươi năm của người cầm bút trên
trang vnca.cand.vn/tulieuvanhoa, ngày 8/1/2008/
Đặc biệt, trong những năm gần đây, giới nghiên cứu quan tâm thơ
Hoàng Nhuận Cầm cũng đề cập khá nhiều đến hiện tượng thơ Hoàng Nhuận
Cầm, những dấu ấn trong sáng tác của anh về cả nội dung và hình thức nghệ
thuật:
Trong bài viết: Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm “Người làm vườn cần
mẫn” trên báo điện tử Giadinh.net.vn, ngày 02/12/2006, có ghi lại ấn tượng
thơ Hoàng Nhuận Cầm đến với bạn đọc: “Cách đây mấy chục năm, đêm nào
Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ là cả kí túc xá Mễ Trì hầu như không ngủ. Nữ

của mình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5 Không chỉ vậy, Lê Thiếu Nhơn trong bài Hoàng Nhuận Cầm và vần
thơ thơm “Mùi cỏ cháy” trên trang web evan.vnexpress.net cập nhật ngày
1/4/2012 có nhận xét về thơ Hoàng Nhuận Cầm “Giọng điệu hào sảng của
Hoàng Nhuận Cầm lẫn vào dàn đồng ca thơ chống Mỹ giục giã cho tương lai
một dân tộc đang bị chia cắt giữa hờn căm”, và “Thơ Hoàng Nhuận Cầm vừa
trọng âm vận vừa trọng nhạc tính, nên lời thơ thường tràn qua cả ý thơ”. [67]
Phạm Khải với bài viết Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm: sáu mặt đời lắc
cắc tiếng thơ anh trên báo An ninh Thế giới cuối tuần, số ra tháng 4/2012 đã
ghi lại những trạng thái cảm xúc, những dấu ấn nghệ thuật thơ Hoàng Nhuận
Cầm: “Có thể nói, Hoàng Nhuận Cầm là nhà thơ của những trạng huống xao
xuyến, bâng khuâng… rất khó biểu đạt. Thơ anh giầu nhạc tính, có sức ngân
vang. Với anh ngoài phần hình ảnh (là phần mà anh có nhiều tìm tòi) thì
nhạc giữ một vai trò quan trọng, tạo nên sức nặng và sức chinh phục”. Có
phải thế chăng mà trong rất nhiều chương trình thơ, Hoàng Nhuận Cầm
thường thích trực tiếp đọc thơ mình chứ ít chịu để người khác đọc. Hay cũng
trong bài viết này Phạm Khải nhận xét: “Một điều đáng nói nữa, trong sự
nâng lên, đặt xuống của nhịp điệu từng khổ thơ, Hoàng Nhuận Cầm rất chú ý
lựa chọn … điểm rơi của ý tưởng”. “Thơ Hoàng Nhuận Cầm cứ nửa truyền
thống, nửa hiện đại. Âu đó cũng là cái duyên góp phần làm nên sức hấp dẫn
của thơ anh”[58].
Nguyễn Đức Mậu trong bài Đêm pháo hoa ở Huế đăng trên tạp chí Thơ
của Hội Nhà văn Việt Nam số 4 – 2012 có viết “Thơ Hoàng Nhuận Cầm giàu
nhạc điệu và giàu sức ám ảnh người đọc”. Bài viết cũng đề cập đến việc
Hoàng Nhuận Cầm sáng tác trường ca Giữa hai hàng lục bát - trường ca đầu
tiên và duy nhất trong đời anh. “Hoàng Nhuận Cầm viết rất nhanh, viết cho

phần nhìn nhận một cách nghiêm túc những đóng góp của thơ Hoàng Nhuận
Cầm trong dòng chảy thơ trẻ chống Mỹ nói riêng và thơ hiện đại nói chung.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7 3. Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Nhuận
Cầm, chúng tôi đi vào khảo sát và trích dẫn các tập thơ sau:
- Thơ tuổi hai mươi (in chung), Nxb Quân đội Nhân dân, 1974.
- Những câu thơ viết đợi mặt trời, Nxb Tác phẩm mới, 1983.
- Xúc xắc mùa thu, Nxb Hội Nhà văn, 1993
Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi có thể đối sánh thơ Hoàng
Nhuận Cầm với thơ của một số nhà thơ trước, sau hoặc cùng thời với Hoàng
Nhuận Cầm, để rút ra những nét khác biệt trong thơ Hoàng Nhuận Cầm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Nhuận Cầm nhằm thực hiện
các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát, nhận diện thơ Hoàng Nhuận Cầm.
- Nghiên cứu tác phẩm trong sự thống nhất giữa nội dung và hình
thức nghệ thuật.
- Tìm hiểu những nguồn cảm hứng chủ đạo và những đặc sắc nghệ
thuật trong thơ Hoàng Nhuận Cầm.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: chúng tôi coi thế giới nghệ thuật thơ
Hoàng Nhuận Cầm là một chỉnh thể toàn vẹn bộc lộ quan điểm thống nhất về
thế giới và con người của tác giả.
- Phương pháp so sánh văn học: Luận văn sử dụng phương pháp này để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9 II. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. DIỆN MẠO THƠ CHỐNG MỸ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TÁC CỦA HOÀNG NHUẬN CẦM
1.1. Diện mạo thơ chống Mỹ
1.1.1 Sự xuất hiện của thơ trẻ thời kì chống Mỹ.
Trong một thời gian không dài (1964 - 1975), văn học Việt Nam phát
triển với một nỗ lực phi thường để đáp ứng được yêu cầu của lịch sử văn học
dân tộc, của thời đại chống Mỹ. Thực tế cho thấy, văn học Việt Nam trong
giai đoạn này phát triển mạnh mẽ và đồng đều nhiều thể loại. Truyện, ký,
thơ, kịch bản văn học … tất cả đều nở rộ. Trong sự phát triển đó, thơ chống
Mỹ nổi lên và nhanh chóng đạt được nhiều thành tựu xuất sắc. Sự xuất hiện
của đội ngũ các nhà thơ trẻ trong nền thơ chống Mỹ có một ý nghĩa vô cùng
lớn lao.
Với lý tưởng cách mạng, sự nhạy cảm, sự hiểu biết, tài năng và vốn
sống thực tế ở chiến trường, các nhà thơ trẻ đã có những đóng góp to lớn, góp
phần phát triển nền thơ Việt Nam hiện đại. Thơ của họ ngời sáng ngọn lửa
nhiệt tình cách mạng, giầu chất sống chiến trường, rất sôi nổi giục giã nhưng
cũng đằm sâu tâm trạng và nghĩ suy. Thơ của họ đánh dấu một bước phát
triển về nghệ thuật, đã thực sự “tạo thành một vùng sáng rất đẹp trong thơ”
[11]. Những đóng góp của thơ trẻ thời chống Mỹ đã được dư luận đương thời,
kể cả trong và ngoài nước ủng hộ, khẳng định.

chất tương đối, vì thực chất thơ trẻ thời kì chống Mỹ là một dòng chảy liên
tục.
1.1.2.1 Chặng thứ nhất: từ 1964 đến 1968.
Ở chặng đầu tiên này, có thể kể tên các tác giả tiêu biểu: Bằng Việt,
Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân… Tiếng thơ của họ
trẻ trung, tươi tắn, sôi nổi. Cảm xúc của họ còn mang nhiều dấu ấn của sách
vở nhà trường: thiêng liêng, trong trẻo và đầy tin cậy. Ở thời điêm này, với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11 những dự cảm vào cuộc, khát vọng ra trận, chia tay, cuộc hành quân, “sự sống
át cái chết” là những mô típ điển hình. Đêm hành quân, Qua sông Thương,
Gửi tới các anh (Lưu Quang Vũ), Gửi Bến Tre (Lê Anh Xuân), Tiếng gà trưa,
Chiến hào (Xuân Quỳnh), Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim mình (Bằng
Việt)… là những bài thơ đáng chú ý.
Những rung cảm chân thành đối với cuộc sống, quê hương, đất nước
được thể hiện rõ trong những vần thơ đậm chất trữ tình của những nhà thơ trẻ.
Thơ của họ tràn ngập chất men say nồng của tuổi trẻ khát khao được cầm
súng trực tiếp chiến đấu:
Ôi ta thèm được cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè
Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng
Ta cay nồng mùi lá rụng bờ tre.
(Gửi Bến Tre – Lê Anh Xuân)
Những năm đầu cuộc chiến tranh, thơ của các nhà thơ trẻ còn bồng bột,
mang đậm cái nhìn lãng mạn. Hình ảnh thế hệ cầm súng chỉ thấp thoáng trong
thơ họ. Có chăng đó chỉ là hình ảnh những bước chân du kích, những anh giải
phóng:
Phía trước chúng tôi cả miền Nam ruột thịt

này đã góp phần quan trọng đưa nền thơ chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao,
làm thay đổi bộ mặt của cả nền thơ chống Mỹ. Ở chặng này, những nhà thơ
trẻ đã thực sự khẳng định được tiếng nói riêng của thế hệ mình qua những vần
thơ giàu tính chân thực, sinh động như còn vương bụi đất chiến trường và mùi
khét lẹt của đạn bom, mang khí thế hừng hực của cuộc chiến đấu.
Nếu ở chặng đường trước, các nhà thơ trẻ có khuynh hướng đi tìm chất
thơ trong mảng hiện thực đời sống có vẻ nên thơ, trong trẻo; thì ở chặng
đường này, họ lại có khuynh hướng đi tìm chất thơ trong mảng hiện thực trần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13 trụi, thô nhám, dữ dội, đầy ác liệt của cuộc sống chiến trường. Cảm hứng vì
thế càng trở nên mãnh liệt, sôi nổi, khác hơn ở chặng đường trước.
Thơ trẻ giai đoạn này đã vươn tới tầm khái quát những mảng hiện thực
lớn của cuộc chiến tranh chống Mỹ với tính chất dữ dội, ác liệt của nó, làm
ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng của các thế hệ trẻ trong thời đại
chống Mỹ. Những chi tiết chân thực của đời sống chiến trường như ùa vào
các trang thơ. Chỉ đọc thơ thôi, người ta cũng có thể hình dung được cuộc
sống thực của những người lính ở ngoài mặt trận: Ghi chép ở chiến trường,
Nằm hầm (Nguyễn Đức mậu), Thư mùa thu (Hoàng Nhuận Cầm), Thung lũng
tiếng chim (Lâm Huy Nhuận), Khoảng trời và hố bom (Lâm Thị Mĩ Dạ)…
Điều đáng chú ý là những dòng thơ ấy không chỉ dừng lại ở mức độ
phản ánh, biểu hiện những bức tranh, những nét sinh hoạt cụ thể ở chiến
trường và những con người ở chiến trường; mà đã vươn lên tầm cao hơn: tầm
khái quát. Chính sự vươn lên tầm khái quát ấy đã cho phép thơ trẻ nói được
những vấn đề cơ bản của đời sống dân tộc. Từ một tiếng chim kể chuyện trên
đối chốt : “Mẹ ơi đất nước cắt chia - Tiếng kêu con cuốc vọng về quả tim”,
Hoàng Nhuận Cầm đã nói lên được tình cảm của một dân tộc, một đất nước
từng bị chia cắt. Từ một “Hơi ấm ổ rơm”, Nguyễn Duy đã nói lên được bản

suốt toàn bộ cuộc kháng chiến của dân tộc. Từ đỉnh cao của những chiến
thắng liên tục ở những năm cuối cùng của cuộc chiến đấu, tầm nhìn và nhận
thức của các anh được mở rộng, sâu sắc hơn trước. Thực tế của cuộc chiến
đấu gay go, ác liệt đòi hỏi nhà thơ phải có một bước phát triển nào đó mới đáp
ứng được yêu cầu của thời đại. Thời đại không cho phép thơ rơi vào cảm xúc
nhạt nhẽo, nông cạn, những suy nghĩ hời hợt. Do vậy mà đến với hiện thực
đời sống để khám phá, sáng tạo và đúc kết nên chân lý của cuộc sống, có
được những hình tượng thơ giàu ý nghĩa khái quát, đó là hướng đi chính của
thơ trẻ giai đoạn này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15 Chặng đường cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã tạo nên thế
mạnh của những nhà thơ trẻ: có cái nhìn bao quát, toàn cảnh về cuộc chiến
tranh ái quốc vĩ đại. Chứng kiến chiến thắng vĩ đại, oai hùng của dân tộc, các
nhà thơ trẻ đồng thời cũng thấu hiểu sự hi sinh, mất mát, cái giá phải trả cho
những vinh quang đó. Cũng chính ở chặng này, khuynh hướng muốn phản
ánh mảng hiện thực lớn của chiến tranh, tổng kết cuộc chiến tranh ái quốc vĩ
đại đã xuất hiện như một đòi hỏi chính đáng của thời đại. Bức tranh hiện thưc
đời sống chiến trường hiện lên qua những trang thơ trẻ ở chặng này cũng
phong phú, đa dạng và phức tạp hơn: có hi sinh, mất mát, có chiến thắng lạc
quan, tin tưởng… Thơ trẻ chặng này nói nhiều hơn, sâu sắc hơn, thấm thía
hơn về người mẹ, về nhân dân, đất nước, về những con người vô danh, về
những con người bình thường mà kiên cường, bất khuất, về Tổ quốc và thế hệ
mình… Ý thức về cái tôi – thế hệ các nhà thơ trẻ - đạt đến độ sâu sắc nhất.
Chân dung tinh thần của thế hệ trẻ cầm súng chiến đấu hiện lên thật cụ thể,
chân thực, phong phú và sâu sắc:
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
(nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc)

Hoàng Nhuận Cầm tình nguyện nhập ngũ vào binh củng Phòng không –
Không quân. Anh đã từng chiến đấu tại mặt trận Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Năm 1976, anh
trở lại tiếp tục học chương trình Đại học. Năm 1981 anh làm việc tại Hãng
Phim truyện Việt Nam. Sau đó, anh chuyển sang làm việc cho Đài Truyền
hình Việt Nam một thời gian rồi lại quay trở lại Hãng Phim truyện Việt Nam
năm 2005. Hiện nay, anh đang sống tại Hà Nội, là Hội viên Hội Nhà văn Việt
Nam, và cùng vợ lập Hãng phim tư nhân Điệp Vân.
Các tác phẩm chính của anh đã được xuất bản: Thơ tuổi 20 (in chung,
1974), Những câu thơ viết đợi mặt trời (thơ, 1983), Xúc xắc mùa thu (thơ,
1992), Thơ với tuổi thơ (thơ, 2004), Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến (thơ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17 2007), 36 bài thơ tuyển chọn (thơ, 2008)… Ngoài sáng tác thơ, Hoàng Nhuận
Cầm còn sáng tác kịch bản phim: Lỗi lầm, Đằng sau cánh cửa, Đêm hội Long
Trì, Hà Nội – Mùa đông năm 46, Pháp trường trắng, Ai lên xứ hoa đào, Đoạn
trường chiêm bao, Nhà tiên tri, Mùi cỏ cháy…
Các giải thưởng Văn học anh đã được nhận: Giải nhất cuộc thi tuần báo
Văn nghệ năm 1972 – 1973, với chùm thơ: Nhật ký, Thư mùa thu, Nghe chim
kể chuyện trên đồi chốt, Anh bộ đội và tiếng nhạc la; Giải thưởng của Hội
Nhà văn Việt Nam năm 1993 với tập thơ Xúc xắc mùa thu; Giải thưởng Nhà
nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012.
1.2.2 Hành trình sáng tác.
Tác phẩm văn học được xem là công trình nghệ thuật ngôn từ, là kết
quả lao động miệt mài của nhà văn. Do đó, giống như một đứa con tinh thần
quý giá, tác phẩm mang trong mình dòng máu nhiệt huyết, tài năng, khát vọng
và dấu mốc trưởng thành của nghệ sĩ ấy trên con đường sáng tạo nghệ thuật.
Với niềm say mê sáng tạo, Hoàng Nhuận Cầm dường như không một

mang đầy chất trẻ trung ấy cũng được chọn in trong tập thơ này, đó là chùm
thơ gồm bốn bài: Nhật kí, Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu, Thư mùa thu,
Nghe chim kể chuyện trên đồi chốt.
Mười lăm bài thơ trong một tập thơ như một cuộc hành quân kì thú và
đầy mới lạ, đi đánh giặc mà như một chuyến phiêu lưu dọc theo chiều dài đất
nước. Như rất nhiều nhà thơ khác, những bài thơ đầu đời là những bài dành
tặng tuổi học trò, dành tặng “những kỉ niệm đã là hoa”. Hoàng Nhuận Cầm
cũng vậy, những vần thơ đầu tiên anh viết về Dòng sông và phù sa, Nắng từ
ngõ nhỏ, nhưng giữa thời đại sục sôi đâu còn có:
Mỗi mùa ngô là mỗi mùa hò hẹn
Màu xanh nào cũng rất đỗi thơ ngây.
(Dòng sông và phù sa)
Và cũng đâu còn:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19 Mỗi mùa hoa quen thuộc ra đi
Để quên những bông hoa trên mái phố
Cây gạo già từng cành buông nỗi nhớ
Và lá xoè như tiễn một hè qua.
(Nắng từ ngõ nhỏ)
Chiến tranh đến đem theo sự tàn khốc và chết chóc như phá vỡ những
kỉ niệm tươi đẹp chỉ còn lại thương đau:
Không còn bông hoa đỏ tuổi thơ
Mảnh bom Mĩ cắm vào trang cổ tích
Lửa quầng thâm bên khung cửa sổ
Sững sờ như con mắt mồ côi.
(Nắng từ ngõ nhỏ)
Biến đau thương thành hành động, những nỗi xót xa thành lời hối thúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status