Thế giới nghệ thuật thơ Á Nam Trần Tuấn Khải - Pdf 28


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

NGÔ HỒNG HIỆP

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ
Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

Chuyên ngành : Văn học Việt nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHÙNG QUÝ NHÂM


1.3. Nghiên cứu một tác gia văn học không chỉ dừng lại ở việc xác định vị trí
cá nhân của tác gia ấy. Mỗi một nhà văn, nhà thơ đều thuộc về một giai đoạn lịch sử
nhất định. Bởi vậy nghiên cứu tác gia văn học còn có ý nghĩa không nhỏ về mặt lịch
sử văn học. Khám phá thế giới nghệ thuật thơ Á Nam Trần Tuấn Khải vì thế sẽ góp

3
phần giúp cho việc hình dung diện mạo thơ Việt Nam buổi giao thời, giai đoạn khởi
đầu đầy ý nghĩa trên bước đường hiện đại hóa nền văn học dân tộc.
1.4. Trong chương trình của bộ môn Văn học Việt Nam ở Đại học Sư phạm
vài chục năm trở lại đây, thơ văn Trần Tuấn Khải đã được đưa vào giảng dạy. Trần
Tuấn Khải cũng được giới thiệu ở lớp 8 trung học cơ sở với bài thơ “Hai chữ nước
nhà”. Chọn đề tài “Thế giới nghệ thuật thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, chúng tôi
muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu, đánh giá một tác gia được dạy
trong nhà trường.
Qua đề tài này với tư cách cá nhân, chúng tôi mong muốn sẽ tích lũy được
nhiều hơn tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu để phục vụ cho quá trình
giảng dạy và nghiên cứu sau này.
2. Lịch sử vấn đề
Á Nam Trần Tuấn Khải sinh năm 1894, mất năm 1983, cuộc đời trải qua nhiều
chế độ. Đời thơ Á Nam dài hơn 70 năm với nhiều biến cố, thăng trầm. Phần có giá
trị nhất của thơ ông, cũng là phần được nhiều người biết đến là những sáng tác được
in vào những năm hai mươi, ba mươi của thế kỷ XX. Như trên đã nói, Á Nam là tác
giả ít được nghiên cứu. Những ý kiến, nhận định về thơ ca Á Nam thường tản mạn,
rải rác đó đây trong các công trình nghiên cứu không phải dành riêng cho ông.
Chúng tôi xin điểm lại những nhận định cơ bản về thơ ca Á Nam qua mấy mốc sau:
2.1. Những ý kiến nhận định trước 1954
2.1.1. Một số ý kiến trên các báo, tạp chí đương thời
- Tạp chí “Nam Phong” tháng 5/1921 đăng bài khen tập “Duyên nợ phù sinh”,
khen các bài thơ “Tiễn chân anh Khóa xuống tàu, “Gánh nước đêm” là “lời giản dị
mà ý tứ sâu xa.” [10, tr.16].

tình cảm yêu nước thương nòi với việc gây dựng lại tinh thần đạo lí” [67, tr. 211]; Á
Nam là “một thi gia vững chãi trong việc sử dụng ngòi bút” [67, tr. 217]; biệt tài
của Á Nam là ở “lối thơ ca Việt: lục bát, hát nói, hát xẩm” [67, tr. 219].
2.3. Những ý kiến, nhận định về thơ Trần Tuấn Khải ở miền Bắc sau 1954
và cả nước sau 1975
2.3.1. Trong cuốn “Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam” tập 4b (Nguyễn Đình

5
Chú, Lê Trí Viễn – NXB Giáo dục – 1965), khi nói đến loại hình thơ của văn học
hợp pháp đã đề cập đến Trần Tuấn Khải và các nhà thơ khác như Đông Hồ, Đoàn
Như Khuê, Tản Đà. Nhận xét về những đóng góp của các nhà thơ này ở cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật trong sáng tác, các tác giả giáo trình viết:
“Do ảnh hưởng của các phong trào dân tộc vang dội vào văn học hợp pháp, một
nội dung chủ yếu của thơ ca bấy giờ là yêu nước. Nhưng vì bản chất yếu hèn của
con người tư sản, bản chất yếu của ý thức tư sản, tính chất nửa vời, không triệt để
có khi không đường lối của các phong trào dân tộc theo xu hướng tư sản đương thời
nên đó cũng chỉ là thứ yêu nước mơ hồ, xa xôi, bóng gió. Thứ yêu nước đó không đủ
thúc giục người đọc tiến lên hành động, nhưng vẫn có khả năng nhắc nhở những
tâm hồn tiểu tư sản không được làm ngơ với Tổ quốc...” [7, tr. 101].
“...Sự vận dụng sáng tạo các hình thức dân ca có kết quả, tiết tấu, âm điệu trong
thơ ca của họ, tính chất phóng túng trong hình thức, phong vị ngọt ngào, đậm đà
của ngôn ngữ dân tộc, tất cả còn là những bài học đáng quí” [7, tr. 102].
2.3.2. Trong “Hợp tuyển văn thơ Việt Nam” tập IV (NXB Văn hóa - 1963),
trước khi trích thơ Trần Tuấn Khải, các tác giả hợp tuyển có phần tiểu dẫn về nhà
thơ. Tiểu dẫn có viết: “Nhờ ảnh hưởng của phong trào yêu nước một vài sáng tác
đầu tiên của Trần Tuấn Khải có tính chiến đấu và có giọng ưu ái chân thành. Nhưng
dần dần thơ ca Trần Tuấn Khải mang nặng tư tưởng bi quan, thất bại và khoảng từ
1927 về sau, con người Trần Tuấn Khải trở nên không lành mạnh nên thơ ca cũng
biến chất. Về nghệ thuật, Trần Tuấn Khải dựa trên cơ sở dân ca, sáng tạo ra một số
âm điệu trong thơ ca.” [53, tr.757].

Khải” của nhà thơ Xuân Diệu, dài 47 trang. Đây là bài nghiên cứu đầu tiên có hệ
thống và tương đối sâu sắc về thơ ca Á Nam. Bằng sự cảm thụ tinh tế của một nhà
thơ kiêm nhà phê bình có tài, Xuân Diệu đã đề cập đến ba vấn đề cơ bản sau:
- Á Nam Trần Tuấn Khải là nhà thơ sáng tác chủ yếu vào những năm đầu thế kỷ
XX, dưới “những rung động đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn ở Việt Nam”
[10, tr. 25] cho nên “thế tất phải ôm mang chủ nghĩa lãng mạn” nhưng “vì là những
rung động đầu tiên của chủ nghĩa lãng mạn, cho nên chưa đi sâu” [10, tr. 26].
Để chứng minh, Xuân Diệu đã phân tích, chỉ ra những biểu hiện của chủ nghĩa lãng

7
mạn trong thơ ca Á Nam.
- Một số thành công của Á Nam trong việc vận dụng các thể thơ dân gian, dân
tộc. Xuân Diệu đặc biệt chú ý đến những bài đặt dưới nhan đề “Câu hát vặt” và
tuyển chọn một số bài ca dao mà tác giả cho là đặc sắc.
- Nhấn mạnh và phân tích nội dung yêu nước trong thơ Á Nam ở một số bài
tiêu biểu: "Nỗi chị khuyên em”, “Bà Trưng tế chồng”, “Trường thán thi”, “Hai chữ
nước nhà”, ...
Tiểu luận của Xuân Diệu cho người đọc thấy phần nào một gương mặt thi ca
thuộc “Thế hệ đầu tiên sáng tác bằng chữ quốc ngữ trước khi có Đảng”.
2.3.7. Báo Văn nghệ số ra ngày 23/8/1987 đăng bài “Nghĩ từ ca dao của một
nhà nho” của Vũ Ngọc Duật. Bài báo nêu bật tính chất “bình dân” và “dấu ấn
riêng” của Á Nam Trần Tuấn Khải trong mảng sáng tác này.
2.3.8. Cuối năm 1987, Vũ Văn Ký bảo vệ luận văn Cao học tại khoa Văn, Đại
học Sư phạm Hà Nội với đề tài “Nội dung trữ tình yêu nước và những nét đặc sắc
nghệ thuật thơ ca Á Nam Trần Tuấn Khải”. Trong luận văn này, tác giả khai thác
đóng góp cơ bản của thơ ca Trần Tuấn Khải ở cả hai phương diện nội dung và hình
thức biểu hiện, trên cơ sở đó khẳng định vị trí của nhà thơ trong nền thơ ca cận hiện
đại Việt Nam. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn và với phương pháp tiếp cận cụ
thể, tác giả chưa đi sâu cũng như chưa làm nổi bật thế giới nghệ thuật thơ Á Nam
như một chỉnh thể toàn vẹn. Tác giả cũng chỉ mới chú ý khẳng định đóng góp của

các công trình không chuyên về tác giả.
- Các nghiên cứu nhìn chung đều thống nhất ở một số điểm sau: Về phương
diện nội dung, thơ Á Nam thuộc khuynh hướng thời thế, chứa đựng tình cảm yêu
nước chân thành ẩn dưới giọng xa xôi bóng gió; về nghệ thuật, phần thành công nhất
của Á Nam là vận dụng các thể thơ truyền thống của dân tộc một cách điêu luyện và
sáng tạo.
Vấn đề còn tồn tại trong việc nghiên cứu thơ ca Á Nam Trần Tuấn Khải hiện nay là:
- Thiếu hẳn những công trình có tính chất khái quát, toàn diện, chuyên biệt về
cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ để độc giả có được cái nhìn đầy đủ về một tác gia
đã một thời có tiếng vang không nhỏ.

9
- Nghiên cứu thơ ca Trần Tuấn Khải còn rất nhiều vấn đề cần được đi sâu khai
thác những khía cạnh tiêu biểu, nổi bật tạo nên gương mặt thơ ca của ông; việc tiếp
cận cũng cần được tiến hành từ nhiều hướng phong phú hơn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn
3.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu văn bản thơ có kết hợp với các yếu tố thời đại,
thân thế và hoàn cảnh cá nhân của nhà thơ, luận văn nhằm khám phá thế giới nghệ
thuật thơ Á Nam Trần Tuấn Khải.
3.1.1. Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình là một chỉnh thể thống nhất bao hàm các
thành tố cấu trúc và quy luật cấu trúc riêng, thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội
cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình. Một mặt, thế giới nghệ
thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác chủ quan của
nhà thơ, mặt khác nó phản ảnh trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, một
thời đại nhất định. Bởi vậy, luận văn nhằm khám phá thế giới nghệ thuật thơ Trần
Tuấn Khải vừa như sản phẩm sáng tạo độc đáo của một cá nhân, vừa đại diện cho
kiểu sáng tác, kiểu tư duy nghệ thuật của bộ phận thơ đóng vai trò làm gạch nối giữa
thơ cũ trung đại và thơ mới lãng mạn.
3.1.2. Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, luận văn đặt ra

toàn diện, bao quát hơn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Xử lý đề tài này, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
4.2.1. Phương pháp cấu trúc – hệ thống
Quan niệm thế giới nghệ thuật thơ Trần Tuấn Khải là một chỉnh thể, luận văn
chú ý tìm ra những thành tựu tạo nên chỉnh thể này và quy luật cấu trúc nó. Mọi đối
tượng và vấn đề khảo sát của luận văn được đặt trong tương quan hệ thống và trong
quy luật cấu trúc này.
4.2.2. Phương pháp phân loại, thống kê
Với từng thành tố của chỉnh thể thế giới nghệ thuật cũng như các yếu tố thuộc
phương thức, phương tiện biểu hiện thế giới nghệ thuật ấy, khi cần thiết luận văn sẽ
thực hiện phân loại và thống kê qua các con số cụ thể.

11
4.2.3. Phương pháp so sánh đối chiếu
Để khẳng định những nét tiêu biểu cũng như những nét riêng thuộc phong cách
của Á Nam (trong phạm vi giới hạn của đề tài), luận văn đặt tác giả và tác phẩm
trong mối tương quan so sánh với các tác giả, tác phẩm khác ở cả 2 chiều đồng đại và
lịch đại.
5. Cấu trúc của luận văn
Phù hợp với lôgic nội tại của vấn đề đặt ra nghiên cứu, ngoài mở đầu và kết
luận, luận văn được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Khái niệm thế giới nghệ thuật và thế giới nghệ thuật thơ trữ
tình.
Chương 2: Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải.
Chương 3:Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong thơ Á
Nam Trần Tuấn Khải.
Chương 4: Phương thức biểu hiện trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải.
Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo.


13
Ở nước ta từ vài chục năm trở lại đây, khái niệm thế giới nghệ thuật trở nên
quen thuộc. Năm 1981, trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học” được biên soạn để
giảng dạy cho học viên cao học tại Đại học Sư phạm Hà Nội và một số trường đại
học khác, Trần Đình Sử khẳng định: “Tác phẩm toàn vẹn xuất hiện như một thế giới
nghệ thuật” [61, tr. 29]. Cũng trong công trình này, tác giả đã nêu rõ cơ sở khoa học
của việc dùng từ “thế giới” chỉ tác phẩm văn học và sơ bộ nêu cách hiểu khái niệm
“thế giới nghệ thuật”, đồng thời phân tích các yếu tố của thế giới bên trong tác
phẩm văn học. Thời gian gần đây, hàng loạt công trình nghiên cứu văn học sử dụng
khái niệm này. Có thể kể đến “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”
của Nguyễn Đăng Mạnh (1994); “Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kỳ trước
cách mạng tháng 8 năm 1945” của Lê Quang Hưng (1996); “Những thế giới nghệ
thuật thơ” của Trần Đình Sử (1997); “Thế giới nghệ thuật thơ của Hàn Mặc Tử”
của Chu Văn Sơn (2000);... Đó đều là những công trình nghiên cứu có giá trị, khẳng
định sự đúng đắn của một hướng tiếp cận văn học đang được chú ý hiện nay.
1.1.2. Thế giới nghệ thuật là gì?
“Từ điển thuật ngữ văn học” (Nhiều tác giả – NXB Đại học Quốc gia – Hà Nội
năm 1997) đã trình bày khái niệm này qua một số điểm cơ bản sau:
1.Là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật; 2. Là một thế giới riêng
được tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật; 3. Có không gian và thời
gian riêng, có quan hệ xã hội riêng; 4. Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ
thuật. [55, tr. 201-202].
Dưới đây chúng tôi xin trình bày cụ thể những điểm cơ bản của khái niệm vừa
nêu như sau:
1.1.2.1. Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác
nghệ thuật
“Chỉnh thể” vốn là một khái niệm triết học và “Tính chỉnh thể” được hiểu là
“Khái niệm đặc trưng cho tính thống nhất nội tại, toàn vẹn, đầy đủ, biệt lập của
khách thể. Sự tổng hợp những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của
khách thể tạo ra tính thống nhất bên trong nó, tính độc lập, biệt lập của nó đối với


15
Như vậy, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học vừa là hệ quả của sự
thống nhất nội tại trong tác phẩm, vừa là quy luật chỉnh thể của tác phẩm.
Nhìn thế giới nghệ thuật qua tính chỉnh thể có nghĩa là chúng ta thừa nhận cấu
trúc nội tại của nó. Đã là chỉnh thể thì phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc
thống nhất. Mặc dù hiện nay giới nghiên cứu văn học chưa xác định cụ thể cấu trúc
chỉnh thể tác phẩm văn học như một chuẩn mực, song sự tồn tại của cấu trúc, phần
ổn định nhất của chỉnh thể nghệ thuật là không thể phủ nhận. Chỉnh thể nghệ thuật là
một cấu trúc của nhiều cấu trúc với các cấp độ từ thấp đến cao. Tính chỉnh thể khiến
cho các yếu tố trong thế giới nghệ thuật chi phối lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau; chỉ
cần một trong các yếu tố thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của một loạt các yếu tố
khác. Chẳng hạn thời trung đại ở Việt Nam người ta quan niệm con người là một cá
thể vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ, thiên nhiên. Bởi vậy con người thấy chân dung
mình trong thế giới thiên nhiên: mắt phượng, mày ngài, vóc mai, dáng liễu, tóc
mây,... Hình ảnh thiên nhiên xuất hiện thường trực trong văn học trung đại như là
những chuẩn mực để diễn tả cái đẹp. Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, Kiều
xuất hiện với “làn thu thủy, nét xuân sơn”; Thúy Vân thì “khuôn trăng đầy đặn nét
ngài nở nang”; Từ Hải “râu hùm, hàm én, mày ngài”; Kiều làm thơ thì “tay tiên gió
táp mưa sa”; Kim Trọng khóc người yêu: “vật mình vẫy gió tuôn mưa”.... Có thể
lấy một ví dụ khác về tính chỉnh thể trong thơ Đường luật nói chung. Thơ Đường
luật do qui định về số câu, số chữ, niêm luật chặt chẽ tạo nên bố cục gọn gàng, ổn
định, chi phối đến việc sử dụng chi tiết, hình ảnh, xây dựng hình tượng theo khuôn
mẫu có sẵn đậm tính tượng trưng, ...
Như vậy, chỉ khi nào mọi yếu tố của sáng tác nghệ thuật tồn tại trong sự ràng
buộc, quy định lẫn nhau theo một qui luật nhất định thì mới tạo nên một thế giới
nghệ thuật thực sự.
1.1.2.2. Thế giới nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra từ những
nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật tồn tại trong sự phân biệt với thế giới thực tại, thế giới

thực, nguyên tắc ước lệ, nguyên tắc ước mơ và nguyên tắc “nội cảm hóa”, “tôi
hóa”. Nguyên tắc tả thực đòi hỏi sự chân thực của đối tượng được phản ánh, sao cho

17
khi khám phá tác phẩm, người ta cảm thấy đó chính là thế giới hiện thực ngoài đời.
Tuy nhiên tả thực không có nghĩa là sao chép y nguyên những sự kiện, tình tiết của
cuộc đời thực. Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên bao giờ
cũng in dấu ấn sáng tạo chủ quan của nhà văn. Bởi vậy không thể đồng nhất khái
niệm “chân thực” và “chính xác”. Thế giới của “Thần thoại Hy Lạp là sản phẩm kỳ
diệu của nhân dân Hy Lạp nhưng vẫn hiện hữu với tất cả tính chân thực của Lôgic
cuộc sống trong đó”. Cũng cần thấy rằng nguyên tắc tả thực xuất hiện song hành với
lịch sử văn học, song phải đến khi chủ nghĩa hiện thực ra đời, độ chân thực của chi
tiết mới được đặt ra thành yêu cầu.
Nguyên tắc ước lệ là một trong những đặc điểm thi pháp của văn học cổ điển.
Cảm quan vũ trụ và quan niệm văn học là nơi giãi bày những tư tưởng, tình cảm
thanh tao, cao quý tạo nên một hệ thống ngôn từ, hình ảnh,... gắn với thiên nhiên, vũ
trụ được sử dụng lặp đi lặp lại đến trở thành quen thuộc. Đây không chỉ là một thủ
pháp, một phương thức biểu đạt cuộc sống mà còn là thế giới quan của cả một thời
đại, có cội nguồn từ đặc điểm về tâm lý và văn hóa nhất định. Trần Tuấn Khải là nhà
thơ của buổi giao thời nên không thể không chịu ảnh hưởng của nguyên tắc này
trong sáng tác.
Được coi là tiêu chí hàng đầu của văn học lãng mạn, nguyên tắc ước mơ lấy cái
chủ quan làm điểm tựa, đem “tâm hồn và trái tim làm cơ sở để nói lên những
nguyện vọng không rõ rệt, muốn tiến tới một cái gì tốt đẹp hơn, cao cả hơn, tìm cách
tự thỏa mãn bằng những lí tưởng chỉ có trong tưởng tượng” [45, tr. 74]. Nguyên tắc
này giúp chúng ta thấy rõ nét nhất lí tưởng, nguyện vọng, tâm tư, tình cảm, ước mơ
của người nghệ sĩ về cuộc đời và con người. Tuy nhiên, đây không phải là nguyên
tắc độc quyền của văn học lãng mạn. Chúng ta có thể thấy nguyên tắc này được áp
dụng trong sáng tác thuộc các trào lưu văn học khác nhau.
Nói đến thi pháp của các tác phẩm trữ tình, không thể không đề cập đến

hữu mà người nghệ sĩ dù có cố thoát ra bằng cái cá thể, cá nhân riêng biệt của mình
cũng không thể được. Họ tuân thủ theo mô hình này một cách tự phát, vô tình như
một điều tất yếu. Mô hình nghệ thuật này sẽ chi phối việc nhà văn sử dụng nguyên

19
tắc nào trong quá trình phản ánh thực tại khách quan, chi phối việc xây dựng kết
cấu, nhân vật, việc sử dụng hình ảnh, ngôn từ... Chẳng hạn kết thúc “có hậu” trong
truyện cổ tích là một kiểu mô hình nghệ thuật. Để cho cái thiện chiến thắng cái ác,
các nghệ sĩ dân gian đã tạo cho nhân vật thuộc tuyến thiện những khả năng phi
thường nhờ nguyên tắc thần thánh hóa. Tất nhiên, mỗi mô hình nghệ thuật ứng với một
quan niệm về thế giới.
1.1.3. Hình tượng nghệ thuật, yếu tố năng động nhất tạo nên thế giới nghệ
thuật
1.1.3.1. Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh,
thể hiện và cải tạo hiện thực theo qui luật của nghệ thuật. Đó là bức tranh cuộc sống
vừa cụ thể, cảm tính, vừa khái quát và có ý nghĩa thẩm mĩ. Tính cụ thể, cảm tính,
trực quan của hiện tượng làm cho người đọc dường như tiếp xúc với chính cuộc đời
thực trong màu sắc, âm thanh, hình dáng thần thái vốn có của nó. Nói như vậy
không có nghĩa hình tượng là sự sao chép cuộc sống một cách giản đơn, máy móc.
Hình thức cụ thể của hình tượng là sản phẩm hư cấu một cách sáng tạo những hiện
tượng thực tế, qua đó nhà văn trình bày bản chất của sự vật, quy luật của cuộc sống.
Vì thế cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sự thống nhất cao độ giữa
các mặt chủ quan và khách quan, lý trí và tình cảm, cá biệt và khái quát, hiện thực
và lí tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vô hình. Chỉ ở cấp độ hình tượng
nghệ thuật, tính “văn” trong tác phẩm nghệ thuật mới bộc lộ rõ nhất vì nó không chỉ
khu biệt một phương thức phản ánh đặc thù của nghệ thuật mà còn là nơi hội tụ tài
năng, tâm hồn và phong cách của người nghệ sĩ.
1.1.3.2. Trong cấp độ hình tượng nghệ thuật có nhiều bộ phận nhưng quan
trọng nhất là nhân vật hay hệ thống nhân vật. Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu
tả con người trong văn học. Đó có thể là một cá nhân hay một tập thể, một giai cấp,

gặp nhau ở một điểm: Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Cách gọi thơ trữ tình
đồng thời nhấn mạnh cả hình thức thể loại và đặc tính độc đáo chỉ có ở thơ. Nói như
vậy không có nghĩa ở các thể loại khác không có yếu tố cảm xúc. Vấn đề là ở thơ,
thế giới chủ quan, cảm xúc, ý nghĩa được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung
chủ yếu.

21
1.2.2. Thế giới nghệ thuật thơ trữ tình chịu sự chi phối từ những đặc điểm
chung của loại hình thơ trữ tình: Kết cấu, lời thơ, luật thơ,... Nếu như ở loại hình tự
sự, lời văn nói chung là trần thuật, ở kịch là lời đối thoại thì trong thơ trữ tình, lời
văn là lời thổ lộ, giải bày đầy cảm xúc. Chất liệu tạo nên lời văn đó là thứ ngôn ngữ
đặc biệt hàm súc, bí ẩn và thâm thúy. Lời thơ dồn nén nhiều tầng nghĩa. Các thủ
pháp nghệ thuật được sử dụng triệt để trong thơ. Khả năng tổ chức hình thức lời thơ
không chỉ có một kiểu mà hết sức đa dạng, phong phú và thay đổi theo từng giai
đoạn phát triển của văn học. Trần Đình Sử cho rằng từ giai đoạn văn học trung đại
đến văn học hiện đại ở Việt Nam, câu thơ đã thay đổi cả nội dung và hình thức: từ
câu thơ điệu ngâm sang câu thơ điệu nói [59, tr. 11]. Đó không phải là sự thay đổi ở
câu thơ mà còn là sự thay đổi của cái nhìn, của quan niệm và thế giới quan của cả
một thời đại. Thơ Việt Nam từ trước đến nay đã tồn tại qua nhiều hình thức câu thơ
và thể thơ. Sự tồn tại này không chỉ làm phong phú nền thơ ca dân tộc mà còn là yếu
tố quan trọng quyết định việc xây dựng tứ cho mỗi bài thơ, qui định việc chuyển tải
một nội dung tư tưởng, một loại tình cảm nào đó. Chẳng hạn Mã Giang Lân cho
rằng: Thơ năm chữ thiên về giãi bày tâm trạng, thơ bảy chữ bộc lộ tình cảm trang
trọng đằm thắm, thơ lục bát thể hiện tình cảm dạt dào tha thiết...[42]. Như vậy rõ
ràng giữa hình thức của thơ và nội dung mà nó biểu đạt có sự qui định ngầm, có sự
phản hồi lẫn nhau. Tuy nhiên việc sử dụng thể thơ nào còn phụ thuộc vào “gu” của
mỗi nhà thơ, vào sự linh hoạt và trực cảm của nhà thơ đó. Nhà thơ Huy Cận tâm sự
trên báo Văn nghệ số 48 ngày 1/12/1979: “ Không phải tứ thơ nào cũng có thể
khuôn vào bất kỳ hình thức thể loại nào. Trong đời làm thơ của tôi, tôi đã phải mấy
lần thay áo cho thơ, phải đổi thể loại thì tứ thơ bật ra được. Ví dụ “Đẹp xưa” trong


23 Chương 2:

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI.

2.1. Hình tượng cái tôi, một kiểu nhân vật trong thế giới nghệ thuật của thơ trữ tình
2.1.1 Xuất phát từ đặc trưng thể loại, vai trò cảm xúc của chủ thể sáng tạo đối
với thơ trữ tình vô cùng quan trọng, Hêghen khẳng định: “Nguồn gốc và điểm tựa
của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang nội dung” [22]. Trong
sáng tạo của các nhà thơ lớn, chủ thể trữ tình này bước vào thế giới nghệ thuật và trở
thành một hình tượng nghệ thuật: Hình tượng cái tôi. Đây chính là nhân vật trung
tâm của tác phẩm thơ.
Là một hình tượng nghệ thuật nên hình tượng cái tôi tuy thống nhất nhưng
không đồng nhất với chủ thể trữ tình. Nhà thơ một mặt tự biểu hiện mình trong tác
phẩm, mặt khác vẫn tuân thủ quy luật xây dựng hình tượng nói chung bằng cách lựa
chọn, phản ánh những cảm xúc, suy tư có tính khái quát và ý nghĩa thẩm mỹ. Chính
vì vậy, Johanner R.Becher, nhà thơ và nhà lí luận văn học Đức đã nói: “Hình tượng
nhà thơ trong tác phẩm không phải là một tấm ảnh bình thường của nhà thơ đó, mà
là một hình tượng vượt ra khỏi nhà thơ” [17, tr. 173].

ba mươi của thế kỷ XX, một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc. Xuất thân
trong một gia đình nhà Nho yêu nước, dòng dõi Hưng Đạo Vương ở Nam Định, cha
là cụ Trần Thụy Giáp có tham gia phong trào yêu nước nên Trần Tuấn Khải sớm
chịu ảnh hưởng của các phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngay từ tuổi
thanh niên, Á Nam đã từng nuôi chí lớn muốn vượt biên ra nước ngoài tìm kiếm bạn
đồng tâm để cùng nhau bàn kế cứu giang sơn Tổ quốc, nhưng không thành. Không
trở thành nhà cách mạng, Trần Tuấn Khải dốc lòng vào hoạt động văn nghệ, gửi
gắm tâm sự, ước mơ, hoài bão của mình vào các áng văn thơ. Thậm chí vào đầu mùa
thu năm 1932, cuốn sách “Chơi xuân năm Nhâm Thân” bị khép vào loại “văn
chương phiến loạn”, vừa in xong đã bị tịch thu và cả tác giả lẫn người in sách đều bị

25
chính quyền thực dân bắt giam, hơn một năm sau mới được thả. Từ năm 1954, sống
tại Sài Gòn vùng địch tạm chiếm, ông vẫn vừa trực tiếp tục sáng tác, vừa tham gia
các phong trào chống văn hóa nô dịch và các phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân
sinh và dân chủ. Tư tưởng tiến bộ của Á Nam in dấu ấn sâu đậm trong thế giới nghệ
thuật thơ ông, mà trước hết là ở hình tượng cái tôi: Một cái tôi luôn trăn trở với thế
sự.
2.2.1. Hình tượng cái tôi tràn đầy cảm hứng yêu nước và trách nhiệm
trước vận mệnh của đất nước, dân tộc
2.2.1.1. Cái tôi yêu nước trong quan niệm về nghệ thuật
Quan niệm về nghệ thuật chính là ý thức về nghề của nhà văn. Mỗi nhà văn
trước khi cầm bút đều tự xác định: Viết để làm gì? Viết theo phương châm nào? Có
người coi sáng tác văn chương chỉ để ca ngợi vẻ đẹp của văn chương nghệ thuật; có
người dùng văn chương đơn thuần như phương tiện giải tỏa tâm trạng cá nhân; có
người lại cho mục đích phụng sự dân sinh là mục đích hàng đầu;... Người này cho
rằng văn chương phải bóng bẩy, hoa mĩ; người khác coi trọng sự giản dị, mộc mạc,
hướng về đại chúng;...Quan niệm về nghệ thuật chi phối sâu sắc toàn bộ thế giới
sáng tạo của nhà văn, bởi vậy để khám phá thấu đáo thế giới đó, việc tìm hiểu quan
niệm của nhà văn rất có ý nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status