1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI THỊ THỦY
THẾ GIỚI
NGHỆ THUẬT THƠ LÊ ANH XUÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ANH XUÂN TRONG TIẾN TRÌNH THƠ VIỆT NAM CHỐNG MỸ CỨU NƢỚC 16
1.1. Khái lược chung về thế giới nghệ thuật 16
1.2. Thơ Lê Anh Xuân trong tiến trình thơ Việt Nam chống Mỹ cứu nước 18
1.2.1. Bối cảnh thơ ca Việt Nam những năm chống Mỹ 18
1.2.2. Cuộc đời và sự nghiệp Lê Anh Xuân 21
CHƢƠNG 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ THẾ GIỚI HÌNH TƢỢNG
TRONG THƠ LÊ ANH XUÂN 32
2.1. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Lê Anh Xuân 32
2.1.1.Tình yêu quê hương miền Nam thắm thiết 33
2.1.2. Tình cảm chân thành với miền Bắc thân yêu 50
2.2. Thế giới hình tượng trong thơ Lê Anh Xuân 60
2.2.1. Cái tôi trữ tình 60
2.2.2. Hệ thống nhân vật trữ tình 66
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP THƠ LÊ ANH XUÂN 83
3.1. Thể thơ trong thơ Lê Anh Xuân 83
3.1.1. Thơ tự do 83
3.1.2. Thơ lục bát 87
3.2. Ngôn ngữ và giọng điệu thơ Lê Anh Xuân 91
3.2.1. Ngôn ngữ 91
3.2.2. Giọng điệu 101
3.3. Hệ thống hình ảnh biểu tượng trong thơ Lê Anh Xuân 110
3.3.1. Cây dừa 110
3.3.2. Dòng sông 114
3.3.3. Đất 118
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 4
MỞ ĐẦU
cao đẹp và tinh thần phấn đấu không ngừng trong sáng tạo thơ ca. “Kẻ thù đã cƣớp
mất của chúng ta Lê Anh Xuân, một nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng. Lê Anh Xuân
đã mang đến cho miền Nam một chất thơ đằm thắm và tha thiết” [21, tr.12].
Lê Anh Xuân mới trải qua 10 năm làm thơ với số lượng bài thơ anh để lại cho đời
không nhiều: hơn 60 bài thơ, một bản trường ca và một tập văn xuôi. “Còn có sự vội
vàng chƣa kịp gọt rũa công phu, còn thiếu cái nhiều mặt của đề tài, chiều sâu của suy
tƣởng, nhƣng cái dồi dào nhất là tấm lòng của anh đối với quê hƣơng đang chiến
đấu, tâm hồn của anh đối với lý tƣởng cách mạng mà anh tin yêu, là sự say mê của
anh đối với thơ ca ngày đêm anh miệt mài sáng tạo” [19, tr.52]. Thơ anh là tiếng nói
của một trái tim đầy nhiệt huyết, thiết tha và cháy bỏng, mang cốt cách của một con
người vùng quê Đồ Chiểu trong cách nói phóng khoáng, bộc trực, chân thành.
Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Lê Anh Xuân vụt qua như một ngôi sao hôm
giữa bầu trời đầy khói lửa. Thế nhưng tất cả những gì mà anh để lại cho quê hương,
đất nước, gia đình, bạn bè, đồng đội và cả thơ ca đã làm cho chúng ta xúc động và
tự hào. Có thể nói, Lê Anh Xuân là điển hình cho một thế hệ, một thời đại, một lớp
người ra đi để bảo vệ tự do, độc lập cho Tổ Quốc. Do đó, chúng ta rất trân trọng,
yêu quý anh, trân trọng những tác phẩm viết bằng máu của một người chiến sĩ có
tâm hồn thơ rất rung động.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Lê
Anh Xuân” để nghiên cứu như một nén nhang tưởng niệm Nhà thơ – chiến sĩ Lê
Anh Xuân đã “ngã tồn ngã huyết dĩ can huyên” (lấy máu đào bảo vệ non sông) cho
mảnh đất này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân sáng tác thơ trước khi tập kết ra Bắc (1954) nhưng
thơ anh chỉ thực sự được giới nghiên cứu phê bình chú ý kể từ khi có bài Nhớ mƣa
quê hƣơng đoạt giải Nhì, giải thưởng Tạp chí Văn nghệ 1961. Kể từ đó cho đến nay,
có đến hàng mấy chục công trình nghiên cứu, bài viết, giới thiệu, phê bình về cuộc
đời và thơ văn của Lê Anh Xuân của các tác giả: Hoài Thanh, Hồng Tân, Diệp
Minh Tuyền, Bảo Định Giang, Trang Nghị, Châu Khoa, Nguyễn Chí Bền, Nguyễn
7
diễn ra ở miền Bắc. Hoài Thanh cho rằng, thơ Lê Anh Xuân viết ở chiến trường có
độ say tình yêu và độ say lý tưởng. Cùng với độ say mê ấy, chất trữ tình đằm thắm
đã làm dịu ngọt thơ anh, cảm hứng sử thi trong thơ anh cũng trở nên tươi xanh, dễ
đi vào lòng người. “Câu thơ của Lê Anh Xuân vẫn dịu hiền và có khi nhỏ nhẹ nữa
Có thể nói Lê Anh Xuân đã đạt tới cái nhìn anh hùng ca và tìm đúng cái giọng anh
hùng ca”.
Ở bài “Lê Anh Xuân với tập Hoa dừa và trƣờng ca Nguyễn Văn Trỗi”, đăng trên
Tạp chí tác phẩm mới, số 7/1970, Trang Nghị viết: “Âm điệu phấn khởi, trong sáng
vang lên trong từng câu, từng chữ của Lê Anh Xuân. Tình yêu quê hƣơng tha thiết
đến đau nhói, tính dân tộc đậm đà, chất trữ tình đằm thắm nổi lên trong suốt tập
Hoa dừa Anh thích nói bằng điệu trầm ấm, nhẹ nhàng những vấn đề to lớn, sôi
sục của thực tế chiến đấu và sản xuất của đồng bào miền Nam” [55].
Trong Văn học giải phóng miền Nam, NXB Đại học và Trung học chuyên
nghiệp Hà Nội 1976, Phạm Văn Sĩ có dành hẳn chương mười ba viết về Thơ Lê
Anh Xuân, đặc biệt là tập Hoa dừa: “Nổi bật trƣớc tiên trong Hoa dừa là tình cảm
của tác giả đối với đất mẹ quê hƣơng. Đây là thứ tình cảm nồng nhiệt, vồ vập của
đứa con đi xa lâu mới trở về. Nhà thơ đi chân đất, cho chân mình ngập trong bùn
đất, bƣớc trên những chồi non nhọn sắc mới mọc sau trận na-pan để sống cái cảm
giác trực tiếp gắn bó với đất, để nghe hơi thở ấm áp của đất, nghe thấm vào mình
sự sống của đất mẹ quê hƣơng” [71, tr.204].
Với bài “Thơ Lê Anh Xuân”, in trong Giáo trình văn học Việt Nam tháng
10/1977, Huỳnh Lý đã nghiên cứu khá chi tiết về nội dung và nghệ thuật thơ Lê
Anh Xuân: “Thơ Lê Anh Xuân trƣớc hết là thơ ca ngợi không dè dặt cuộc sống
chiến đấu và lao động ở hai miền Nam Bắc, thơ anh cũng là thơ mang tình yêu quê
hƣơng thắm thiết, thơ của những tình cảm tƣơi mát, hồn nhiên, trong sáng”. Bàn về
nghệ thuật thơ Lê Anh Xuân, Huỳnh Lý có nhận xét rằng: “Ngôn ngữ thơ Lê Anh
Xuân là một ngôn ngữ tình cảm, hồn nhiên, thật thà, tƣơi trẻ, trong sáng”; “Phải
nói rằng, các chức năng của thơ – của văn nghệ nói chung – Lê Anh Xuân đều đạt
ngƣời thƣởng thức, NXB Hội nhà văn, năm 2000, đã điểm xuyến lại cuộc đời Lê Anh
9
Xuân. Trong Địa chí Bến Tre, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 2001, do Thạch Dư –
Đoàn Tứ chủ biên; Từ điển tác gia văn học thế kỷ XX, Nhà xuất bản Hội nhà văn,
2003, do Nguyễn Mạnh Thường chủ biên; và cuốn Tinh tuyển văn học Việt Nam tập
8, phần Văn học Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, 2004, do Trần Đình Sử chủ biên
đều có phần giới thiệu đôi nét cuộc đời và những đóng góp của Lê Anh Xuân.
Trong cuốn Văn học tình yêu của tôi, NXB Khoa học xã hội, năm 2001, Nguyễn
Kim Hoa có bài Nhà thơ – chiến sĩ Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân, tác giả đã đi nghiên
cứu chuyên sâu về con người, sự nghiệp của nhà thơ, đồng thời phân tích hai tập thơ
Tiếng gà gáy và Hoa dừa. Tác giả viết: “Anh đã để lại một tấm gƣơng ngời sáng
của một nhà thơ – chiến sĩ, một nghệ sĩ chân chính đã gắn chặt với sự nghiệp, vận
mệnh của dân tộc, của Tổ Quốc”; “Giản dị, mộc mạc và vẫn mặn mà, duyên dáng,
thơ Lê Anh Xuân không nói cái gì xa lạ cả. Nó chỉ nói lên tâm tƣ, tình cảm, nguyện
vọng, ý chí và hành động của chúng ta mà thôi” [24, tr.139].
Trong Từ điển tác gia tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trƣờng, NXB
Đại học sư phạm, 2003, do Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý
đồng chủ biên, cũng có phần giới thiệu về Lê Anh Xuân và nội dung chính của hai
tập thơ: “Đây là một giọng thơ có dấu ấn riêng: tƣơi trẻ, hồn hậu, nhỏ nhẹ, tâm tình
mà sâu sắc bởi những cảm hứng lịch sử mang tầm khái quát cao. Lê Anh Xuân là
một gƣơng mặt thơ khá tiêu biểu và đáng trân trọng của lớp nhà thơ trẻ trƣởng
thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc”.
Trong Lịch sử văn học Việt Nam tập III, NXB Đại học sư phạm, 2004, do
Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên, đã dành hẳn chương bốn viết về Lê Anh Xuân do Lê
Quang Hưng biên soạn. Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu khá công phu
về tiểu sử, các tác phẩm đã xuất bản và nội dung, nghệ thuật trong thơ Lê Anh
Xuân. Tác giả viết: “Thơ Lê Anh Xuân là tiếng ca trong trẻo, mê say của một tâm
hồn hồ hởi, thiết tha tin yêu trƣớc cuộc đời. Tiếng thơ ấy nhƣ cơn mƣa đầu hạ, dạt
dào, tƣơi mát, nhƣ dòng sông mải miết băng băng về phía trƣớc” [47, tr.407]. Anh
Bên cạnh những bài viết nghiên cứu, thẩm bình về thơ Lê Anh Xuân nói chung,
các tác giả còn tiếp cận theo hướng nghiêng về phân tích, thẩm bình từng bài thơ cụ
thể của Lê Anh Xuân. Đó là bài viết của Hoàng Như Mai, Nguyễn Đức Quyền, Hải
11
Hà, Vũ Huy Thông, Lê Xuân, Vũ Văn Sỹ, Bùi Công Hùng Trong Thơ ca miền
Nam 1955 – 1975, do Tế Hanh giới thiệu, Quốc Túy gợi ý phân tích, NXB Giáo dục
năm 1971, đã trích tuyển và gợi ý phân tích các bài thơ Cấy đêm; Dáng đứng Việt
Nam; Trƣờng mới và Mùa xuân Sài Gòn – mùa xuân chiến thắng. Trong Những vẻ
đẹp thơ, Nguyễn Đức Quyền, NXB Hội Văn nghệ Nghĩa Bình nắm 1987, đã trích
dẫn và phân tích bài Nhớ mƣa quê hƣơng. Nói về cảm xúc bài thơ, tác giả viết:
“nguồn cảm xúc dạt dào quá, anh cứ trải hồn chân thật của mình ra, nhƣ là nguồn
của một con sông lớn. Mà thơ cũng nhƣ sông, tình cảm lớn thì thơ lớn, nhƣ lƣu vực
lớn thì nguồn lớn, trong trẻo, nồng nàn, cả nồng nàn làm cho ta ngây ngất nhƣ một
cái hôn đầu Thơ anh thành thật quá! Sự thành thật đã làm nên cái mê hoặc của
thơ anh” [67].
Trong cuốn Nhà văn trong nhà trƣờng Lê Anh Xuân, NXB Giáo dục năm 1999,
Hải Hà khẳng định: “Trong thơ Lê Anh Xuân ngoài nhạy cảm của con ngƣời thi sĩ,
anh còn là nhà sử học Tri thức sử học ấy đã cho anh thêm khả năng tổng hợp và
khái quát những vấn đề rộng lớn mà bài thơ cần vƣơn tới” [19].
Ngoài ra, trong mấy năm gần đây, một số người chọn cuộc đời và thơ Lê Anh
Xuân làm đề tài nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ và được hội đồng luận văn
đánh giá xuất sắc. Đó là luận văn của Nguyễn Bá Long, với đề tài Cảm hứng trữ
tình sử thi trong thơ Lê Anh Xuân, Trường ĐHSP TPHCM, năm 2006; và luận văn
của Nguyễn Văn Triều với đề tài Bƣớc đầu tìm hiểu thơ Lê Anh Xuân, trường
ĐHKHXH & NV TPHCM năm 2006.
2.2. Các bài viết về kỷ niệm, ký ức của các tác giả đối với nhà thơ Lê Anh Xuân
Các bài viết của Lê Văn Thảo, Anh Đức, Thanh Quế, Lữ Huy Nguyên, Hoài
Anh, Viễn Phương, Ca Lê Hồng, Nguyễn Văn Bổng, Từ Sơn đều bộc lộ tình cảm
xúc động qua những câu chuyện, những kỉ niệm sống, học tập và chiến đấu cùng Lê
từ lúc Hiến ngã xuống nơi cánh đồng ở sát ven lộ 4 cách Bến Lức độ 3 cây số.
Nhiều năm nay tôi vẫn thƣờng qua lại lộ 4. Mỗi lần xe chạy ngang qua chỗ đó, tôi
đều chăm chú nhìn vào cánh đồng nơi Hiến chết. Lúa trên đồng bao nhiêu mùa qua
đã xanh rờn vào màu xanh của cơm áo. Trời ở bên trên đã xanh màu xanh yên bình
13
gần hai thập kỷ. Và những dòng thơ của Hiến để lại cũng còn tƣơi xanh nhƣ đất
nhƣ trời ấy”.
Trong bài viết “Lê Anh Xuân, sống học sử, chết đi vào sử”, in trong cuốn Chân
dung văn học, NXB Hội nhà văn năm 2001, Hoài Anh viết về những kỷ niệm của
buổi sinh hoạt thơ khi nghe Lê Anh Xuân đọc Nhớ mƣa quê hƣơng. Tác giả viết:
“Nhìn dáng thƣ sinh dong dỏng cao, mái tóc hơi quăn, nƣớc da trắng trẻo, đôi mắt
trìu mến đầy tin yêu và giọng nói thủ thỉ ấm áp của Hiến, tôi không mƣờng tƣợng
nổi đó là dáng đứng của một ngƣời chiến sĩ. Bài thơ của Hiến đầy ắp những kỷ
niệm tuổi thơ lồng trong cảm xúc thƣơng nhớ da diết quê Nam”. Nhận xét về bài
thơ Dáng đứng Việt Nam và Trƣờng ca Nguyễn Văn Trỗi, tác giả cho rằng: “Lê Anh
Xuân đã tự tạo một dáng đứng riêng trong văn học Việt Nam thế kỷ 20 mang đặc
trƣng điển hình của đất nƣớc và ngƣời Nam Bộ” [2].
Nhìn chung, các nghiên cứu về Lê Anh Xuân đều có được những tìm tòi , khám
phá đáng qu ý, đáng trân trọng về mặt nội dung và nghệ thuật giúp cho người đọc có
được cái nhìn sâu sắc hơn trong việc thẩm định giá trị và ý nghĩa của thơ Lê Anh
Xuân đối với nền văn học giải phóng miền Nam nói riêng và thơ ca dân tộc nói
chung. Lê Anh Xuân xứng đáng là dáng đứng của một thế hệ nhà thơ. Cuộc đời của
anh là tấm gương cao đẹp về nhà thơ – chiến sĩ, về ý thức trách nhiệm của người
cầm bút. Thi phẩm của anh không phải chỉ là những giá trị tư liệu, giá trị tuyên
truyền mà còn là những giá trị nghệ thuật đích thực.
Để tri ân và lưu giữ những kỉ vật tinh thần vô giá của anh, gần đây, Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng với NXB Văn hóa
văn nghệ TP HCM đã cho xuất bản cuốn Nhật ký Lê Anh Xuân. Tập Nhật ký là
những ghi chép chân thực, sống động dưới góc nhìn của người nghệ sĩ, đồng thời
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
5. Cấu trúc của luận văn
Phù hợp với logic nội tại của vấn đề đặt ra nghiên cứu, ngoài phần mở đầu và
phần kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương:
15
Chƣơng 1: Khái lƣợc chung về thế giới nghệ thuật và thơ Lê Anh Xuân trong
tiến trình thơ Việt Nam chống Mỹ cứu nƣớc
Chƣơng 2: Cảm hứng chủ đạo và thế giới hình tƣợng trong thơ Lê Anh Xuân
Chƣơng 3: Đặc điểm thi pháp thơ Lê Anh Xuân
Tuy vậy, do một số nội dung giữa các chương có sự liên quan với nhau nên đôi
chỗ dẫn chứng đã nói ở chương, mục này sẽ được nhắc lại ở chương, mục khác để
khẳng định hoặc khai thác thêm ý nghĩa mới với mong muốn khám phá thơ Lê Anh
Xuân từ nhiều góc độ và có cái nhìn đầy đủ hơn.
16
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ THẾ GIỚI NGHỆ
THUẬT VÀ THƠ LÊ ANH XUÂN TRONG TIẾN TRÌNH THƠ
VIỆT NAM CHỐNG MỸ CỨU NƢỚC
1.1. Khái lƣợc chung về thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật có thể được hình dung như “thiên nhiên thứ hai” do
người nghệ sĩ sáng tạo ra. Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện
những khát vọng chân – thiện – mĩ của chủ thể sáng tạo. Với ý nghĩa này, vấn đề
Năm 1992, trong Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán – Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ
mang tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác
phẩm, một tác giả, một trào lƣu). Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng đƣợc tạo
ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật có thời gian riêng,
không gian riêng, có quy luật tâm lý thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế
giới. Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về thế giới” [20].
Khẳng định tính chỉnh thể của thế giới nghệ thuật, Nguyễn Đăng Mạnh trong
Con đƣờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn cho rằng: “Thế giới nghệ thuật
của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất yếu
phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan
hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [50].
Nghiên cứu cụ thể ở thể loại thơ trữ tình, trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam
1975-1990 (1998), Lê Lưu Oanh đã chi tiết hóa khái niệm này qua hình tượng cái
tôi trữ tình: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này
là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân,
thời đại… Đi sâu vào thế giới nghệ thuật đƣợc coi là một kênh giao tiếp với những
mã số, ký hiệu, giọng nói chƣơng trình riêng, cần có thao tác phù hợp… Thế giới
nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ” [62, tr 33-35].
18
Trần Đình Sử trong Những thế giới nghệ thuật thơ đã khẳng định thế giới
nghệ thuật như một cõi sống riêng, mang dấu ấn cá nhân, cái nhìn chủ quan của
người sáng tạo: “Văn bản thơ không chỉ gồm câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp… mà bao
gồm cả thế giới hiện tƣợng bên trong nhƣ một thế giới sống đặc thù. Phải miêu tả
thế giới ấy, cho dù nó khác với thực tế nhƣ thế nào, có vẻ vô lý nhƣ thế nào. Đó
chính là thế giới chủ quan nội tâm của tác phẩm” [69].
Xét đến cùng thế giới nghệ thuật của một nhà văn, nhà thơ chính là một thế
giới hình tượng được xây cất bằng chất liệu ngôn từ, hiện ra như một chỉnh thể sống
động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh hoặc thẩm mỹ nào đó. Như vậy, thế giới
biệt của chính quyền Mỹ - Ngụy.
Để cứu vãn sự phá sản của Chiến tranh đặc biệt, nhằm đàn áp cách mạng miền
Nam, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, từ tháng 3/1965, Mỹ đã chính thức thực
hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ và gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không
quân và hải quân Mỹ đối với miền Bắc. Quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam,
trực tiếp đàn áp cuộc chiến tranh của nhân dân, biến cả nước thành một chiến
trường. Trước tình hình đó, nhân dân hai miền Nam Bắc đã vùng lên đấu tranh
chống ách kìm kẹp, trừng trị bọn ác ôn, phá từng mảng lớn ấp chiến lược, đã đem lại
những chiến thắng lớn cho cách mạng miền Nam vào những năm 1965 – 1966 và 1966
– 1967; tạo đà cho thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968.
Cuộc tiến công chiến lược 1972 và trận Điện Biên Phủ trên không tháng
12/1972 thắng lợi đưa tới Hiệp định Pari, tạo ra bước ngoặt căn bản cho cách mạng
nước ta. Trước tình hình đó, tháng 7/1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng xác định phương hướng và biện pháp cơ bản đưa cách mạng miền
Nam tiến lên, đánh đổ hoàn toàn chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ. Hội nghị đã mở
ra con đường đưa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến vào giai đoạn
cuối cùng của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng hoàn toàn miền Nam.
1.2.1.2. Đặc điểm thơ ca giai đoạn chống Mỹ cứu nƣớc
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khơi nguồn cảm hứng lớn cho thơ ca,
lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo. Trải qua một quá trình phấn đấu, rèn
luyện không mệt mỏi, đồng thời có sự định hướng chính trị rõ ràng cùng với sự chỉ
20
đạo đúng đắn của Đảng, văn học giai đoạn chống Mỹ nói chung và thơ ca chống Mỹ
nói riêng đã có bước trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, trở
thành một mặt trận quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ. Có thể
thấy rằng, văn học cách mạng là một nền văn học của Đảng, của một cộng đồng dân
tộc đang đấu tranh cho tự do, độc lập. Do đó, nhiệm vụ của văn học và thơ ca kháng
chiến chống Mỹ phải phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ cách mạng là xây dựng chủ
nghĩa xã hội, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Sự lãnh đạo của Đảng đối
Bên cạnh đó, thơ ca chống Mỹ giàu chất trữ tình và chất anh hùng ca. Thơ bộc
lộ những cảm nhận chân thành, giản dị mà sâu lắng tình yêu, niềm tự hào về quê
hương đất nước, về cuộc sống quá khứ, hiện tại và hướng về tương lai. Thơ chính là
tiếng hát tâm tình của con người Việt Nam trước hiện thực cuộc sống đầy sôi động,
với những cảm xúc đằm thắm thiết tha về tình mẹ con, vợ chồng, tình yêu, tình
đồng chí… Đặc biệt, thơ có được vẻ đẹp hài hòa nhuần nhuyễn giữa chất anh hùng
ca và trữ tình. Có thể nói, thơ ca thời kỳ này vừa có vẻ đẹp chung của cả nền thơ,
vừa có vẻ đẹp riêng của từng khuôn mặt với những phong cách thơ khác nhau.
Thế hệ các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã tự khẳng định mình trên thi đàn một
cách thuyết phục. Họ là những người vừa chiến đấu vừa làm thơ, không chỉ vì mục
đích đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thời đại mà còn có cả sự thôi thúc từ bên trong của
chính các nhà thơ nữa. Những năm kháng chiến chống Mỹ, các thế hệ nhà thơ đã tiếp
bước nhau dàn quân trên những mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng
độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Họ đã mang đến sự ồ ạt đông vui
cho cả nền thơ bằng tiếng nói sôi nổi, mới mẻ, duyên dáng, đặc sắc mà trong đó
không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định: Nguyễn Khoa Điềm, Bằng Việt,
Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo… trong đó có nhà thơ Lê Anh Xuân.
1.2.2. Cuộc đời và sự nghiệp Lê Anh Xuân
1.2.2.1. Cuộc đời
Lê Anh Xuân, tên thật là Ca Lê Hiến, sinh ngày 05 tháng 06 năm 1940 tại xã An
Hội, thị xã Bến Tre. Quê nội ở xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
Anh sinh ra vào đúng những ngày Nam Kỳ khởi nghĩa trên mảnh đất giàu truyền
thống cách mạng.
22
Lê Anh Xuân sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nước, nổi tiếng
trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Thân phụ anh là học giả uyên thâm,
nhà nghiên cứu văn học có uy tín - GS Ca Văn Thỉnh (1902 - 1987). Mẹ là bà Lê
Thị Tài (1907 – 1990). Ông bà Ca Văn Thỉnh đều là những người từng tham gia hai
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những người anh em ruột
chuyển sang học ở trường Biển Bạch thuộc xã Biển Bạch, huyện Trần Văn Thời,
tỉnh Bạc Liêu. Cùng thích thơ văn, đàn hát nên việc tìm hiểu được gì, học được gì ở
trường hai chị em đều mang về chia sẻ cho nhau trở thành những niềm vui nho nhỏ
mỗi ngày.
Cuối năm 1952, Lê Anh Xuân vào làm việc ở nhà in Trịnh Bình Trọng thuộc Sở
Giáo dục Nam bộ. Lúc này Lê Anh Xuân mới 12, 13 tuổi nhưng đã bắt đầu làm thơ
đăng báo tường của nhà in.
Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc, chỉ còn người chị thứ hai
Ca Lê Du ở lại quê nhà hoạt động. Ca Lê Hồng vào đoàn văn công, còn em trai về
học tập trung tại trường học sinh miền Nam (Hải Phòng). Năm 1959 Lê Anh Xuân
mới về học ở trường cấp 3 phổ thông Nguyễn Trãi (Hà Nội). Đầu năm 1960, Lê
Anh Xuân trở thành sinh viên khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm
1962, tốt nghiệp Đại học, anh được giữ lại trường làm trợ giảng và nghiên cứu lịch
sử. Năm 1963, anh được cử đi học tập và nghiên cứu thêm ở Liên Xô, nhưng anh
xin ở lại và tình nguyện trở về quê hương miền Nam theo tiếng gọi của quê hương.
Cuối năm 1964, Lê Anh Xuân rời miền Bắc theo Đoàn cán bộ Giáo dục lên
đường vượt Trường Sơn trở về Nam, khi cuộc chiến đấu đang ở giai đoạn gay go
quyết liệt nhất. Khi vào đến miền Nam, anh được phân công công tác ở Tiểu ban
Giáo dục thuộc ban Tuyên huấn Trung ương Cục, sau đó, tháng 7 năm 1965, anh
chuyển sang công tác ở ngành Văn nghệ, thuộc Hội Văn nghệ giải phóng.
Ngày 7 tháng 8 năm 1966, Lê Anh Xuân vinh dự được đứng vào hàng ngũ của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mậu Thân 1968, hầu hết các cơ quan của Ban Tuyên huấn đều đi đưa quân
xuống mặt trận Sài Gòn. Lê Anh Xuân và một số anh em ốm yếu phải ở nhà. Giữa
24
đợt I (khoảng tháng 3 – 1968) từ mặt trận Sài Gòn các anh em trở về căn cứ. Cuối
tháng 4 đầu tháng 5 năm Mậu Thân (1968), bộ đội ta tổ chức đợt tổng công kích đợt
II tiến vào Sài Gòn. Chiến sự lúc bấy giờ hết sức căng thẳng và ác liệt. Vốn đã quen
là liệt sỹ. Năm 2011, nhà thơ được Chủ tịch nước truy tặng giải thưởng Nhà nước
về Văn học Nghệ thuật và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
1.2.2.2. Sự nghiệp
* Những tác phẩm chính đã xuất bản
- Tiếng gà gáy, thơ, 1965
- Giữ đất, văn xuôi, 1966
- Có đâu nhƣ ở miền Nam, thơ in chung, NXB Thanh niên, 1968
- Hoa dừa, thơ, NXB Giải phóng, 1968
- Nguyễn Văn Trỗi, trường ca, 1969
- Chào anh giải phóng quân, tập thơ, in chung, NXB Quân đội nhân dân,
1972
- Thơ Lê Anh Xuân, tuyển thơ, 1981
- Thơ Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), tuyển thơ, 1993
- Nhịp chày ba, thơ, tủ sách tác phẩm đầu tay, 1998
- Ca Lê Hiến – Lê Anh Xuân toàn tập, NXB Văn hóa Văn nghệ Tp. HCM, 2012
Lê Anh Xuân đã được nhận giải Nhì cuộc thi thơ của Tạp chí văn nghệ năm
1961 dưới bút danh Ca Lê Hiến, bài Nhớ mƣa quê hƣơng.
Thơ Lê Anh Xuân được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông, cao đẳng, đại
học; được dịch giả Lê Văn Chất dịch sang tiếng Pháp và được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc.
* Lê Anh Xuân với hai tập thơ Tiếng gà gáy và Hoa dừa
Tiếng gà gáy, ra đời năm 1965, là tập thơ đầu tay, tập hợp những bài viết của
Lê Anh Xuân trong 10 năm sống ở miền Bắc, khẳng định vị trí của Lê Anh Xuân
trong đội ngũ sáng tác trẻ thời chống Mỹ. Qua tập thơ, người ta thấy bên cạnh tình
cảm chân thực của một người con miền Nam đối với miền Bắc, với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội của đồng bào miền Bắc còn có tình cảm sâu sắc của nhà thơ
đối với quê hương miền Nam. Tình yêu quê hương được Lê Anh Xuân thể hiện qua