VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỒNG HOÀNG HƢNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI
(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ TIÊU BIỂU)
Ngành, chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số
: 62 22 02 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỒNG HOÀNG HƢNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI
(TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ TIÊU BIỂU)
Ngành, chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số
: 62 22 02 40
2.1. Vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại ......................................................... 40
2.2. Các kiểu loại vần trong thơ bảy chữ hiện đại .................................................... 44
2.3. Chức năng tạo vần của các yếu tố cấu thành âm tiết ........................................ 58
2.4. Sự phân bố của thanh thanh điệu trong hiệp vần ............................................. 64
2.5. Giá trị nghệ thuật của vần trong thơ bảy chữ hiện đại ...................................... 69
2.6. Tiểu kết .................................................................................................................. 73
CHƢƠNG 3 NGẮT NHỊP TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI......................... 76
3.1. Cơ sở của việc ngắt nhịp ...................................................................................... 76
3.2. Kết quả khảo sát các loại nhịp ........................................................................... 102
3.3. Giá trị nghệ thuật của nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại ................................... 110
3.4. Tiểu kết ................................................................................................................ 116
CHƢƠNG 4 HÀI THANH TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI ...................... 118
4.1. Cách tổ chức thanh điệu trong thơ bảy chữ hiện đại ...................................... 118
4.2. Bƣớc đầu tìm hiểu về niêm trong thơ bảy chữ hiện đại .................................. 134
4.3. Bƣớc đầu tìm hiểu về đối thanh điệu bằng - trắc trong thơ bảy chữ ............. 138
4.4. Giá trị của hài thanh trong thơ bảy chữ hiện đại ............................................ 141
4.5. Tiểu kết ................................................................................................................ 143
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 146
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.................................................................................................. 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 151
PHỤ LỤC....................................................... ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- B: Thanh Bằng.
- T: Thanh trắc.
- K: Khuôn thanh.
- L: Lệch chuẩn ở vị trí.
- T, B: là những vị trí lệch chuẩn so với truyền thống.
+ N123: Trƣờng hợp 4, câu 1,2, 3 niêm với nhau.
+ N234: Trƣờng hợp 5, câu 2, 3,4 niêm với nhau.
+ N123: Trƣờng hợp 6, câu 1,2, 3, 4 niêm với nhau.
+ N12,34: Trƣờng hợp 7 (N12,34), câu 1 niêm với câu 2, câu 3 niêm với câu 4.
+ N0: Trƣờng hợp 8, không có niêm.
- Đối với trƣờng hợp có đối thanh điệu:
+ TH1: Trƣờng hợp 1, 2 câu đầu đối thanh điệu còn 2 câu cuối không đối thanh điệu.
+ TH2: Trƣờng hợp 2, 2 câu cuối đối thanh điệu còn 2 câu đầu không đối thanh điệu.
+ TH3: Trƣờng hợp 3, câu 1 đối thanh với câu 2, câu 3 đối thanh với câu 4.
+ TH4: Trƣờng hợp 4, không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng trắc giữa các
câu trong khổ thơ.
DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Bảng 2.1: Thống kê vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại.
2. Bảng 2.2: Kết quả khảo sát các loại vần trong thơ bảy chữ hiện đại.
3. Bảng 2.3: Kết quả khảo sát các kiểu loại vần chính trong thơ bảy chữ hiện đại.
4. Bảng 2.4: Kết quả khảo sát các kiểu loại vần thông trong thơ bảy chữ hiện đại.
5. Bảng 2.5: Sự xuất hiện của các kiểu âm tiết trong thơ bảy chữ hiện đại.
6. Bảng 2.6: Bảng thống kê tình hình phân bố của các âm cuối.
7. Bảng 2.7: Sự xuất hiện của nhóm phụ âm vang và nhóm phụ âm vô thanh.
8. Bảng 2.8: Bảng thống kê các nguyên âm làm âm chính.
9. Bảng 2.9: Bảng thống kê sự tham gia hiệp vần của các nguyên âm.
10. Bảng 2.10: Bảng thống kê số lƣợng các nguyên âm cùng hàng tham gia hiệp vần.
11. Bảng 2.11: Các nguyên âm cùng bậc âm lƣợng hiệp vần.
12. Bảng 2.12: Bảng thống kê số lƣợng các thanh điệu tham gia hiệp vần.
13. Bảng 3.1. Bảng kết quả sử dụng từ láy trong thơ bảy chữ hiện đại.
14. Bảng 3.2. Bảng các loại nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại.
15. Bảng 4.1: Bảng phân bố bằng trắc trong thơ bảy chữ hiện đại.
16. Bảng 4.2: Bảng phân bố thanh điệu theo khuôn truyền thống.
hóa phƣơng Tây, nhiều khuôn vần, nhịp, thanh của thơ thất ngôn đƣợc phá vỡ, thơ bảy
chữ trở thành một thể loại phổ biến đƣợc giới trí thức Tây học dùng để sáng tác một
cách linh hoạt đầy sáng tạo. Từ đây, thơ bảy chữ đã không ngừng phát triển và khẳng
định vị trí của mình trong tiến trình văn hóa. Đỉnh cao của thời kỳ này phải kể đến
Phong trào Thơ Mới (1932 - 1945). Trong "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh - Hoài
Chân đã khẳng định: "Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh. Không hẳn là cổ phong. Cổ
phong ngày xưa đã thúc lại thành Đường luật. Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do
luật đường giãn và nới ra, cho nên êm tai hơn. Cũng có lẽ vì nó ưa vần bằng hơn vần
trắc"[114,tr.44]. Đến nay, thơ bảy chữ đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những
đóng góp của các tác giả tên tuổi nhƣ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc
2
Tử, Tố Hữu,… Khi một thể thơ đồng hành cùng tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì
nó cũng đồng thời trở thành một tài sản văn hóa có giá trị ổn định. Vì vậy, phát triển thơ
bảy chữ cũng chính là trau dồi bản sắc và phát triển văn hóa dân tộc.
1.4. Khi một thể thơ đã có chỗ đứng trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, với tên
tuổi của những nhà thơ nổi tiếng, nó trở thành đối tƣợng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu.
Đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu đến sự phát triển, đặc điểm của thơ bảy
chữ, nhƣng đa số lại tập trung vào xem xét từ bình diện lí luận phê bình văn học nhƣ:
“Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại" (1971) của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh
Đức; "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" (1974) của Hà Minh Đức.
Trong các chuyên luận, thơ bảy chữ cũng chỉ đƣợc dành một phần rất ít số trang chứ
chƣa trở thành một chuyên luận có tính chuyên sâu hoặc bàn riêng về thể thơ này. Chỉ
có một số ít tác giả chú trọng đến tiến trình thể loại. Cho đến nay, thơ bảy chữ hiện đại
với thành tựu to lớn của nó vẫn chƣa có đƣợc một chuyên luận nghiên cứu từ góc độ
ngôn ngữ học. Chính vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải chọn những thi phẩm bảy chữ hiện
đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ để đi
đến những nhận thức cần thiết về những đặc điểm của thể thơ này.
vốn có kết cấu chặt chẽ, không thay đổi về mặt hình thức. Khi vào Việt Nam, thơ bảy
chữ đã đƣợc vận dụng và biến đổi theo lịch sử. Bên cạnh đó, đặc điểm ngôn ngữ của
một thể thơ tập trung ở vần, nhịp, sự hài thanh. Do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên
cứu thơ bảy chữ Việt Nam thế kỷ XX nhằm chỉ rõ những đặc điểm về mặt hình thức
của thơ bảy chữ thông qua sự biến đổi về vần, nhịp, hài thanh.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài chính là đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại
Việt Nam ở thế kỉ XX trên cơ sở tƣ liệu của bốn tác giả là Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Hàn Mặc Tử, Tố Hữu.
`
Nói đến ngôn ngữ thơ, ngƣời ta thƣờng đề cập đến 3 bình diện: Ngữ âm, ngữ pháp
và ngữ nghĩa. Trong 3 bình diện này, bình diện ngữ âm là nổi trội tạo nên đặc điểm về
mặt hình thức của thơ bảy chữ hiện đại. Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập
trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ Việt Nam thế kỷ XX dƣới góc độ thi
học và thi luật về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm ở 3 phƣơng diện: vần (thi vận), nhịp (thi
điệu), hài thanh (thi tiết). Đây chính là 3 đặc điểm ngữ âm quan trọng nhất tạo nên cái
chất riêng của thơ bảy chữ hiện đại, đồng thời cũng có những biến đổi nhất so với thơ
thất ngôn truyền thống.
Trong thế kỉ XX, thơ bảy chữ hiện đại đã có một vị trí quan trọng, có những ảnh
hƣởng lớn đến tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc với sự đóng góp của
nhiều nhà thơ lớn mà tác phẩm của họ đã ghi lại dấu ấn không thể phai mờ. Luận án
không có tham vọng khảo sát với một diện rộng, việc làm này là rất khó khăn. Trong
4
khuôn khổ của luận án, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát tƣ liệu với tác phẩm của 4
nhà thơ: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên với tổng số 361 bài với 6154
5
của thơ bảy chữ với thực tế sử dụng vần, nhịp, hài thanh của 4 nhà thơ để chỉ rõ sự cách
tân.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là luận án đầu tiên khảo sát khảo sát đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại
về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm (góc độ thi học và thi luật), do vậy, sẽ góp phần làm sáng
tỏ thêm một số vấn đề:
- Lý thuyết về việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ dƣới góc độ thi học và thi luật.
- Đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học Việt Nam, hƣớng hẳn vào
việc nghiên cứu chuyên sâu về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ (thi học và thi luật).
- Sự cách tân về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại nhằm đáp ứng sự phát triển về
tƣ tƣởng và sự đổi mới về nội dung.
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần việc đổi mới cách dạy môn Ngữ văn
trong trƣờng học ở các bậc học khác nhau.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Lần đầu tiên thơ bảy chữ hiện đại đƣợc khảo sát dƣới góc độ cơ cấu/tổ chức ngữ
âm. Các tƣ liệu cùng với những nhận xét đánh giá của luận án giúp ngƣời đọc nhận biết
khá đầy đủ những nét đặc sắc về ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại về mặt vần, nhịp và hài
thanh. Sự đổi mới về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại là một sự vận động tất yếu để
phù hợp xu hƣớng phát triển của thời đại, đáp ứng nhu cầu về tƣ tƣởng và sự đổi mới về
nội dung của thơ Việt Nam thế kỷ XX.
Các kết quả của luận án còn giúp ngƣời đọc thấy đƣợc những đóng góp của thơ
bảy chữ hiện đại trên con đƣờng tự do hoá ngôn ngữ thơ thế kỷ XX. Với thơ bảy chữ
hiện đại, vần, nhịp, hài thanh không phải chỉ là bằng bằng trắc trắc đơn thuần mà nó
còn thể hiện thế giới nội tâm phong phú, những biến thái tinh vi của cuộc sống qua lăng
kính của nhà thơ. Vần thơ bảy chữ phong phú, đa dạng đƣợc tạo nên thông qua những
yếu tố tƣơng đồng, tƣơng dị. Cách ngắt nhịp phi truyền thống đã chiếm một tỷ lệ đáng
hai góc độ: lí luận phê bình văn học và ngôn ngữ học. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ
mang tính chất tương đối, ranh rới giữa hai góc độ này nhiều khi hòa vào nhau.
1.1.1. Từ góc độ lí luận phê bình văn học
Có thể khẳng định rằng Arixtote và Lƣu Hiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho
việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ ca nhƣ một nghệ thuật trong đời sống tinh
thần [1]. Năm 1943, Dƣơng Quảng Hàm với tác phẩm "Việt Nam văn học sử yếu" đã đề
cập đến một cách căn bản lịch sử của các thể loại thi ca tiếng Việt [42]. Trên cơ sở kế
thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trƣớc nhƣ Phan Kế Bính trong "Việt
Hán văn khảo" (1918), Bùi Kỉ trong "Quốc văn cụ thể" (1932), Dƣơng Quảng Hàm
trong "Việt Nam văn học sử yếu", năm 1971, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã
nghiên cứu chỉ ra cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu về lịch sử phát triển của các
thể thơ nói chung (trong đó có thơ bảy chữ). Năm 1974, Hà Minh Đức với tác phẩm
"Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" đã mang đến cho ngƣời đọc một cái
nhìn đầy đủ hơn về thơ, vấn đề ngôn ngữ thơ đã đƣợc bàn luận đến khá nhiều ở chuyên
luận này, nhịp điệu và thanh điệu trong thơ cũng đƣợc tác giả quan tâm thể hiện. Việc
nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đƣợc xem nhƣ là một bƣớc tiến quan
trọng đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu thể loại thơ ca nói chung, ngôn ngữ thi ca nói
riêng, nhƣ là cái gạch nối giữa hai xu hƣớng lí luận phê bình và ngôn ngữ học.
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả nhƣ Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Lý
Hoài Thu, Lê Lƣu Oanh, Mã Giang Lân, Trần Khánh Thành, Bùi Công Hùng... đều
hƣớng tới một, hoặc một vài tác giả, tác phẩm (có cả trung đại và hiện đại) với một số nội
dung chính nhƣ: (i) tiến trình văn học, (ii) phê bình lí luận văn học, (iii) sự cách tân thơ
8
văn, (iv) nghiên cứu thơ theo hƣớng thi pháp học văn học. Trần Đình Sử với chuyên luận
"Thi pháp thơ Tố Hữu" (1995) và "Những thế giới nghệ thuật thơ" (1997), Trần Khánh
Thành với "Thi pháp thơ Huy Cận" (2001) đã nghiên cứu thi pháp thơ và loại hình thơ
dựa trên sự phân tích những cứ liệu cụ thể của tác phẩm văn chƣơng.
mức độ và cách thức hoạt động của trƣờng nét dƣ trong vận động tạo thể….[9.tr165].
Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lí thuyết
nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn
ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi)
10
Năm 1988, Hữu Đạt cho ra mắt chuyên luận "Ngôn ngữ thơ Việt Nam". Ở chuyên
luận này, Hữu Đạt đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt trên
cơ sở sử dụng các lí thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn... Trong đó tác giả đã đƣa
ra đƣợc những luận điểm quan trọng nhƣ kết cấu mảng miếng, nhạc thơ, một số đặc
trƣng của thơ lục bát...[22]. Ngoài ra còn kể đến các cuốn "Phong cách học và các
phong cách chức năng tiếng Việt" (2000), "Phong cách học tiếng Việt hiện đại" (2001),
"Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học" (2002) của tác giả này
cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu về
văn học nói chung, thơ ca nói riêng từ phƣơng diện phong cách học của ngôn ngữ học.
Với cuốn "Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng của ngôn ngữ học" (2005), tác giả
Mai Ngọc Chừ đã khai thác tƣơng đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam trong đó có thơ
bảy chữ. Đây là một công trình khẳng định đƣợc vai trò của ngôn ngữ học trong việc
nghiên cứu thơ Việt, dù mới chỉ đi sâu vào cấp độ vần thơ.
Nhà nghiên cứu hải ngoại Đặng Tiến với công trình "Thơ: thi pháp và chân dung"
(2009) là những cảm nhận và phân tích mà ông thể hiện từ thời trẻ về Bà Huyện Thanh
Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng, Hoàng Trúc Lý... Cùng với điều đó, chúng ta
nhận thấy sự suy ngẫm từ rất sớm, và ngày càng sâu sắc của tác giả về lý thuyết thơ, khi
ông tìm hiểu và vận dụng quan niệm của những nhà thi pháp học hàng đầu nhƣ Roman
Jakobson, Claude Levi-strauss, Nguyễn Tài Cẩn vào công việc phê bình văn học.
Gần đây có một loạt các bài báo, các công trình nghiên cứu chuyên sâu của tác giả
Lý Toàn Thắng về vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ nhƣ: "Bằng trắc Thơ Bảy chữ Xuân
Diệu" (2002), "Thử đo đếm Thơ" (2005), "Đọc lại Tống Biệt Hành của Thâm Tâm"
khuynh hƣớng sau:
Khuynh hƣớng thứ nhất là thần thánh hóa thơ ca, cho rằng bản chất của thơ ca và
hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với những điều thiêng liêng, huyền bí. Từ thời cổ đại,
Platôn đã xem bản chất của thơ ca thể hiện linh cảm - những cảm giác thiêng liêng nhất
giữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con ngƣời. Và nhà thơ là ngƣời trung
gian có năng lực cảm giác và biểu đạt điều đó. Trong khuynh hƣớng này, các nhà thơ
lãng mạn phƣơng Tây thƣờng lý tƣởng hóa thơ hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ
ca và hiện thực cuộc sống. Levi-Strauss với quan điểm về thơ nhƣ một cứu cánh, mang
giá trị thẩm mỹ. Lamáctin cho rằng: "Thơ là sự hiện thân của những gì thầm kín nhất
của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh đẹp
nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên". Ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX,
nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng đã có định nghĩa về thơ: "Thơ là cái gì huyền ảo, tinh
khiết, thâm thuý cao siêu" [Dẫn theo 66,tr.7]. Thơ gần với trong, đẹp, thật. "Thơ là đạo,
là tôn giáo, là tình yêu". Chế Lan Viên trong lời tựa của tập Điêu Tàn đã cho rằng:
"Làm thơ là sự phi thường". "Thi sĩ không phải là người, nó là người Mơ, người Say,
người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát thực tại. Nó xáo trộn dĩ
vẵng. Nó ôm trùm tương lai. Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô
nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý" [Dẫn theo 66,tr.9]. Hay cực đoan hơn, Hàn
Mặc Tử cho rằng: "Làm thơ tức là điên" [Dẫn theo 66,tr.9].
Nhƣ vậy, các quan niệm trên đều coi quá trình sáng tạo thơ nhƣ là một cái gì đó
thần bí, thiêng liêng, nó đi liền với một thứ đạo - đạo sáng tác và coi ngƣời nghệ sỹ là
ngƣời khác thƣờng, siêu phàm.
13
Khuynh hƣớng thứ hai cho rằng thơ gắn liền với cuộc sống, với thời đại, bản chất
của thơ ca đƣợc thể hiện trong việc gắn sứ mệnh của thơ ca với đời sống xã hội. Cuộc
sống chính là sân băng cho thơ cất cánh nhƣng cũng là đích đi tới của thơ ca. Lƣu
Trọng Lƣ cho rằng: "Thơ là sự tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống". Tố Hữu
14
trình sáng tạo nghệ thuật. Trong số các cách hiểu về thơ nói trên cũng có những cách hiểu
mang tính chất chung chung, khái quát, chƣa làm rõ đƣợc bản chất của thơ. Có những
cách hiểu quá coi trọng về mặt hình thức của thơ, có những cách hiểu chỉ quan tâm đến
nội dung của thơ mà không chú ý đến hình thức. Một cách hiểu mà chúng tôi thấy là hợp
lý đó là chú ý đến cả hai mặt nội dung và hình thức của thơ. Với cách hiểu này, theo
chúng tôi cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
trong cuốn Từ điển Thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất, khái quát nhất cho tất cả
những quan niệm đã nêu trên: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống thể
hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và có
nhịp điệu" [41, tr.210]. Định nghĩa này đã bao quát đƣợc đầy đủ các tiêu chí về cả nội
dung và hình thức nghệ thuật của thơ, hơn nữa nó còn chỉ ra đặc trƣng cơ bản của ngôn
ngữ thơ để khu biệt với ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác.
1.2.2. Ngôn ngữ thơ là gì?
Văn học đƣợc gọi là nghệ thuật ngôn từ. Cách sáng tạo và thƣởng thức một tác
phẩm văn chƣơng chính là tƣ duy trên chất liệu ngôn ngữ. Thơ là một thể loại thuộc về
sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy ngôn ngữ thơ trƣớc hết phải là ngôn ngữ văn
học "ngôn ngữ nghệ thuật được dùng trong văn học" [41, tr.185]. Nhƣng thơ ca có cơ
chế vận hành bộ máy ngôn ngữ rất độc đáo. Với một lƣợng đơn vị ngôn ngữ hữu hạn,
thơ có khả năng biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống, cái phong phú đa dạng, dồi dào cảm
xúc, tình cảm con ngƣời.
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa
ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ. Jacobson đã từng nói rằng: "chức năng của thi ca
đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp" [Dẫn theo 22,
tr.83], ông đã nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ
chế kết hợp. Bên cạnh đó trên các nguyên lý của F.de.Sassure trong giáo trình Ngôn
ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan
trọng. Ông nhấn mạnh các yếu tố âm thanh nhƣ âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ... là
những đơn vị thuộc bình diện hình thức. Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan
nghiên cứu trên nền tảng, cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học.
Theo quan điểm của Lý Toàn Thắng: "đối với văn chƣơng nói chung, và nhất là
ngôn ngữ thi ca nói riêng, cần phải đƣợc nghiên cứu liên ngành; ít nhất cũng là liên
ngành giữa văn học (lý luận và phê bình) với ngôn ngữ học, và rộng hơn là giữa văn
học với ký hiệu học, nhân học, tâm lý học, và gần đây nữa là với "nhận thức học" hay
"tri nhận học" [126].
Điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ ca từ trƣớc đến nay, chúng ta dễ nhận
thấy một điều là: lâu nay việc nghiên cứu vẫn nghiêng về từ một phía của văn học. Thơ
ca trƣớc hết là đối tƣợng nghiên cứu của "thi pháp/thi pháp học" vốn thƣờng đƣợc coi là
một phân môn của lý luận văn học (hoặc đôi khi của mỹ học).
16
Ở Việt Nam, "thi pháp học" đƣợc coi là khoa học nghiên cứu “hệ thống các
phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật
trong sáng tác văn học” [41].
Trên thế giới, sự xuất hiện trƣờng phái hình thức Nga ở thế kỉ XX đã đƣa ra
những cách tiệp cận mới về nghệ thuật thi ca. Con đƣờng khám phá của họ là dựa vào
kết cấu hình thức để lí giải nội dung ý nghĩa. Roman Jakobson là ngƣời có những đóng
góp quan trọng về vấn đề này. Với công trình "Ngôn ngữ học và thi pháp học", thi pháp
mới đƣợc xem nhƣ có liên quan với ngôn ngữ học - khi mà Jakobson lần đầu tiên nói
đến chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, một chức năng độc lập quan trọng vốn bộc lộ rõ
nhất trong ngôn ngữ thơ ca [60].
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp, nhƣng tựu trung lại chúng đều đề
cập đến ba vấn đề sau đây: (i) Sự sáng tạo thơ ca, các hình thức và nguyên lý của nó;
(ii) Cơ cấu/cấu trúc của các tác phẩm văn chƣơng nói chung; và (iii) Hệ thống các
phƣơng tiện, thủ pháp biểu đạt (ngôn ngữ, âm thanh, chữ viết, biểu tƣợng v.v.) đƣợc sử
dụng trong nghệ thuật thơ ca.
Tuy nhiên, sự phát triển của thi pháp về sau này đã có những sự biến động về ranh
của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại .
Vậy, "thi học" là gì?
Mục đích đầu tiên của thi học là dạy cho ngƣời ta biết cách làm thơ nhƣ thế nào.
Sang đến thế kỷ XIX, thi học mới trở thành một khoa học (một phân môn của thi pháp),
nghiên cứu xem thơ ca đƣợc sáng tác ra nhƣ thế nào với mục đích cuối cùng là xác lập
vị trí của cấu trúc âm thanh trong cấu trúc chung của cả thi phẩm, cũng nhƣ xác lập mối
liên hệ của cấu trúc đó với các cấu trúc ngôn ngữ và hình tƣợng [132].
Đặc trƣng nổi bật của ngôn ngữ thơ là ở sự tổ chức âm thanh một cách hài hoà và
có quy luật chặt chẽ. Do đó, ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhạc điệu. Tổ
chức của ngôn ngữ thơ đƣợc chia cắt ra thành phần ngắn hay dài theo âm luật. Các
thành phần này đƣợc chia ra thành câu thơ và thƣờng thƣờng lại chia thành các dòng
thơ nhỏ hơn. Nhịp điệu là yếu tố quan trọng để gắn kết các thành phần lại với nhau. Nói
đến thơ ngƣời ta nghĩ ngay đến tính nhạc. Tính nhạc của thơ đƣợc tạo thành từ nhiều
yếu tố và đặc biệt là ba yếu tố cơ bản vần, thanh điệu và nhịp điệu. Về vấn đề này, tác
giả Lý Toàn Thắng đã khẳng định: "Với thi học hiện đại, thơ là một thứ ngôn ngữ nghệ
thuật, có tổ chức nhất về phƣơng diện âm thanh, đƣợc tạo thành từ những tiết đoạn liên
quan với nhau, tƣơng đƣơng với nhau, thông ƣớc với nhau và có thể so sánh đƣợc với
nhau thông qua nhịp điệu" [126].
Về mặt lý thuyết, thi học có đối tƣợng, phạm vị nghiên cứu khá rộng nhƣ trên.
Nhƣng trên thực tế, do các đặc trƣng của thơ ca thể hiện ra rõ nhất trong tổ chức âm
thanh của nó, nên đối tƣợng nghiên cứu đƣợc thu hẹp lại. Thi học chỉ tập trung nghiên
cứu đến bốn vấn đề lớn là: (i) Thi âm: nghiên cứu cách thức tổ hợp các âm (thanh), các
18
âm tiết; (ii) Thi tiết: nghiên cứu các âm tiết và cách tổ hợp các âm tiết; (iii) Thi điệu:
nghiên cứu cấu trúc nhịp điệu thơ; và (iv) Thi đoạn: nghiên cứu sự tổ hợp các câu thơ
thành khổ thơ, đoạn thơ.
Tuy nhiên có một số quan niệm mà đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của thi học