LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học này không chỉ có công
sức của riêng tôi mà trong suốt quá trình thực hiện tôi đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ từ thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè, người thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm và các thầy cô khoa Ngữ
văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy cô trong tổ chuyên môn của
khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và triển
khai nghiên cứu luận văn.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn
TS. Chu Văn Sơn, người đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quí
báu, người luôn tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động
viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và triển khai nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Học viên
Vi Thùy Linh
1
MỤC LỤC
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Theo Từ điển thuật ngữ văn học (NXB Giáo dục Việt Nam) : “Thế
giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một
tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) và
“khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy hình
tượng của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong thế giới quan, văn hoá
chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo của nghệ sĩ.”
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật có vai trò rất quan
trọng trong việc tìm hiểu và đánh giá những sáng tác văn học. Qua thế giới
nghệ thuật, người nghiên cứu có thể định hình được tư duy thẩm mĩ cũng như
tạp hôm nay. Chúng tôi hi vọng, luận văn sẽ góp phần giới thiệu được một
chân dung tác giả tài năng mới, về những nét độc đáo của anh, cũng như
những đóng góp không nhỏ mà anh đã dành cho sự phát triển chung của nền
thơ Việt.
2. Lịch sử vấn đề
Miên Di là một tác giả còn rất mới mẻ và lạ lẫm trên thi đàn Việt Nam
hiện đại, tập thơ đầu tay của anh được ấn hành và ra mắt vào ngày 26/9/2013.
Chính vì vậy, các tài liệu về thơ Miên Di chủ yếu là những bài cảm nhận
ngắn, những đoạn giới thiệu trên các trang mạng, các diễn đàn văn học của
một số nhà phê bình và bạn bè tác giả. Và, chưa có một công trình khoa học
nào nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc về tác giả này.
Tính cho đến thời điểm tiến hành thực hiện luận văn, chúng tôi đã tìm
hiểu và tham khảo một số bài viết ngắn của các tác giả như Trịnh Sơn, Du Tử
Lê, Vũ Thu Huế. Các bài viết đều đi theo chiều hướng tích cực, đánh giá cao
và sâu sắc về thơ Miên Di.
Trong bài viết “Những mũi khoan ý thức đau đớn trong thơ Miên Di”,
được đăng tải trên www.dutule.com ngày 16/9/2013, tác giả Du Tử Lê đã đánh
4
giả rất cao về thể thơ lục bát của tác giả: “Nhưng, cũng tới hôm nay, tôi chưa
thấy một nhà thơ trẻ nào, chẳng những đoạn tuyệt với hai vòng kim cô trên,
mà còn tổng hợp được hai phạm trù lớn, là cái đẹp của lục bát và, thực trạng
bẽ bàng nhân thế, đời thường như lục bát Miên Di.”
Bên cạnh Du Tử Lê, tác giả Trịnh Sơn trong bài “Một cõi miên di”,
đăng trên www.thethaovanhoa.vn tháng 10/2013 cũng cảm nhận về thơ Miên
Di bằng hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh: “Thơ kiêu ngạo, mảnh mai vượt qua
biên giới tột cùng của triết thuyết, mở ra không gian xây bằng từng viên gạch
triết thuyết dữ dội hơn, mới mẻ hơn để giam cầm thứ triết thuyết đã đẻ ra các
nhà thơ kim cổ.”
Và, trong bài viết “Miên Di và những trang viết” của mình, tác giả Vũ
Thu Huế cũng đã đến với thơ Miên Di, cảm thơ Miên Di đầy say sưa, ưu ái:
4.1. Phạm vi
Vì mục đích và yêu cầu của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu trong các sáng tác của Miên Di là tập thơ đầu tay của anh và là tập thơ
duy nhất của tác giả tính cho đến thời điểm nghiên cứu: Thơ miên di (NXB
Hội nhà văn- 9/2013)
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài hướng tới là toàn bộ những yếu tố thuộc về thế
giới nghệ thuật trong Thơ miên di.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê khảo sát: Thống kê, khảo sát các tác phẩm
trong tập thơ để làm cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: so sánh đối chiếu trên nhiều cấp
độ(các tác phẩm cùng chủ đề, các sáng tác của tác giả với tác giả khác cùng
thời, tác giả khác thời để thấy sự tương đồng và khác biệt.
- Phương pháp phân tích tổng hợp tác phẩm: Phân tích các tác phẩm
trong sáng tác và tổng hợp theo chủ đề nghiên cứu.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn bao gồm
ba chương:
Chương I: Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình và tác giả Miên Di
Chương II: Thế giới nghệ thuật thơ Miên Di- nhìn từ thế giới hình tượng
6
Chương III: Thế giới nghệ thuật thơ Miên Di- nhìn từ phương thức biểu hiện
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ TRỮ TÌNH VÀ
TÁC GIẢ MIÊN DI
1. Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
1.1. Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình
“Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ
từ. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng
sáng tác. Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, vừa vận
động lại vừa phụ thuộc vào những biến chuyển trong tư tưởng người nghệ
sĩ”. Và tác giả cũng chỉ rõ: “Một thế giới nghệ thuật như thế bao gồm một
quan niệm về con người, một không gian nghệ thuật riêng, một thời gian nghệ
thuật riêng và một hình thức ngôn ngữ tương ứng.”
Như vậy, việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật, chính là chiếc chìa khóa
vô cùng quan trọng để khám phá những sáng tác văn chương mà qua đó, ta có
thể nhận định và đánh giá khách quan các sản phẩm nghệ thuật trên mọi bình
diện của nó.
Căn cứ vào lí thuyết chung, ở mỗi loại hình văn học, ta lại có thể quy
vào các hệ thống nhỏ và mang tính cụ thể hơn khi đề cập đến thế giới nghệ
thuật trong sáng tác.
Với đặc thù hướng đến sự giãi bày và chia sẻ cảm xúc của chủ thể trữ
tình, thơ trữ tình lúc nào cũng đề cập nhiều đến những vấn đề tình cảm cá
nhân nên các hình tượng trong thế giới nghệ thuật cũng ít nhiều có sự khác
biệt. Và, chúng tôi xin mượn nhận định của nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn để
định hình thế giới nghệ thuật thơ: “Thế giới nghệ thuật của một thi sĩ lãng
mạn có thể quy về ba hệ thống hình tượng chính là: Tôi- Em- Thế giới. Trong
đó, hình tượng cái tôi là hạt nhân, là mấu chốt vì tiếng nói lãng mạn trước
9
hết là tiếng nói của cái tôi.” “Tôi- Em-Thế giới đối với một thi sĩ nói chung,
thi sĩ lãng mạn nói riêng, bao giờ cũng là một tam diện nhất thể”. (Ba đỉnh
cao Thơ mới).
Tôi- là hình tượng không thể thiếu bởi chính là đại diện của chủ thể trữ
tình, là nhân vật trực tiếp thổ lộ và giãi bày cảm xúc một cách trực tiếp thông
qua hệ thống ngôn từ biểu đạt. Em- là đại diện của hình tượng người tình của
cái tôi trữ tình, là hình tượng gián tiếp để cái tôi biểu đạt quan điểm, khát
vọng về tình yêu và hạnh phúc của mình. Và, hình tượng thế giới, bao gồm cả
bình diện không gian, thời gian, là hình tượng thể hiện quan điểm về cuộc
tâm tư tình cảm mà trước đây vốn đã tồn tại lâu bền. Con người hiện đại hôm
nay, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã bộc lộ rất nhiều những bản chất
xấu xa, bỉ ổi của những đua ganh, toan tính.
Các nhà thơ hôm nay cũng đã thay đổi rất nhiều về quan niệm nghệ
thuật thuật của mình, thơ ca hôm nay, mang đậm hơi thở của cuộc sống xã
hội, thơ ca cũng tích cực tham gia đấu tranh gìn giữ bản sắc và những giá trị
tốt đẹp của con người. Và Miên Di, cũng đã góp một phần không nhỏ trong
tiếng nói đó, thơ anh, là bức tranh của một xã hội đầy những cặn bã, ôi thiu.
Một xã hội đầy những gian tham, dối trá, và đầy những nghèo đói, khổ đau.
Bức tranh đó khiến người ta ghê sợ chính cái nơi mà mình đang sống, nhưng,
ghê sợ không phải là để trốn tránh nó, mà ghê sợ, để cải thiện nó tốt đẹp hơn,
nhân văn hơn.
Bên cạnh yếu tố thời đại xã hội, một yếu tố không nhỏ nữa chi phối
sáng tác thơ ca Miên Di chính là xu hướng sáng tạo của thế hệ thơ trẻ hôm
nay. Những nhà thơ trẻ của thế hệ 7X, 8X, 9X mang trong mình một bầu nhiệt
huyết cực kì sôi sục và một nguồn năng lượng sáng tạo tràn trề. Họ, như
những con chiến mã tràn đầy sức lực, luôn muốn khai phá những vùng đất
11
mới còn hoang vu mà ít người đặt chân đến. Họ, có thể đi ngược lại truyền
thống, hoặc có thể dựa lưng vào truyền thống, nhưng, nỗ lực sáng tạo của họ
là không ngừng. Họ đào sâu vào cái tôi bản thể đầy ngõ ngách sâu kín, họ
hăng say khẳng định cái tôi cá nhân một cách quyết liệt, họ không ngừng tìm
tòi và thể nghiệm những cách tân hình thức mới mẻ. Và, trong hàng ngũ đó,
hẳn là Miên Di cũng không thể không chịu ảnh hưởng. Mặc dù, anh là người
luôn có ý thức níu giữ truyền thống, nhưng cũng buộc phải tìm được cho
mình một tiếng nói riêng để không bị quá nhạt nhòa, một tiếng nói làm nên
chính Miên Di giữa hàng trăm cái tên khác.
Và, một đặc điểm nữa, mặc dù không rõ nét, nhưng trong thơ anh,
dường như có gì đó rất gần gũi với mảnh đất quê hương mà anh sinh sống.
Đó, là sự phóng khoáng của những người con phố núi kết hợp với sự phiêu du
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Tác giả Miên Di, tên thật là Lê Xuân Hòa, sinh năm 1976 , nguyên
quán Đà Nẵng, và hiện đang sinh sống tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bên
cạnh việc sáng tác, Miên Di cũng còn là một doanh nhân tài năng với nhiều
ngành nghề kinh doanh ẩm thực, giải trí.
Miên Di là cái tên mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đương đại.
Ngày 26/7/2013, anh đến Hà Nội và ra mắt tập thơ đầu tay của mình với cái
tên rất giản dị : Thơ miên di gồm hơn 200 bài thơ với nhiều thể loại và độ dài
ngắn khác nhau. Thơ Miên Di, đã nhanh chóng tạo được dấu ấn tốt đẹp và
nhận được rất nhiều sự đánh giá tích cực của những người tham dự. Tính cho
đến thời điểm chúng tôi hoàn thành luận văn, cuốn “thơ miên di” vẫn là tập
thơ duy nhất mà tác giả công bố và trình làng thi ca.
13
Làm thơ chưa lâu, các sáng tác cũng chưa nhiều, nhưng giá trị nghệ
thuật của thơ Miên Di thì lại là vấn đề rất xứng đáng được đề cập và nghiên
cứu trong một công trình khoa học thực sự. Thơ Miên Di, là sự kết đọng của
những chiêm nghiệm sâu sắc, những ý tưởng mới lạ bằng việc xây dựng được
nhiều hình ảnh và thủ pháp liên tưởng sắc sảo, tài hoa.
Hiện nay, thơ Miên Di cũng được giới truyền thông quan tâm và để ý
truyền bá bằng việc giới thiệu các tác phẩm trên sách, báo, truyền hình, các
trang mạng xã hội và cũng đã gây được hiệu quả tốt đẹp.
2.2. Sơ lược về thơ Miên Di
Trong luận án tiến sĩ của mình, nhà nghiên cứu Đặng Thu Thủy đã đưa
ra một nhận định rất sâu sắc: “Thời gian là cửa tử, đồng thời cũng là cửa
sinh của văn chương nghệ thuật. Chỉ những gì là nghệ thuật đích thực mới
còn lại trên mắt lưới thời gian. Nếu có một độ lùi cần thiết, có thể ta sẽ đánh
giá được một cách bình tĩnh, khách quan và chính xác hơn. Song, đứng từ
góc nhìn đươngđại mà nhìn nhận, đánh giá về thơ ca đương đại cũng sẽ hứa
hẹn rất nhiều điều thú vị bởi tính thời sự của vấn đề.”
Và chúng tôi biết rằng, tác giả mà chúng tôi nghiên cứu là một cây bút
xác, cứng khô. Cái tôi cô đơn lang thang, mải mê tìm kiếm sự thiếu vắng
trong chính mình, nhưng, càng kiếm tìm, lại càng thấy sự thiếu vắng lớn hơn,
để rồi, nỗi cô đơn lại càng nhức nhối. Và trong suốt cả tập thơ, cuộc hành
trình đi tìm kiếm tâm hồn đồng cảm, vẫn chỉ là một cuộc hành trình dang dở!
Tuy nhiên, thơ Miên Di không phải là không có tiếng nói mạnh mẽ đầy
quyết liệt. Bên cạnh lời thủ thỉ tâm tư, cái tôi trữ tình cũng luôn có sự đổi
giọng cần thiết khi đề cập đến những vấn đề xã hội hay việc thể hiện chính
kiến, niềm tin và quan điểm sống của chính mình. Thơ Miên Di chạm đến rất
15
nhiều vấn đề, mà vấn đề nào cũng được khai thác theo chiều hướng riêng, tạo
nên một cái tôi đa chiều, đa diện.
Bên cạnh việc thể hiện cái tôi cá nhân trên nhiều phương diện, trang
thơ Miên Di cũng rất hay khi viết về tình yêu và hôn nhân, mà nhân vật đại
diện là Em- người phụ nữ đầy những đa đoan, trắc trở với một mối tình đẹp
dở dang không nên duyên phận. Sự giằng xé dai dẳng, đau đớn trong tâm hồn
người đàn bà giữa khát vọng tình yêu và bộ phận, nghĩa vụ tạo nên những
trang thơ đầy tâm trạng day dứt, ám ảnh. Tình yêu trong thơ Miên Di, là tình
yêu mãnh liệt nồng nàn mà lại cũng vô cùng kín đáo, tinh tế. Đó, không phải
là thứ tình dữ dội, ồn ào của tuổi trẻ, mà là thứ tình bên trong, thứ tình chất
chứa cả những bộn bề duyên phận, là tình yêu nhiều chiêm nghiệm hơn,
nhưng cũng vẫn da diết và thiết tha nồng nàn đến tận cùng.
Thơ Miên Di, còn hấp dẫn người đọc bởi những chiêm nghiệm được
kết đọng thành triết lí. Thơ Miên Di, không chỉ có chiều sâu của nội tâm, mà
còn mang chiều sâu của nhận thức, của một tâm hồn trải đời và hiểu đời. Thơ
anh, bên cạnh những dòng thơ của cảm xúc, còn là những dòng thơ của nhận
thức, suy tư. Chính sự kết hợp hài hòa của hai yếu tố này đã tạo nên tính độc
đáo cho thơ.
Xét về phương diện nghệ thuật, thơ Miên Di không nặng về cách tân
hình thức cầu kì, không nặng về phép chơi chữ, nhạc điệu, Thơ anh, là dòng
chảy tự nhiên của dòng tâm trạng, mỗi bài thơ là một dòng tâm tư, không có
sáng tạo nghệ thuật vô cùng mạnh mẽ.
Có lẽ rằng, không phải riêng trong thơ Miên Di mới xuất hiện cái cái
tôi đa cảm. Nhưng, không phải sự đa cảm nào cũng đều được định danh giống
như nhau, bởi, sự đa cảm, qua từng cái “tôi” khác nhau lại mang những màu sắc
riêng biệt. Và Miên Di cũng vậy, cái tôi đa cảm trong thơ anh cũng mang một
màu sắc mới, một màu sắc không hề trộn lẫn giữa trăm nghìn cái tôi trữ tình.
Trong thơ Miên Di, cảm xúc chủ đạo mà ta có thể dễ dàng gặp thấy
nhất chính là nỗi buồn. Và có thể nói, chính nỗi buồn, đã trở thành nguồn cảm
hứng sáng tạo nghệ thuật vô cùng quan trọng. Phải đến 90% các bải thơ trong
tập đều chứa đựng nỗi buồn. Cách diễn đạt nỗi buồn thì muôn hình muôn vẻ,
nhưng tựu chung lại, nỗi buồn là trạng thái cảm xúc đã chi phối rất lớn nhân
vật trữ tình. Qua nỗi buồn, dường như bao sự mới được khơi lên, gợi lên. Và
18
cũng dường như, phải có nỗi buồn, thi sĩ mới có thể cất lên lời thổ lộ của tâm
tình một cách tự nhiên mà thấm thía đến như vậy.
Nỗi buồn đã trở thành một phần của cuộc sống nhân vật trữ tình, nỗi
buồn đến tự nhiên như một thói quen hàng ngày trong cuộc sống:
“có nỗi buồn để quên trong ngăn kéo
cứ kéo ra lại lặng lẽ đóng vào
cái ngăn kéo nhìn mình cười nhạo
biết rỗng rồi sao vẫn mở ra xem”
(ngăn kéo)
Hay:
“có hôm bận quá không buồn được
muốn hẹn nỗi niềm qua hôm sau
hôm sau bận quá không buồn được
tôi thấy nỗi buồn lên cơn đau”
(bài này không biết đặt tên)
Nỗi buồn trong thơ Miên Di đến tự nhiên lắm, tự nhiên bởi như đã gắn
bó và trở thành một phần cơ thể không thể tách rời của nhân vật trữ tình mà
buồn” (tiếng động màu xanh), “ta bịa vào đời nỗi buồn như thật/ rồi tưởng
mình buồn thật mới đau” (thế mới đau).
Đọc thơ Miên Di và tìm hiểu về cái tôi trữ tình, bất chợt làm ta nhớ đến
những vần thơ của Trịnh Công Sơn, một tác giả tài hoa cũng luôn mang trong
mình những mối sầu nhân thế. Không hề sai khi người ta nói rằng “mọi sự so
sánh đều chỉ là khập khiễng”, nhưng, sự phảng phất của hồn thơ Trịnh vào rất
nhiều những tâm hồn hôm nay là điều không thể phủ nhận. Bởi, Trịnh đã
20
không chỉ viết cho mình, viết cho một đời, mà đã viết cho muôn người, muôn
đời trong cõi nhân gian. Và giờ đây, khi tìm hiểu về cái tôi trong thơ Miên Di,
chúng tôi nhận thấy rằng, ít nhiều, tác giả cũng đã tự tơ vương lòng mình vào
nỗi sầu chung ấy, và ít nhiều, tác giả cũng đã tự gắn hồn mình, với người thầy
tài hoa trứ danh bởi mối đồng cảm sắc sâu của hậu thế. Đó, là cái tôi nhiều
lắm những mối sầu, là cái tôi vừa đa cảm, vừa tài hoa lại vừa gói trọn những
triết lí nhân sinh vô thường trong cuộc sống, cái tôi tinh tế và sâu sắc ấy đã tự
vương lòng mình vào những buồn thương bất tận, để thấy lòng mình, thấy đời
mình giữa nhân gian vũ trụ, giữa kiếp vòng xoay của định mệnh.
Ngày hôm nay khi cái tôi trữ tình trong thơ Miên Di đi giữa “buổi
chiều thủng lốp” mà không “vá được nỗi buồn”, ta cũng lại nhớ đến trước
đây, có một cái tôi cô đơn cũng đã từng tâm sự: “Chiều nay em ra phố về/
Thấy đời mình là những đám đông”, “Thấy đời mình là những chuyến xe”, và
để “Thấy đời mình là những quán không”(Nghe những tàn phai- Trịnh Công
Sơn). Thấy cuộc đời mình là những xung quanh, từ những ồn ào và tĩnh lặng,
từ những hữu hạn và vô hạn để nghe cõi lòng sầu vương.
Và quay trở lại với hình ảnh cái tôi chất đầy những nỗi buồn trong thơ
Miên Di, ta cũng nhận ra một điều đặc biệt, rằng không chỉ trong niềm đau
mới có nỗi buồn, mà nỗi buồn, còn được phát hiện ra ngay cả trong những
điều tưởng chừng hạnh phúc: “Em cười sao vẫn hở hang nỗi buồn” (xê dịch
ngày), “đôi khi hạnh phúc mệt nhoài/ nhớ nhung là cõi thiên thai của buồn”
(buồn thiên thai). Thậm chí, ngay trong không khí rộn ràng của ngày hạnh
thế hệ đi sau, cái tôi trữ tình trong thơ Miên Di cũng đã tìm được cho mình
một con đường riêng, một mảnh đất riêng với những phát hiện sáng tạo và
22
mới mẻ. Vẫn là nỗi buồn từ muôn thuở, nhưng qua những lăng kính khác
nhau, đúng là đã mang những sắc màu không thể trộn lẫn.
1.1.2. …Đến cái tôi cô đơn giữa cuộc đời…
Phải nói rằng, cái tôi cô đơn là kết quả kéo theo tất yếu của một cái tôi
đa cảm đa sầu. Bởi có một điều tưởng chừng là nghịch lí vẫn cứ tồn tại rất
hiển nhiên,là khi trạng thái tâm hồn càng phong phú, khi trái tim càng dễ
rung động trước mọi vật, thì con người ta lại càng cảm thấy lòng mình trống
vắng, càng cảm thấy cái tôi của mình nhỏ bé và cô độc trước biến thiên của
cuộc đời. Cô đơn là trạng thái mà bất kì ai cũng đã từng trải qua trong cuộc
sống, và đặc biệt đối với các thi nhân, cô đơn dường như đã luôn trở thành
một người bạn song hành.
Tôi đã từng đọc được định nghĩa rất hay mà giản dị về sự cô đơn rằng:
“Cô đơn không phải là khi xung quanh ta không có ai, mà là khi xung quanh
ta có rất nhiều người mà ta vẫn luôn chỉ có cảm giác một mình.” Rõ ràng, cô
đơn khác với cô độc, nếu cô độc là tình trạng chỉ có một mình ta nên ta cảm
thấy thiếu vắng thì cô đơn lại là trạng thái thuần túy thuộc về tâm hồn, cô đơn
là sự cô độc của riêng tâm hồn mà thôi.
Trong thơ Miên Di, nỗi cô đơn cứ trở đi trở lại thành một ám ảnh trong
sáng tác, cái tôi đa cảm nhiều muộn phiền trăn trở ấy luôn tìm thấy cảm giác
cô đơn trong lòng mình, cảm giác cô đơn ở mọi lúc, mọi nơi với nhiều cung
bậc và sắc thái khác nhau. Và có những lúc, nỗi cô đơn được đẩy đến tột
cùng, nghe nhói đau như cắt cứa vào xúc cảm. “Lửa có lạnh/ lửa cháy co ro/
như những khắc khoải nóng ran mà tê cóng/ như nỗi cô đơn bỏng rát vẫn
không thể tự sưởi chính mình…khi không thể sưởi người lạnh lắm/ cháy cô
đơn & vô nghĩa/ giữa cuộc đời” (lửa lạnh). Ta mường tượng ra một không
gian đêm lạnh giá, giữa đốm lửa cháy sáng là một tâm hồn đang trải qua sự cô
đơn đến cực đỉnh, nghẹn ngào, sự cô đơn làm nên giá lạnh trong tâm hồn mà
ĐIỀU PHÙ HỢP. Chỉ có một điều / một người phù hợp mới có thể lấp đầy sự
thiếu trống vắng, mới có thể lấp đầy sự cô đơn. Nhưng dường như trong cả
tập thơ, đó vẫn còn là một cuộc kiếm tìm dang dở.
Và có một điều cũng rất thú vị trong sự thiếu để tạo nên nỗi cô đơn, đó
là việc nhân vật trữ tình phát hiện ra người thiếu đầu tiên lại là chính mình.
Thiếu ngay chính cái tôi để làm nên sự vừa vặn, làm cho một nửa cái tôi còn
lại bơ vơ, thảng thốt đi tìm: “ai không lẫn cùng dòng người đi lại/ nhặt quả
thông rơi thảng thốt gặp bóng mình”. Để cái tôi còn lại chìm trong cô đơn,
trong thổn thức: “chiều đưa tâm trạng lên trời/ câu thơ như gã bụi đời không
tên”(chiều, tôi & thơ), “một mình đứng giữa lòng không/ lòng không đứng
giữa phố đông không mình” (trắng ngày). Cái tôi cô đơn ấy còn có một chút
gì đó rất phiêu, phiêu trong dòng tư tưởng, trong hành động, như một “gã bụi
đời không tên” ngao du kiếm tìm, rũ bỏ mệt mỏi để trở về với cái bản nguyên
thuần khiết của chính mình. Chính cái chất lãng tử ấy đã tạo nên một hồn thơ
thật lạ, trạng thái nào cũng được đan cài bởi rất nhiều các phức hợp rất khác
nhau, có cả buồn cả vui, và ngay trong buồn vui ấy đã lại chứa đựng rất nhiều
cung bậc, sắc thái.
Nhân vật trữ tình cô đơn, và trong chính sự cô đơn đã là nguồn cơn cho
cuộc hành trình đi tìm kiếm cái tôi bản thể của chính mình: “thấy mình như viên
gạch/ chôn sâu trong ẩn ức bức tường” (ẩn ức). Vậy là, sự cô đơn bắt nguồn
ngay chính từ bên trong của cái tôi còn đầy những ngổn ngang ẩn ức. Và chính
những ẩn ức đó đã tạo nên rất nhiều những phức hợp cảm xúc, tư duy.
Sự trở lại với chính mình để giải mã cái tôi bản thể là một xu hướng
phổ biến của thơ trữ tình hôm nay. Và đời sống tâm lí cùng với những quy
luật, biến động hết sức linh hoạt của nó vẫn còn là một miền đất hứa thu hút
những tâm hồn nhạy cảm. Nếu những nhà thơ của phong trào Thơ mới đã
25