ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
HỒ VĂN HẢI
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ THƠ
LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
HỒ VĂN HẢI
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƢNG NGÔN NGỮ
THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5.04.08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS-TS. Trần Trí Dõi
TS. Nguyễn Hữu Đạt
4. Phương pháp nghiên cứu
8
5. Đóng góp mới của luận án
9
CHƢƠNG 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát
hiện đại
10
1.1. Các bình diện của ngôn ngữ thơ
10
1.2. Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại
19
1.3. Vai trò và vị trí của thơ lục bát trong nền thi ca dân tộc
25
1.4. Các xu hướng và những thành tựu lục bát hiện đại tiêu biểu
27
3.2. Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới
156
3.3. “Định ngữ nghệ thuật” như một loại cấu trúc tu từ
177
3.4. Tiểu kết
182
Kết luận
184
Tài liệu tham khảo
193
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Những đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại thơ ca thể hiện tập trung
nhất đặc điểm tâm lí - thẩm mỹ trong đời sống tinh thần của một dân tộc. Thể thơ
không phải là kết quả của một tác động cơ học mà là một sự chọn lọc tự nhiên của
cảm xúc con người trước hiện thực. Thơ lục bát là một trong những biểu tượng
văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thi ca và đời sống tinh thần dân tộc.
Trong chuyên luận về thơ, Nguyễn Phan Cảnh khẳng định, sự chọn lọc tự nhiên đã
kết tinh thơ Việt ở những thể từ 5 đến 8 tiếng [10, 182]. Lục bát là trung tâm của
quá trình này. Trong một cặp dòng (lục và bát), sự phân bố thanh điệu, hiệp vần,
ngắt nhịp một cách hài hoà... đã hàm chứa các tham số của quá trình chọn lọc tự
nhiên kia. Các nhà nghiên cứu sau một thời gian dài đã thống nhất nhận định: lục
bát là thể thơ thuần túy Việt Nam có thể sánh ngang với thơ Đường Trung Hoa,
hay các thể thơ khác của một số dân tộc châu Âu. Câu thơ Sáu-Tám đã được thử
thách qua thời gian và chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình. Là "nhịp thở giống
nòi", người ta có thể dùng lục bát để đọc, để ngâm, để ví, để hát ru hay hát giao
duyên... Đây là một thể thơ song hành với sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa
hiện đại với thành tựu to lớn của nó vẫn chưa có được một chuyên luận nghiên cứu
từ góc độ ngôn ngữ với cái nhìn xuyên suốt hai chiều đồng đại và lịch đại. Tzvetan
Todorov đã viết "Trên suốt chiều dài lịch sử của mình, nghiên cứu văn học
nghiêng hẳn về giải thích. Cần đấu tranh với sự thiên lệch này, nhƣng tức là với
chính sự thiên lệch chứ không phải với bản thân nguyên tắc giải thích" [112, 184].
Đó cũng là thực trạng của tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta.
Những thực tế trên đặt ra vấn đề cần phải chọn những tác phẩm lục bát hiện
đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ
(là cách tiếp cận tỏ ra hiệu quả và mang tính thuyết phục cao) để đi đến những
nhận thức cần thiết về thực trạng, triển vọng và nhiều vấn đề quan trọng khác. Qua
khảo sát sơ bộ, chúng tôi đã chọn bốn tác giả lục bát tiêu biểu là Nguyễn Bính,
Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy làm dẫn liệu chủ yếu. Từ đó đối sánh với lục bát
ca dao, lục bát Truyện Kiều để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại.
Thơ lục bát được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu trên nhiều phương diện
khác nhau, riêng bình diện ngôn ngữ, nó có thể thuộc đối tượng nghiên cứu của
nhiều phân ngành khoa học như phong cách học, thi pháp học, ngữ dụng học... Do
tầm quan trọng của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện, chất liệu tư duy và phản
ánh của thi phẩm, hướng tiếp cận này tỏ ra thiết thực và lí thú.
2. Lịch sử vấn đề
Thi ca nói chung từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều người trên
khắp thế giới, nhưng những thành tựu đã đạt được hay vừa mới đạt được lại không
bao giờ làm cho họ thỏa mãn hoàn toàn. Những nghiên cứu về nó từ trước đến nay
có thể đứng trên các bình diện khác nhau. Trên mỗi bình diện ta thu được những
kết quả đặc thù.
2.1. Từ góc độ lí luận và phê bình
ở bình diện này tập trung số đông các nhà nghiên cứu. Arixtote và Lưu Hiệp
đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ
ca như một nghệ thuật trong đời sống tinh thần [1]. Dương Quảng Hàm với tác
phẩm Việt Nam văn học sử yếu (1943) đã đề cập đến một cách căn bản lịch sử của
Các nhà hình thức Nga như R. Jacobson, V. Girmunxki đã đi sâu nghiên cứu
các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông
qua các đơn vị cấu trúc hệ thống. Những quan điểm nghiên cứu của trường phái
này thể hiện rõ nét và tập trung nhất trong bài viết về "Những con mèo" của Ch.
Baudelaire [59, 69-75]. Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc - chức
năng mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn
hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng cho việc xây
dựng một lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ có thể thực
hiện tốt những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới.
Một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ có giá
trị đã khởi động hướng tiếp cận văn chương từ góc độ ngôn ngữ. Tiêu biểu là
chuyên luận Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (1985). Với
những thao tác định lượng, định tính trong nghiên cứu ngôn ngữ, Phan Ngọc đã
không sa vào sự lí giải chung chung mà tập trung thỏa đáng cho những mặt nổi
trội về ngôn ngữ đã làm cho Truyện Kiều trở nên nổi tiếng. Đây là một hướng đi
hợp lí trong việc đánh giá một tác phẩm thơ.
Tiếp thu những luận điểm trong tư tưởng của R. Jacobson về chức năng của
ngôn ngữ thi ca, Nguyễn Phan Cảnh đã đề cập vấn đề này một cách trực diện hơn
trong chuyên luận: Ngôn ngữ thơ (1987). Trong phần viết về thể lục bát, ông đã có
được những nhận định khái quát rất quan trọng. Ngoài việc đề cập đến cách thức
phát sinh thể loại lục bát, Nguyễn Phan Cảnh cũng đã có được những lập luận
thuyết phục cho vấn đề khả năng tồn tại của thể thơ truyền thống cách luật này.
Bên cạnh đó tác giả đã chú trọng đi vào một số bình diện của ngôn ngữ thơ như
tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ (nhờ phương thức tổ chức kép các lượng ngữ
nghĩa), nhạc thơ, mức độ và cách thức hoạt động của trường nét dư trong vận động
tạo thể... [10,165]. Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt
nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong
cái nhìn phân biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi).
rộng rãi một cách đặc biệt thì cũng là lúc các tuyển tập lục bát ra đời. Mặc dù còn
nhiều ý kiến (dư luận) chưa thống nhất song 2 tuyển tập về lục bát (Tuyển tập lục
bát Việt Nam do Nxb VH ấn hành năm 1994 và Thơ lục bát mới do Hà Quảng
tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Hội LHVHNT Hà Tĩnh ấn hành năm 1999) này
cũng đã gián tiếp khẳng định rằng cho đến nay vai trò to lớn của lục bát trong đời
sống tinh thần của người Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị. Một số bài viết khác
như Tiếng Việt và thể thơ lục bát (Nguyễn Thái Hoà) [55, 37-42]; Nhịp chẵn, nhịp
lẻ trong thơ lục bát [102, 160-169]; Lục bát Huy Cận: Ngậm ngùi (Lý Toàn
Thắng) [107, 49-54]; Ngày tết đọc 5 bài thơ lục bát (Trần Đăng Khoa) [64]; Một
số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá (Nguyễn Tài Cẩn) [18]... cũng góp
phần cổ động cho phong trào nghiên cứu lục bát đang ngày càng trở nên sôi nổi.
2.3. Thành tựu và những vấn đề đặt ra
Về thành tựu. Xung quanh vấn đề ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát, các
nhà nghiên cứu đã đạt được những thành tựu to lớn, tập trung trên một số hướng
sau:
* Ngôn ngữ thơ ca trong sự so sánh với ngôn ngữ văn xuôi.
* Tiến trình thể loại thơ ca và tiến trình thể loại lục bát.
* Cấu trúc hình thức (âm luật) của lục bát.
Những vấn đề đặt ra. Trong khi đã có khá nhiều chuyên luận nghiên cứu thi
ca hiện đại nói chung, thơ lục bát hiện đại nói riêng từ góc độ thi pháp, lí luận và
phê bình thì vẫn còn quá ít các chuyên luận tiếp cận chúng từ góc độ ngôn ngữ. Hệ
quả là đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ lục bát hiện đại
một cách quy mô và hệ thống trên bình diện ngữ âm và phương thức, phương tiện
tạo nghĩa (nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ lục bát hiện đại từ thao tác so sánh lịch
đại). Vì vậy, trong phạm vi có thể, một công trình nghiên cứu hướng tới một sự
đánh giá nhất định về triển vọng và tương lai của thể lục bát từ góc nhìn ngôn ngữ
là hết sức cần thiết. Thực hiện được mục tiêu này sẽ góp phần vào việc từng bước
làm rõ hơn triển vọng, cách thức vận động và phát triển của thơ lục bát Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
nghĩa. Luận án đặc biệt vận dụng các thao tác định lượng, định tính trong cái nhìn
đồng đại và lịch đại để chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ của một thể thơ truyền thống
cách luật thông qua tâm điểm của hệ quy chiếu là ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại.
5.2. Luận án không dừng lại ở việc chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ mà thông
qua đó để phát hiện cái bất biến, cái khả biến, cái độc tôn trong ngôn ngữ nhằm lí
giải cách thức tồn tại, khuynh hướng vận động của thơ lục bát hiện đại cũng như
vai trò và vị trí của nó trong nền thi ca dân tộc.
5.3. Một vấn đề không kém phần quan trọng khác là phải đưa ra những dự
báo về thể thơ này: khả năng tồn tại và xu hướng phát triển.
6. Cấu trúc luận án
Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở đầu và
phần Kết luận, nội dung luận án được triển khai trong 3 chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát hiện
đại
Chƣơng 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục
bát hiện đại
Chƣơng 3: Một số phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục
bát
hiện đại
Sau cùng là phần Tài liệu tham khảo
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Hồ Văn Hải (2001), Vần điệu lục bát Nguyễn Duy (qua khảo sát tập thơ Sáu &
Tám). Thông báo khoa học ĐHSP Vinh. Số 25.
2. Hồ Văn Hải (2001), Nhịp điệu thơ lục bát Nguyễn Duy qua tập "Sáu & Tám".
Ngữ học trẻ 2001. Hội ngôn ngữ học Việt Nam. Hà Nội.
3. Hồ Văn Hải (2001), Từ láy trong lục bát Nguyễn Duy. Tạp chí Ngôn ngữ & Đời
dục. Hà Nội.
[7] Phan Kế Bính (1930), Việt Hán văn khảo. Nxb Trung Bắc Tân văn.
[8] Võ Bình (1975), "Bàn thêm về một số vấn đề về thơ". Tạp chí Ngôn ngữ (3)
[9] Võ Bình (1984), "Bƣớc thơ". Tạp chí Ngôn ngữ (số phụ 2).
[10] Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên
nghiệp. Hà Nội.
[11] Nguyễn Phan Cảnh (1999), Thông điệp Nguyễn Bính (Thơ Nguyễn Bính những lời bình) Nxb Văn hoá - thông tin. Hà Nội.
[12] Huy Cận (1979), "Suy nghĩ về nghệ thuật". Báo Văn nghệ (48).
[13] Huy Cận - Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca.
Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[14] Huy Cận - Đời và thơ (1999), Nxb Văn học. Hà Nội.
[15] Huy Cận - Về tác gia và tác phẩm (2000), Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[16] Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
[17] Nguyễn Tài Cẩn (1997), Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[18] Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá.
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
[19] Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[20] Trương Chính (1990), "Từ ngôn ngữ đến văn chƣơng". Tạp chí Ngôn ngữ (4).
[21] Mai Ngọc Chừ (1991), Vần thơ Việt Nam dƣới ánh sáng ngôn ngữ học. Nxb
Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp. Hà Nội.
[22] J.Cohen (1998), "Thơ và nghiên cứu thơ". Tạp chí Văn học nước ngoài (4).
[23] Hoàng Cao Cương (1984), "Nhận xét về một số từ láy đôi tiếng Việt". Tạp chí
Ngôn ngữ (4).
[24] Bạch Cư Dị (1998), "Thƣ gửi Nguyên Chẩn", Nguyễn Khắc Phi dịch. Tạp chí
Văn học (5).
[25] Xuân Diệu (1984), Công việc làm thơ. Nxb Văn học. Hà Nội.
[26] Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội. Nxb Văn hóa
thông tin. Hà Nội.
học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
[44] Hoàng Văn Hành (1979), "Về hiện tƣợng láy trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn
ngữ (2).
[45] Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy tiếng Việt. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội.
[46] Trần Mạnh Hảo (1996), Thơ phản thơ. Nxb Văn học.
[47] Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt - Mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ
pháp. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[48] Z.S. Harris (2001), Các phƣơng pháp của ngôn ngữ học cấu trúc (Cao Xuân
Hạo dịch). Nxb Giáo dục.
[49] Lê Anh Hiền (1973), "Vần thơ và cái nền của nó trong thơ ca Việt Nam". Tạp
chí Ngôn ngữ (4).
[50] Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại. Nxb hội nhà văn. Hà Nội.
[51] Phi Tuyết Hinh (1985), "Vai trò của các nguyên âm trong sự tạo nghĩa của từ
láy tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ (4).
[52] Phi Tuyết Hinh (1998), Từ láy, những vấn đề còn để ngỏ. Nxb Khoa học xã
hội. Hà Nội.
[53] Nguyễn Thái Hòa (1996), "Đi tìm cái mới trong biểu đạt thơ Việt Nam hơn
nửa thế kỉ qua". Tạp chí Văn học (7).
[54] Nguyễn Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[55] Nguyễn Thái Hòa (1999),"Tiếng Việt và thể thơ lục bát". Tạp chí Văn học
(2).
[56] Nguyễn Văn Hoàn (1974), "Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều". Tạp chí
Văn học (1).
[57] Bùi Công Hùng (1985), "Nhạc điệu của thơ Việt Nam hiện đại trong 40 năm
qua". Tạp chí Văn học (5-6).
[58] Đoàn Thị Đặng Hương (1999), Thơ Nguyễn Bính - những lời bình (Nguyễn
Bính - nhà thơ chân quê). Nxb Văn hoá - thông tin. Hà Nội.
[59] Jacobson-Lévi Strauss (1997) "Những con mèo" của Ch. Baudelaire". Tạp chí
Ngôn ngữ và Đời sống (9).
[77] Dẫn theo Lê Hoài Nam (1985), Toán học trong thi văn. Nxb Khoa học - Kỹ
thuật. Tp Hồ Chí Minh.
[78] Anh Ngọc (2000), Từ thơ đến thơ. Nxb Thanh niên. Hà Nội.
[79] Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Nxb
Khoa học xã hội. Hà Nội.
[80] Phan Ngọc (1995), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học. Nxb trẻ.
Thành phố Hồ Chí Minh.
[81] Phan Ngọc (2000), Thử xét văn hóa-văn học bằng ngôn ngữ học. Nxb Thanh
niên. Hà Nội.
[82] Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể
loại. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội.
[83] Vương Trí Nhàn (1994), "Về những tìm tòi hình thức trong thơ gần đây". Báo
Văn nghệ (32).
[84] Vương Trí Nhàn (1999), Cánh bƣớm và hoa hƣớng dƣơng. Nxb Hải Phòng.
[85] Bùi Mạnh Nhị (1997), "Công thức truyền thống và đặc trƣng cấu trúc của ca
dao - dân ca trữ tình". Tạp chí Văn học (1).
[86] Nguyễn Thị Nhung (1997), Hình thức âm nhạc. Nxb Giáo dục. Hà Nội.
[87] Vũ Ngọc Phan (1997), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam. Nxb Khoa học xã
hội (tái bản lần thứ 12). Hà Nội.
[88] Hoàng Trọng Phiến (1974), Các bài giảng về phong cách học. Hà Nội.
[89] Lương Xuân Phương (1968), Cựu thi lƣợc luận, Phạm Thế Ngũ dịch và xuất
bản. Sài Gòn.
[90] Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát. Nxb Khoa học xã
hội. Hà Nội.
[91] Vũ Quần Phương (1995), "Nhìn lại tiến trình thơ hiện đại". Báo Việt Nam
(47).
[92] G.N. Poxpelop chủ biên (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Trần Đình Sử,