ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÙY NGHIÊN CỨU SỰ TỰ DO HÓA
NGÔN NGỮ THƠ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI THẾ KỶ XX
(TRÊN TƯ LIỆU CÁC TẬP THƠ CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ)
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. ĐINH VĂN ĐỨC
HÀ NỘI – 2008
HÀ NỘI- 2008
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Các ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các đồ thị
Mở đầu 1
1. Mục đích nghiên cứu 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Nguồn tư liệu 5
6. Một vài tiên liệu về đóng góp của luận án 7
7. Bố cục của luận án 8
Nội dung 9
Chương 1. Cơ sở lý thuyết: Những vấn đề liên quan đến nội dung luận án 9
1.1. Những thông tin về lịch sử vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ 9
1.2. Nhận thức về thơ 13
1.3. Nhận thức về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ 18
1.4. Ý thơ và tứ thơ, hình tượng thơ, cảm giác thơ, sự hấp dẫn và tính mờ nhòe
của thơ 25
1.5. Về cấu trúc của thơ (Bài thơ, khổ thơ, câu thơ) 26
1.5.1. Bài thơ 27
3.3.2. Các bảng số liệu thống kê luật niêm của các câu thơ trong khổ thơ 7 chữ ở từng tập
thơ 136
3.3.3. Số trường hợp các câu thơ có luật niêm theo thanh bằng hoặc trắc ở các tập thơ
được thống kê theo bảng sau 137
3.3.4. Nhận xét 137
3.3.5. Các ví dụ 138
3.3.6. Nhận xét 139
3.3.7. Vấn đề niêm từ 1945 đến nay 139
3.4. Vấn đề gieo vần trong khổ thơ 143
3.4.1. Xét các bài 7 chữ trong hai tập “Gửi hương cho gió” và “Từ ấy” 144
3.4.2. Xét hiện tượng gieo vần trong 4 tập “Gái quê”, “Đau thương”, “Xuân Như ý”, “Lệ
thanh thi tập” của Hàn Mặc Tử 146
3.4.3. Hiện tượng gieo vần trong 2 tập thơ “Những câu thơ viết đợi mặt trời” và “Xúc xắc
mùa thu” của Hoàng Nhuận Cầm 148
3.4.4. Hiện tượng gieo vần trong 3 tập thơ của Phạm Tiến Duật 150
3.4.5. Nhận xét về hiện tượng gieo vần 150
3.5. Bàn luận 154
3.5.1. Về loại khổ thơ 154
3.5.2. Về phép đối thanh điệu bằng- trắc trong khổ 154
3.5.3. Về luật niêm 156
3.5.4. Về hiện tượng gieo vần 157
Chương 4. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ câu thơ
159
4.1. Nhịp điệu 159
4.1.1. Cơ sở ngắt nhịp câu thơ 161
4.1.2. Một số bàn luận 168
4.2. Thanh điệu 183
4.2.1. Kết quả khảo sát định lượng 183
4.2.2. Bàn luận 185
4.3. Vần trong câu thơ 189
- tr: trang.
- VD: ví dụ.
- GHCG: Gửi hương cho gió.
- TÂ: Từ ấy.
- B: thanh bằng ở các tiếng có vị trí 1,3,5.
- b: thanh bằng ở các tiếng có vị trí 2,4,6,7.
- T: thanh trắc ở các tiếng có vị trí 1,3,5.
- t: thanh trắc ở các tiếng có vị trí 2,4,6,7.
- TH1: trường hợp 1.
- TH2: trường hợp 2.
- TH3: trường hợp 3.
- TH4: trường hợp 4.
- Đối với trường hợp có hiện tượng gieo vần, ta kí hiệu như sau:
+ L1 (loại 1): kí hiệu 1,2 câu 1 và câu 2 có cùng vần.
+ L2 (loại 2): kí hiệu 1,3 câu 1 và câu 3 có cùng vần.
+ L3 (loại 3): kí hiệu 1,4 câu 1 và câu 4 có cùng vần.
+ L4 (loại 4): kí hiệu 2,3 câu 2 và câu 3 có cùng vần.
+ L5 (loại 5): kí hiệu 2,4 câu 2 và câu 4 có cùng vần.
+ L6 (loại 6): kí hiệu 3,4 câu 3 và câu 4 có cùng vần.
+ L7 (loại 7): kí hiệu 1,2,4 các câu 1,2,4 có cùng vần.
+ L8 (loại 8): kí hiệu 1,3,4 các câu 1,3,4 có cùng vần.
+ L9 (loại 9): kí hiệu 1,2,3,4 các câu 1,2,3,4 có cùng vần.
+ L10 (loại 10): 0(v) không vần.
- Ở tất cả các trường hợp không có hiện tượng gieo vần, vần được gieo ở tiếng
cuối cùng của các câu trong khổ.
- Ở một số khổ thơ, có thể có 2 loại vần. Ví dụ, một khổ thơ vừa có loại 2 (L2)
vừa có loại 5 (L5).
- Tên viết tắt của các tác giả và các bài thơ được trình bày ở phụ lục.
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ , ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ.
17. Bảng thống kê số lượng các khổ thơ có các mô hình khác nhau thuộc những
trường hợp khác nhau của phép đối thanh điệu ở “Gái quê” và “Đau thương” 106
18. Bảng thống kê mô hình các khổ thơ không có phép đối thanh điệu thuộc 13
trường hợp (217 khổ ở “Gửi hương cho gió” và “Từ ấy”) 107
19. Bảng thống kê mô hình các khổ thơ không có phép đối thanh điệu ở “Lệ
Thanh thi tập” và “Xuân như ý” 107
Tổng cộng: 19 bảng (không kể các bảng ở phụ lục).
* Đồ thị.
1. Có 02 đồ thị minh họa cho VD30 110
2. Có 02 đồ thị minh họa cho VD31 110
3. Có 02 đồ thị minh họa cho VD32 112
4. Có 02 đồ thị minh họa cho VD33 113
5. Có 02 đồ thị minh họa cho VD34 115
6. Có 04 đồ thị minh họa cho VD35 115
7. Có 04 đồ thị minh họa cho VD36 117
8. Có 04 đồ thị minh họa cho VD37 118
9. Có 04 đồ thị minh họa cho VD38 120
10. Có 04 đồ thị minh họa cho VD39 121
11. Có 04 đồ thị minh họa cho VD40 123
12. Có 04 đồ thị minh họa cho VD41 124
13. Có 04 đồ thị minh họa cho VD42 125
Tổng cộng: 42 đồ thị.
*Biểu đồ: - 35 biểu đồ (xem phụ lục 1) 1->19 của phần phụ lục
- Chú thích cho các biểu đồ: 20->21 của phần phụ lục 1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích nghiên cứu
sự tự do hóa, hiện đại hóa về hình thức thơ tức là nghiên cứu ngôn ngữ thơ và
sự tự do hóa, hiện đại hóa về nội dung gắn liền với nhau sẽ giúp chúng ta
thấy được mối quan hệ qua lại giữa hình thức và nội dung một cách biện
chứng, khách quan hơn. Nói khác đi là: việc nghiên cứu sự cách tân ngôn
ngữ thơ sẽ góp phần chỉ rõ sự cách tân tư tưởng thơ, nội dung thơ một cách
có cơ sở khoa học.
2
Ở Việt Nam, ngôn ngữ thơ cũng được nhiều người quan tâm. Ngôn ngữ
thơ được công chúng, những người nghiên cứu, những nhà phê bình tiếp
nhận và bình xét theo hướng đa diện với những lăng kính ở các mức độ khác
nhau. Có người nhắc đến “ngôn ngữ” khi bình luận về thơ nói chung, thơ
Việt Nam thế kỉ XX nói riêng, nhắc đến “con âm”, “con chữ” (Dương
Tường). Nhưng có lẽ đó mới chỉ là dấu hiệu của sự lưu ý đến khía cạnh ngôn
ngữ khi bình luận về thơ chứ chưa thực sự có những nghiên cứu mang tính
chất vận dụng, nhấn mạnh hơn hoặc khai thác có chiều sâu hơn đến các cấp
độ của ngôn ngữ trong các công trình nghiên cứu của lí luận phê bình văn
học. Ở một vài công trình khác, ngôn ngữ thơ được soi chiếu từ nhiều góc độ:
Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (Nguyễn Hữu
Đạt), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (Mai Ngọc Chừ), Ngôn
ngữ quy ước hay tân kỳ (Trần Văn Nam), Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong
thơ đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt
đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Lịch sử hiện đại hóa thơ Việt trong mắt một
nhà thơ, trong đó có một phần liên quan đến ngôn ngữ thơ (bản gốc tiếng
Anh của Hoàng Hưng, do Võ Sư Phạm dịch)…Tuy thế, các bài viết về sự tự
do hóa ngôn ngữ thơ và hiện đại hóa thơ Việt thì lẻ tẻ, rải rác còn sách về
ngôn ngữ thơ thì phần nhiều nghiên cứu theo hướng thi pháp. Tức là, chưa có
công trình nào nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ như một chuyên
luận.
Có thể nói, ngôn ngữ thơ hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu
mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng
đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ trong mối tương quan với thi pháp
học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ
thơ… Từ đó có một cách tiếp cận thơ theo hướng ngôn ngữ học rõ ràng hơn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
3.1. Trên cơ sở các bảng biểu, số liệu thống kê định lượng và những
nghiên cứu định tính, luận án tìm ra những sự đột phá về cấu trúc, thể loại ở
các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ trong các giai đoạn khác nhau để thấy
được cái Mới trên cả hai phương diện hình thức và nội dung ngữ nghĩa được
biểu đạt. Cụ thể là:
3.1.1.Ở cấp độ bài thơ (Chương 2), luận án nghiên cứu về:
Các thể loại thơ. Trong đó chú trọng nhất là thơ 7 chữ, có so sánh với thơ
8 chữ. Việc nghiên cứu được mở trên diện nhiều thể thơ để thấy được sự đa
dạng, phong phú của sự tự do hóa trải rộng trên nhiều thể loại (có cái nhìn
tổng quát hơn về sự tự do hóa).
Cấu trúc bài thơ: bài chia khổ hay không chia khổ, số lượng khổ trong
bài, các khổ trong bài được tổ chức theo các mô hình cấu trúc như thế nào.
Ngôn ngữ diễn đạt của bài thơ: có tính khẩu ngữ, đối thoại, diễn ngôn, tự
sự, trữ tình… hay không.
3.1.2. Ở cấp độ khổ thơ (Chương 3), luận án nghiên cứu về các loại khổ
thơ (khổ 1 câu, khổ 2 câu,… khổ nhiều câu), cấu trúc khổ thơ, luật đối, niêm,
gieo vần trong khổ: tập trung vào kiểu khổ thơ thể 7 chữ (có so sánh với khổ
thơ thể 8 chữ và khổ thơ thể tự do).
3.1.3. Ở cấp độ câu thơ (Chương 4), luận án nghiên cứu về cách ngắt
nhịp, sự phân bố, sự tập trung thanh điệu trong câu thơ, một số vần trong
4
câu thơ: tập trung chủ yếu vào câu thơ thể 7 chữ (có so sánh với câu thơ thể
thuộc về thanh trắc hay thanh bằng, có âm vực cao hay thấp.
4.1.4. Thống kê hiện tượng niêm của các câu thơ trong khổ (chủ yếu là
thơ 7 chữ) ở từng bài thơ. Từ đó, luận án thống kê số trường hợp có niêm
theo thanh bằng hoặc trắc ở các tập thơ (có tỉ lệ phần trăm tương ứng).
4.1.5. Thống kê các hiện tượng gieo vần ở từng khổ trong các tập thơ (số
lượng, tỉ lệ phần trăm, mô hình gieo vần) để đưa ra số liệu về các trường hợp
có hoặc không có hiện tượng gieo vần.
5
4.1.6. Thống kê về các cách ngắt nhịp câu thơ: xét cách ngắt nhịp ở từng
câu trong từng khổ; đưa ra mô hình các cách ngắt nhịp khác nhau, tính số
lượng và tỉ lệ phần trăm của các cách ngắt nhịp.
Kết quả thống kê đó được sử dụng để phục vụ cho việc miêu tả, so sánh
và bàn luận về bài thơ, khổ thơ, câu thơ như trong phần nhiệm vụ nêu trên
nhằm đạt được mục đích chung mà luận án đề ra.
4.2. Phương pháp miêu tả
Luận án miêu tả kết hợp với phân tích mô hình các bài thơ, miêu tả về khổ
thơ với phép đối thanh điệu bằng-trắc, âm vực cao- thấp, cách gieo vần, luật
niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ.
4.3. Phương pháp so sánh
Luận án so sánh các tập S1, S2, S3, S4, S5, S6 (xem trang chú thích kí
hiệu viết tắt) với tổng số 514 bài thơ để đánh giá kết quả số liệu về thể thơ,
về các mô hình bài thơ (tính theo số khổ trong bài và số câu trong khổ). Trên
cơ sở đó, luận án bàn luận về thơ theo giai đoạn (1900-1945; 1945-2000)
hoặc theo tác giả, so sánh các giai đoạn, các tác giả khác nhau để làm nổi
bật những nét mới, những yếu tố tự do hóa và hiện đại hóa trong thơ. Từ đó
tìm hiểu và khẳng định vài nét về phong cách của một số nhà thơ.
4.4. Phương pháp phân tích thi pháp ngôn ngữ học
Luận án tìm hiểu, phân tích một số khả năng kết hợp, đảo ngữ, “vặn
câu”… Đồng thời, luận án cũng thực hiện các thao tác thay thế, chêm xen, cải
núi”, NXB Tác phẩm mới, 1981, 75 trang); 164 bài thơ ở 2 tập thơ của
Hoàng Nhuận Cầm (“Những câu thơ viết đợi mặt trời”, NXB Tác phẩm mới,
Hội nhà văn Việt Nam, 1983, 60 trang; “Xúc xắc mùa thu”, NXB Hội nhà
văn Hà Nội, 1992, 59 trang) và ở 1 tập thơ của Lê Đạt (“Bóng chữ”, NXB
Hội nhàvăn, Hà Nội, 1994, 138 trang); Tuyển thơ Nhà thơ- Nhà giáo, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, 400 trang; Tuyển tập thơ tình Việt Nam
thế kỷ XX, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2003, 511 trang.
Ở cấp độ bài thơ, luận án có 2 phần: khảo sát theo diện bằng phương pháp
định lượng trên tư liệu thơ của nhiều nhà thơ; khảo sát theo điểm bằng
phương pháp định lượng và định tính trên tư liệu 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử,
50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan Viên và thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ
1945-1975. Trong số các tư liệu nói trên, chúng tôi chọn Tuyển thơ Nhà thơ-
Nhà giáo, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, 400 trang làm tư liệu
cho luận án vì trong tuyển thơ này có nhiều tác giả có tên tuổi trên thi đàn
như: Vũ Đình Liên, Trần Đăng Khoa, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương,
Nguyễn Khoa Điềm, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Trọng Hoàn, Cầm Giang, Tế
Hanh, Chính Hữu, Hữu Loan, Bằng Việt, Nguyễn Bùi Vợi….
Ở cấp độ khổ thơ và câu thơ, luận án chọn tư liệu thơ của các tác giả Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, Hoàng Nhuận Cầm, Phạm Tiến
Duật đồng thời luận án phân tích kĩ hơn về 01 bài lẻ của Hữu Loan, 01 câu lẻ
của Nguyễn Đình Thi vì tất cả các tư liệu này phù hợp, đáp ứng với mục đích
nghiên cứu mà luận án đề ra.
Đồng thời, đề tài cũng sử dụng tư liệu đã được xử lý của một số sinh viên
trong khóa luận tốt nghiệp, công trình nghiên cứu khoa học sinh viên (xem
phụ lục 2).
5.2. Đề tài cũng tham khảo thêm các ví dụ, các quan điểm của các giáo
trình, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, về thơ Việt Nam các giai đoạn,
đặc biệt là thơ Việt Nam thế kỷ XX.
6.2.3. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng trong việc giảng
dạy và nghiên cứu biên soạn giáo trình về ngôn ngữ thơ ở các bậc đại học,
sau đại học.
7. Bố cục của luận án
Ngoài mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 phần chính:
mở đầu, nội dung, kết luận.
Trong đó, phần Nội dung gồm có 4 chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết: những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung luận án
8
Chương 1 tìm hiểu khái niệm về thơ, ý thơ, tứ thơ. Chương này cũng trình
bày về cấu trúc của thơ (dạng tồn tại và nguyên tắc tổ chức cơ bản của thơ:
thế nào là bài thơ, khổ thơ, câu thơ. Sau đó, luận án khai thác những cách tiếp
cận khác nhau trong khi nghiên cứu thơ và trình bày những lối nghiên cứu
thơ từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam.
Chương 2. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ bài thơ
- Nêu kết quả khảo sát (theo diện) bằng phương pháp định lượng các loại
bài thơ ở các tập S1, S2, S3, S4, S5, S6. Trên cơ sở các bảng thống kê, luận
án so sánh, đánh giá kết quả số liệu về thể thơ, về các mô hình bài thơ ở một
vài tác giả và theo giai đoạn.
- Trình bày kết quả khảo sát (theo điểm) bằng phương pháp định lượng và
định tính: về 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử, về 50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan
Viên, về một số bài thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ 1945-1975. Rồi đến
tiểu kết của chương 2.
Chương 3. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ khổ thơ
Chương 3 bàn về sự tự do hóa thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ khổ thơ,
tập trung chủ yếu ở khổ thơ trong thơ 7 chữ (có so sánh với khổ trong thơ 8
chữ và khổ trong thơ tự do). Cụ thể hơn, chương này nghiên cứu về một số
vấn đề như: các loại khổ thơ (khổ 1 câu, khổ 2 câu… khổ nhiều câu), luật
Các bài nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỉ XX rất phong
phú, sôi nổi.
Thời kỳ thơ mới (1932-1945), các nhà thơ Mới đã bứt mình ra khỏi những
ràng buộc của thơ Đường và thơ Cổ phong. Cái Tôi trong thơ Mới được khẳng định
mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ phóng khoáng, chủ đề thơ rộng mở hơn trước. Từ Tản Đà,
Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Lan Sơn, Thanh Tịnh, Thúc Tề, Huy Thông cho đến
Nguyễn Vỹ, Đoàn Phú Tứ, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Yến Lan, Phạm Hầu,
Xuân Tâm, Thu Hồng, Bàng Bá Lân, Nam Trân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, ngôn ngữ thơ từng bước được “thoát xác” khỏi những khuôn
thước về câu chữ, niêm luật, vần…Những sáng tác của họ và hoạt động thực tế sáng
tác của họ đã làm nên một cuộc “cách mạng thơ” thực sự.
Năm 1943, Dương Quảng Hàm đã đề cập đến những nét cơ bản của các thể loại
thi ca tiếng Việt trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu”. Sau đó, 1971, Bùi Văn
Nguyên và Hà Minh Đức đã nghiên cứu về cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu
lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung trong “Thơ ca Việt Nam- Hình thức và
thể loại” trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã có của Phan Kế Bính trong “Việt
Hán văn khảo” (1918), Bùi Kỉ trong “Quốc văn cụ thể” (1932), Dương Quảng Hàm
trong “Việt Nam văn học sử yếu” (1943)… Đặc biệt, phần nghiên cứu về thể thơ
của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức có ý nghĩa tạo một bước tiến nền tảng cho
việc nghiên cứu thể loại thơ nói chung.
Gần hơn nữa, một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Đình Sử,
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lý Hoài Thu, Lê Lưu Oanh, Trinh Đường, Mã Giang
Lân, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Phạm Hùng, Bùi Công Hùng…đều hướng tới một, hoặc
10
một vài hoặc nhiều tác giả, tác phẩm thơ (có cả thơ trung đại và hiện đại, nhiều
công trình chú trọng vào thơ Việt thế kỷ XX) với một số nội dung chính như sau:
- Tiến trình văn học.
- Phê bình lí luận văn học.
- Sự cách tân thơ văn.
này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ. Đó là sự cụ thể hóa cái cơ
bản nhất của các loại hình văn chương nằm trong định nghĩa mang tính khái quát
“văn học là nhân học” của M. Gooki.
Các nhà hình thức Nga như R. Jacobson, V. Girmunski đã đi sâu nghiên cứu
các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông
qua các đơn vị cấu trúc hệ thống. Những quan điểm nghiên cứu của trường phái này
thể hiện rõ nét và tập trung nhất trong bài viết về “Những con mèo” của Ch.
Baudelaire.” [51, tr.5]
Bên cạnh đó, có thể thấy những luận điểm của Roman Jakobson về chức năng
của ngôn ngữ thơ có vai trò như một cánh cửa gợi mở đường hướng cho các nhà
nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ Việt Nam nói chung, thơ Việt
thế kỷ XX nói riêng: nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lý thuyết
về chức năng ngôn ngữ thơ. Bài viết của Roman Jakobson tuy chưa phân tích vào
những dẫn liệu cụ thể nhưng lại có sức thuyết phục bởi tư tưởng khái quát mang
tính định hướng nghiên cứu cho những người muốn đào sâu khai thác vào địa hạt
của văn học, thơ ca từ góc độ ngôn ngữ - một góc độ dù đã được giới nghiên cứu
nhắc đến, vận dụng và khám phá song vẫn chưa thực sự có nhiều bài nghiên cứu.
Như vậy, có thể nói, “Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc- chức
năng mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn
hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng
một lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ có thể thực hiện tốt
những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới.” [51, tr.5]
Ở Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc
độ ngôn ngữ, tiêu biểu là chuyên luận “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
truyện Kiều” (1985) của Phan Ngọc. Phan Ngọc đã dùng những thao tác nghiên cứu
định lượng, định tính của ngôn ngữ để tạo ra một hướng đi hợp lý trong việc đánh
giá tác phẩm thơ.
Nói đến các bài viết hoặc công trình nghiên cứu, bình luận về thơ theo hướng
nghiên cứu thi pháp hoặc ngôn ngữ học, ngoài Phan Ngọc với công trình nói trên,
còn có thể kể đến một số tên tuổi mà luận án này quan tâm như: Nguyễn Phan
nhịp điệu, ngữ điệu…, trong mối liên hệ với các câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, thậm
chí bài thơ). Đồng thời, công trình này cũng là một gợi ý và tạo cơ sở cho luận án
của chúng tôi khi nghiên cứu thơ Việt Nam thế kỷ XX ở nhiều cấp độ khác nhau:
bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
Gần đây còn có các bài báo của Lý Toàn Thắng (“Thơ mới bảy chữ của Xuân
Diệu: khổ thơ và luật thơ” 223, tr 3-7, “Thử đo đếm thơ”, 224, tr 42->49), Trần
13
Đại Nghĩa (“Đọc mới bài thơ “Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan 193, tr
34->37), Vũ Duy Thông (“Ngôn ngữ Thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến” 235,
tr 52->57), Nguyễn Thế Lịch (“Ngữ pháp của thơ” 198, tr.58->64) cũng chú ý
đến ngôn ngữ thơ.
Tiếp đó, có các bài nghiên cứu thơ Việt Nam thế kỷ XX theo hướng ngôn ngữ
học đăng rải rác trên các tạp chí Khoa học- Đại học Quốc gia Hà Nội, Ngôn ngữ của
các tác giả Đinh Văn Đức, Nguyễn Phương Thùy là những bài đặt cơ sở nền tảng
cho việc “thử nghiệm và kiểm chứng” một số hướng nghiên cứu mà luận án này
hướng tới.
1.2. Nhận thức về thơ
1.2.1. Nhận thức về mặt lịch sử sáng tác và thi pháp
Trước hết, luận án tìm hiểu khái niệm về thơ. Thơ là gì?
Thơ là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ
của nó. Từ thời cổ đại, các học giả vĩ đại như Aritxtốt, Điđơrô, sau đó đến Lý Bạch,
Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, N.G.Tsecnưsepki…bàn đến những vấn đề của thơ ca.
Arixtốt trong cuốn “Nghệ thuật thơ ca” [1] gọi tất cả các loại hình thơ ca (sử thi, bi
kịch, hài kịch, tửu thi) là các nghệ thuật mô phỏng hay là sự mô phỏng. Nhưng điều
đó hoàn toàn không có nghĩa là tác phẩm thơ ca chỉ đơn giản là sự tái hiện bản thân
hiện thực bằng các hình tượng được tạo nên bởi các phương tiện ngôn ngữ- tức là
tái hiện những cái đã xảy ra trong chính hiện thực. Hình tượng thơ ca không cần
phải là bản sao của một hình tượng duy nhất nào đó trong hiện thực, mà nó phải là
sống”, “Thơ là tiếng nói tri âm”, “Thơ là chuyện đồng điệu”. Sóng Hồng trong bài
Tựa tập Thơ của mình đã viết: “Thơ là biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”. Có
thể nói, các quan niệm của các nhà thơ này đều theo hướng thơ gắn liền với cuộc
đời.
Theo Lê Quang Đức trong bài “Chế Lan Viên- tháp Bayon bốn mặt là ông?”
thì: “Chế Lan Viên một trong những người suy tư và viết về lao động thơ nhiều
nhất, ông thể hiện tất cả điều đó thành thơ:
“Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời.”
Hiểu giá trị của thơ, ông là người trong suốt hành trình sáng tạo đã luôn tìm cách
tốt nhất để chuyển hóa chất liệu đời sống thành chất liệu tâm hồn bằng cách thầm
lặng đánh vật với câu chữ, ý tưởng như người phu chữ. Ông luôn tuân theo những
hình luật khắc nghiệt của sáng tạo nhưng bao giờ cũng biết vượt qua để hướng tới
bến bờ nghệ thuật: thơ phải có ích cho tư tưởng và phải mới lạ cho xúc cảm:
15
“Đừng làm những câu thơ khuôn mình theo văn phạm
Như cây xanh quá thẳng chim không về.”
Insara trong bài viết “Khoảng tối của thơ ca” (E.Văn. VnExpress) thì cho rằng:
“Thi ca không phải là cái đẹp thêm vào cuộc sống, của trang điểm cho tính thể con
người, càng không phải là trò nhàn đàm của và cho những tâm hồn mệt mỏi. Ở đâu
và bất kỳ thời đại nào cũng có những tâm hồn đau khổ và tuyệt vọng. Chính những
nơi đó thi ca có mặt. Nhưng thơ có mặt không với tư cách chiếc bè cho sinh thể kia
bấu víu mà như chất xúc tác làm cháy lên trong tâm hồn bóng tối ấy tia lửa mới của
hy vọng. Như thế, xã hội tính bao giờ cũng là một trong những yếu tính của thi ca,
dù xã hội đó là sự thống khổ của cả đám đông, nỗi ưu tư của một nhóm hay chỉ là
cái uẩn khúc trong tâm thức của một cá thể biệt lập…
đừng đòi hỏi mọi sự mạch lạc và sáng sủa ở thi ca. Tệ hại không kém là
khuynh hướng tự khuấy đục làm ra vẻ sâu thẳm của những dòng nước cạn. Sức hấp
dẫn của thơ không chỉ ở bề nổi nơi tất cả được bày ra giữa ban ngày mà chính là ở
Rải rác ở một số bài viết trên internet có các quan niệm khác nhau về thơ của
một số nhà văn, nghệ sỹ hoặc nhà phê bình văn học. “Thơ dẫn chúng ta tới chỗ tập
trung kì lạ của năng lực tinh thần, đưa chúng ta vào vòng liên kết sống động đầy
cảm thông của đời sống, trong đó năng lực cảm thụ là yếu tố quyết định. Chỉ những
kẻ có khả năng tự mở lòng mình ra, như một bông hoa hồn nhiên ca hát, hay, như
đứa trẻ đứng bên đường, lặng lẽ mỉm cười bí mật, thì mới có thể học được nghệ
thuật cảm thụ. Thơ và nghệ thuật cảm thụ là người canh giữ tài giỏi nhất của tâm
hồn bạn qua những sự kiện đầy ấn tượng trong đời sống, sinh đẻ, cái chết, mất mát,
chia lìa, sự di chuyển và sự vắng bóng, là người đưa đò chở bạn qua dòng sông li
biệt giữa hai bờ, bên này là không gian, bên kia là thời gian. Thơ dạy cho tâm hồn
bạn trở nên sâu sắc, suy tưởng của bạn thành trẻ thơ, và làm cho bạn trở nên người
tử tế. Như khi mùa xuân tàn, trên mặt hồ xa sen vừa nở, thơ là liệu pháp hoa.”
(Nguyễn Đức Tùng- Talawas.org)
Có ý kiến cho rằng: “Thơ nói ít mà chứa đựng nhiều nghĩa, những khoảng
trắng đậm chất thơ, nơi chất thơ lan tỏa, nó còn có ý nghĩa thơ là văn bản không liên
tục, thơ có nhiều chỗ “lặng”, cái lặng của thơ tràn ngập cảm xúc và tư duy”. “Thơ
khác văn xuôi chủ yếu ở nhịp điệu; nhịp điệu là linh hồn của thơ. Có thể nói: “Thơ
là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ”. Tóm lại, ý kiến này cho rằng
đặc trưng của thơ là: cấu trúc trùng điệp (âm thanh, nhịp điệu, ngữ nghĩa…), kiến
trúc đầy âm vang, nhiều khoảng trắng trên không gian in hơn, chất nhạc tràn đầy”.
* Quan niệm về thơ của các nhà nghiên cứu theo thi pháp học
Các nhà nghiên cứu theo hướng thi pháp học có những quan niệm khác nhau
về thơ và bàn đến những vấn đề về thơ.
17
Theo R. Jakobson thì “chức năng thi ca đem nguyên lý tương đương của trục
tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”.
Trên thế giới, Liên Xô cũ là nơi thi pháp học đạt được nhiều thành tựu đáng kể
gắn với các tên tuổi tiêu biểu như A.N. Vexêlốpxki, V.Ia. Prốp, M.M. Bakhtin, V.v.
Vinôgrađốp, M.B. Khrapchencô, N.L. Crápxốp…