1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trần quốc hoàn
đặc điểm ngôn ngữ
thơ hữu thỉnh
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mă số: 60.22.01
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh-2007
2
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trần quốc hoàn
đặc điểm ngôn ngữ
thơ hữu thỉnh
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mă số: 60.22.01
Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ngời hớng dẫn: pgs- ts phan mậu cảnh
Chơng 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
1.1. Những đặc trng về thơ và ngôn ngữ thơ ca
1.1.1. Thơ là gì ?
1.1.2. Ngôn ngữ thơ ca là gì ?
1.1.3. Đặc trng của ngôn ngữ thơ ca
1.2. Hữu Thỉnh và những chặng đờng thơ
1.2.1. Tác giả Hữu Thỉnh
1.2.2. Những chặng đờng thơ
Chơng 2: một số Đặc điểm về vần- nhịp và từ ngữ
trong thơ Hữu Thỉnh
2.1. Khái niệm vần- nhịp
Trang
4
4
4
5
8
8
9
9
9
9
11
13
17
17
49
2.3.2.Phân loại thành các lớp từ
2.4. Cấu trúc thờng gặp trong thơ Hữu Thỉnh
50
65
2.4.1. Cấu trúc so sánh
65
2.4.2. Cấu trúc lặp
2.4.3. Câu hỏi tu từ
72
78
80
Chơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh
5
3.1. Hình tợng thơ và cấu tạo của hình tợng thơ
3.1.1. Hình tợng thơ
3.1.2. Cấu tạo của hình tợng thơ
3.2. Những hình tợng thơ tiêu biểu
3.2.1. Hình tợng ngời mẹ
3.2.2. Hình tợng ngời chị ngời vợ
nối của nền thơ ca chống Mỹ sang thời bình. Sau 1975, cùng với Nguyễn Duy
họ đa thơ tiến về phía trớc với những bớc tiến ngoạn mục, đa dạng và phong
phú [22, tr. 195] .
1.2. Thơ Hữu Thỉnh đã tạo ra một phong cách, thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo
nghệ thuật bền bỉ, luôn luôn tự đổi mới mình. Thơ Hữu Thỉnh có chiều sâu về
nội dung, giàu chất thơ và tính nhạc, chính vì vậy đã tạo nên sự thu hút đối với
bạn đọc. Nhiều bài thơ của ông đã đợc các nhạc sĩ phổ nhạc, nhạc sĩ Doãn
Nho với bài Năm anh em trên một chiếc xe tăng, Phú Quang với Thơ viết ở
biển, gần đây nhạc sĩ Đỗ Bảo với ca khúc Chiều sông Thơng. Những ca
khúc này đợc yêu thích và quen thuộc với mọi ngời.
1.3. Thơ Hữu Thỉnh đã đợc đa vào chơng trình giảng dạy trong nhà trờng và là
đối tợng nghiên cứu của nhiều công trình, chuyên luận từ nhiều góc độ khác
nhau. Trong đó vấn đề ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh là một trong những phơng
diện cần đợc quan tâm. Với ba lý do trên, chúng tôi chọn Đặc điểm ngôn ngữ
thơ Hữu Thỉnh làm đề tài của luận văn.
2. Đối tợng và mục đích nghiên cứu
2.1. Đối tợng
Hữu Thỉnh là một cây bút tài hoa với nhiều bút ký văn học, nhiều bài báo
sắc sảo, tuy nhiên Hữu Thỉnh thành công hơn cả là lĩnh vực thơ ca. Những tập
thơ mà ông có gồm:
- Thơ với tuổi thơ, Nxb Kim Đồng , Hà Nội, 2000
7
- Trờng ca, Sức bền của đất, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998
- Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998
- Thơng lợng với thời gian, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
Trong luận văn này đối tợng khảo sát của chúng tôi là tập Thơ Hữu
Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 1998, tập hợp các tập sau đây:
Hớng thứ nhất cảm nhận, đánh giá những tác phẩm cụ thể, các nhà
nghiên cứu đã đi từ những nét về đặc trng để tìm hiểu nội dung tác phẩm, qua
đó đánh giá giá trị của từng tác phẩm. Trần Mạnh Hảo khi nhận xét về Th
mùa đông đã viết: Sự thành công của Hữu Thỉnh là nói ít, cảm nhiều, theo
truyền thống thi pháp phơng đông thi tại ngôn ngoại. Hồn thơ Hữu Thỉnh
hồn nhiên mà đôi khi thấm đẫm chất Lão Trang, khả năng dồn nén t tởng,
cảm xúc, dồn nén chữ nghĩa hàm súc của Hữu Thỉnh quả là đáng nể [23, tr.
103].
Tác giả Thiếu Mai với tiêu đề Hữu Thỉnh trên Đờng tới thành phố, sau
khi điểm lại một số trờng ca của các tác giả khác, Thiếu Mai kết luận về Hữu
Thỉnh: Thuộc nhiều ca dao nghiên cứu cách ví von liên tởng tài tình của ca
dao, đồng thời cùng suy ngẫm cách nhìn, cách hiểu cuộc đời và con ngời của
ông cha ta qua ca dao, là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của
tác giả. Ngời đọc thấy thấp thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp
của ca dao, nhng rõ ràng thơ anh không rập khuôn theo ca dao, không bị ca
dao lấn át [38, tr. 125].
Mai Hơng cũng tán đồng với ý kiến trên và đa ra nhận định: Hữu Thỉnh
có khả năng vận dụng thông minh, sáng tạo vốn văn học dân gian. Cách nghĩ
và cách nói bằng hình ảnh của quần chúng đợc anh tiếp nhận tự nhiên và
thành công [28, tr. 112].
Hữu Đạt cho rằng Trờng ca Biển là một sự sáng tạo về hình tợng và
ngôn ngữ thơ ca, ở đó ông nhận thấy: Thơ Hữu Thỉnh có nhiều cái mới mà
lại không xa cái truyền thống, thậm chí có khi tái tạo lại cái đã có từ trong
truyền thống mà vẫn có dấu hiệu riêng về phong cách của mình [15, tr .163].
Đặng Hiển khi đọc tập thơ: Thơng lợng với thời gian cũng có lời bình
khá xác đáng đó là nghệ thuật thơ dân tộc hiện đại với ngôn từ và hình ảnh
kết hợp nhuần nhuyễn tính trữ tình và triết lý, sử dụng rộng rãi một cách sáng
9
làm nổi bật hơn các đặc trng phong cách và ngôn ngữ, đóng góp của nhà thơ
về phơng diện ngôn ngữ.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của luận văn chúng tôi sử dụng các phơng pháp
sau:
4.1. Phơng pháp thống kê phân loại:
Đề tài chủ yếu đi vào khảo sát 4 tập thơ, phân loại những đặc điểm ngôn
ngữ phục vụ mục đích đề tài.
4.2. Phơng pháp miêu tả đối chiếu:
Miêu tả các đặc điểm trong thơ Hữu Thỉnh từ đó so sánh đối chiếu với
một số các tác giả khác để làm nổi bật ngôn ngữ trong thơ ông.
4.3. Phơng pháp phân tích tổng hợp:
Từ việc đi vào phân tích một số bài thơ, câu thơ, những hình ảnh thơ, biện
pháp tu từ... đi đến khái quát đặc điểm ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh.
5. Đóng góp của đề tài:
Đây là công trình nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh từ góc độ ngôn ngữ học, từ
đó rút ra đặc điểm ngôn ngữ trong thơ ông. Qua đề tài này, có thể giúp cho
việc giảng dạy thơ Hữu Thỉnh trong nhà trờng theo một định hớng mới, cách
tiếp cận mới từ góc độ ngôn ngữ .
6. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đợc có ba chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Một số đặc điểm về vần- nhịp và từ ngữ trong thơ Hữu Thỉnh
Chơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa trong thơ Hữu Thỉnh
11
Chơng 1:
12
có sự hỗ trợ nào khác của sự kiện, cốt truyện, tình huống... từ tiếng nói quen
thuộc của đời sống, ngôn ngữ thơ ca đã tự tạo thêm cho mình những năng lực
kỳ diệu. Ngôn ngữ thơ ca đợc một số nhà nghiên cứu đẩy lên bình diện thứ
nhất, xem bản chất thơ ca thuộc về nhân tố hình thức, đánh giá cao tính chất
sáng tạo trong thơ là sáng tạo ngôn ngữ hoặc tổ chức kết cấu hơn là nhân tố
nội dung. Giáo s Phan Ngọc trong bài viết: Thơ là gì? [42, tr.18] cũng đa ra
kiến giải theo quan niệm này Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản
để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình
thức tổ chức ngôn ngữ này. Chữ quái đản mà Phan Ngọc nói ở đây chính là
nói đến cách tổ chức khác thờng của ngôn ngữ thơ.
Khuynh hớng thứ ba là gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội . Ngời ta
xem cuộc sống chính là mảnh đất màu mỡ của thơ ca. Do vậy, ngời nghệ sĩ
không nên chú trọng đẽo gọt ngôn từ, xa rời cuộc sống mà phải bám sát cuộc
sống. Nói nh Tố Hữu Thơ chỉ trào ra khi trong tim cuộc sống thật tràn đầy.
Cuộc sống chính là nơi xuất phát và điểm đi tới của thơ ca.
Tóm lại, trong ba khuynh hớng, với các quan niệm trên tuy có khác nhau
nhng đều gặp nhau ở chỗ đó là đều làm rõ bản chất của thơ ca và vai trò của
ngời nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật. Tuy nhiên, các khuynh hớng, quan
niệm đó cha chỉ ra đợc đặc trng riêng biệt của thơ ca và tiêu chí nào để định
tính thơ ca thì vẫn còn bỏ ngỏ.
Theo chúng tôi, trong khoảng hơn 200 định nghĩa về thơ để tìm ra đợc
một định nghĩa bao quát đợc cả phần nội dung và hình thức là một công việc
khá nan giải. Xin dẫn ra định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình
Sử, Nguyễn Khắc Phi, theo chúng tôi, có thể xem là chung nhất cho các quan
niệm trên: Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện
những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình
ảnh và nhất là có nhịp điệu [21, tr. 210].
trắc... Tất nhiên, trong thực tế chúng ta đã từng gặp có những câu thơ nh văn
xuôi, không vần, thậm chí có vẻ lủng củng, có vẻ vi phạm quy tắc của ngôn
14
ngữ thơ ca nhng thực ra không phải thế. Đó là những câu thơ phá vỡ quy tắc
thông thờng để đa đến một hiệu quả nghệ thuật mới, chẳng hạn nh đoạn thơ
sau của Hữu Thỉnh:
.... Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào cũng lệch
Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền
Chị vẫn nhớ anh và mong anh nh thế
Và chị buồn nh bông điệp xé đôi
Bằng tuổi trẻ không bao giờ trở lại
Anh đã nghe và cây cỏ cũng nghe
Cây thơng anh làm vành lá nguỵ trang
Dù vẫn biết không mát bằng bóng chị
Dù vẫn biết không ấm bằng tóc chị
Có mùa khô một buổi vẫn tng bừng
Chị thổi ù dằng dặc suốt đời anh
Chiếc khăn tay muốn làm bờ náo nức
Chiếc khăn tay của một thời nớc mắt
Sẽ tung cờ trớc hạnh phúc hàng hiên.
(Tờ lịch cuối cùng - Đờng tới thành phố)
Nguồn cảm xúc mãnh liệt đã tạo cho nhà thơ sự lựa chọn ngôn ngữ, hình
ảnh theo cách riêng của mình. Đoạn thơ dễ đi vào lòng ngời bởi những từ ngữ
mà nhà thơ sử dụng giản dị, tự nhiên, hình ảnh: mâm cơm, ngồi bên nào
cũng lệch, đặc biệt là chôn tuổi xuân trong má lúng đồng tiền có sức khái
quát cao về hình tợng ngời phụ nữ chờ chồng. Cùng với cấu trúc lặp từ chị,
chức riêng của thơ ca
a. Về ngữ âm
Điểm nổi bật của ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trng tính
nhạc. Thơ phản ảnh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tình cảm.
Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa từ ngữ mà còn
16
cả âm thanh, nhịp điệu. Vì thế, mà nhiều ngời đã nhất trí trong việc xem tính
nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn ngữ thơ ca. Đó là điều mà trong văn xuôi ít đợc nói đến. Đặc điểm tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ. Tuy
nhiên, mọi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng tuỳ theo cơ cấu, cách cấu tạo và tổ
chức khác nhau về ngữ âm.Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu có về ngữ âm,
phụ âm, thanh điệu, là cơ sở tạo cho ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dáng vẻ
độc đáo về tính nhạc. Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý
đến những đối lập.
- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở cả các nguyên âm.
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô
thanh trong các phụ âm cuối.
- Sự đối lập về cao- thấp, bằng- trắc của các thanh điệu.
Bên cạnh những sự đối lập đó, vần và nhịp cũng góp phần quan trọng
trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca. Tính nhạc trong ngôn ngữ đa thơ
ca xích lại gần với âm nhạc. Vì vậy, mà từ xa xa, nhiều hình thức ca hát dân
tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc, và trong nền âm
nhạc đơng đại, nhiều bài thơ đợc các nhạc sĩ phổ nhạc thành công.
Thơ Hữu Thỉnh đợc cách nhạc sĩ phổ nhạc thành những ca khúc quen
thuộc với mọi ngời nh nhạc sĩ Doãn Nho với Năm anh em trên một chiếc xe
tăng, nhạc sĩ Phú Quang với Biển nỗi nhớ và em (từ bài thơ: Thơ viết ở
biển). Nhạc sĩ Đỗ Bảo với bài Chiều sông Thơng; chúng ta lấy bài thơ :
Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh làm ví dụ. Điều làm cho bài thơ trở thành
ngợc lại đối với thơ tuỳ theo từng thể loại mà có cấu trúc nhất định. Khi đi vào
thơ, do áp lực của cấu trúc mà quy định việc lựa chọn từ ngữ sao cho phát huy
đợc hiệu quả nghệ thuật. Thực tế cho thấy, có nhiều từ ngữ khi đi vào thơ
ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó qua bàn tay nhào nặn của
nhà thơ mở ra những ý nghĩa mới, tinh tế, lạ hoá hơn. Đó là nghĩa bóng, hay
còn gọi là ý nghĩa biểu trng của ngôn ngữ thơ ca. Đặc trng ngữ nghĩa này tạo
cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút đối với ngời đọc, ngời nghe. Bởi họ không
chỉ tiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, bằng tai mà còn bằng cả sự xúc động, tình
cảm, và bằng cả trí tởng tợng, liên tởng, tức là bằng tâm thế của một ngời tiếp
18
nhận sáng tạo trên một văn bản thơ cụ thể. Điều đó làm cho ngôn ngữ thơ
không chỉ còn là phơng tiện giao tiếp mà đã đóng một vai trò khác. Ngôn ngữ
thơ trở thành một thứ gì đó cha từng đợc nói hoặc đợc nghe. Đó là ngôn ngữ
đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ. Đó là cái vợt ra ngoài giới hạn
(ÔcxtaViotPat, Văn nghệ số 21, 22/5/1983). Trong quá trình vận động tạo
nghĩa của ngôn ngữ thơ cái biểu hiện và cái đợc biểu hiện đã xâm nhập,
chuyển hoá cho nhau tạo nên những khoảng không ngữ nghĩa, những lớp trầm
tích cho ngôn ngữ thơ ca.
c. Về ngữ pháp
Nếu nh Phan Ngọc đã từng cho rằng : Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết
sức quái đản [42, tr. 18], thì sự quái đản đó thể hiện rõ trong bình diện ngữ
pháp của ngôn ngữ thơ ca.
Trớc tiên, đó là sự phân chia các dòng thơ. Có ngời quan niệm mỗi dòng
thơ tơng ứng với một câu thơ nhng trong thực tế ranh giới giữa câu thơ và
dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau. Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng
thơ, có dòng lại bao gồm nhiều câu. Các thành phần trong dòng, trong câu hay
bị đảo lộn trật tự. Các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự nh bình thờng và
nghiệp phổ thông, vào bộ đội Tăng Thiết giáp. Đơn vị nhập ngũ đầu tiên
là trung đoàn 202. Học lái xe tăng, làm cán bộ tiểu đội, dạy bổ túc văn hoá,
viết báo, làm cán bộ tuyên huấn.
Nhiều năm tham gia chiếu đấu tại chiến trờng 9 - Nam Lào (1970-1971),
Quảng Trị (1972), Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh với t cách là phóng
viên mặt trận, đội trởng đội chiếu bóng...Sau 1975, học Đại học văn hoá (trờng viết văn Nguyễn Du khoá I). Thời gian này tác giả cũng đi các tuyến đảo
Đông Bắc, đã sống lâu ngày ở Bạch Long Vĩ, rồi tham gia mặt trận biên giới
1979.
Năm 1982, nhà thơ về làm việc tại tạp chí Văn nghệ Quân đội, làm cán
bộ biên tập, Trởng ban thơ, phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
20
Tháng 12-1988, ông đợc cử làm quyền Tổng biên tập báo Văn nghệ.
Tháng 11-1989, đợc cử làm Tổng biên tập báo Văn nghệ.
Hữu Thỉnh đã từng tham gia vào Ban chấp hành Hội Nhà văn các khoá
3,4,5. Uỷ viên Ban Th ký khoá 3. Đại biểu Quốc hội khoá X. Tổng Th ký Hội
Nhà văn Việt Nam khoá VI. Hiện nay, Hữu Thỉnh là Bí th Đảng uỷ bộ cơ quan
Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Đảng Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch
Hội Nhà văn Việt Nam.
1.2.2. Những chặng đờng thơ Hữu Thỉnh
Thực tiễn của cuộc sống chiến trờng đã là một trong những điều kiện
thuận lợi để cho Hữu Thỉnh trở thành gơng mặt tiêu biểu của thế hệ thơ chống
Mỹ, tài năng của ông đợc khẳng định từ năm 1975 và tiếp tục toả sáng cho
đến ngày nay, ông đã đợc nhận nhiều giải thởng văn học do các tổ chức uy tín
trao tặng. Có đợc thành công đó, một mặt do tài năng tiên thiên vừa là kết
quả của một quá trình nhập cuộc, dấn thân(chữ dùng của Hữu Thỉnh) vào
đời sống, không ngừng học hỏi , lao động và sáng tạo. Với các tập thơ sau:
Tiếng hát trong rừng, Đờng tới thành phố, Trờng ca Biển, Th mùa
ngời chị, ngời vợ... đều trong t thế giao cảm, nhập cuộc sống cùng thời đại.
Trong số 22 bài thơ trong tập này, bài Mùa xuân đi đón đoạt giải Ba,
Chuyến đò đêm giáp ranh đoạt giải A trong cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ
b. Tập Đờng tới thành phố
Đây là trờng ca đợc viết tháng 8/1977 hoàn thành tháng 4/1978. Nó nh
một cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại, tập trung đầy đủ,
hoàn thiện nhất những đòi hỏi mà thể loại trờng ca cần phải có. Đây là trờng
ca dài nhất của Hữu Thỉnh gồm 5 chơng 1539 câu thơ [60, tr. 9], là bản tổng
kết chiến tranh bằng thơ ca, cho ta hình dung chặng cuối cùng đi tới đích toàn
thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chơng I: Ngọn lửa
chiến trờng giới thiệu không khí chung của chiến trờng, về thế hệ trẻ, quan
niệm của nhà thơ về thơ ca và Tổ quốc, thơ và cuộc chiến đấu của đồng đội.
Chơng II: T lệnh giành riêng khắc hoạ về ngời t lệnh đồng thời nói lên
những gian nan, thiếu thốn nói chung. Chơng III: Điệp khúc những cây cầu,
22
nói về những hy sinh cao cả và trực tiếp của dân tộc qua ba trờng hợp hy sinh:
Ngời cán bộ địch hậu, ngời đánh bộc phá và ngời chiến sĩ lái xe tăng qua t thế:
Bàn đạp, cửa mở và thần tốc. Chơng IV: Tờ lịch cuối cùng, viết về thời điểm
bản lề giữa chiến tranh và hoà bình, từ thời gian của hiện tại, từ đỉnh điểm
chiến thắng để hồi tởng lại những bớc gian nan đã từng trải qua. ở chơng này,
cái nhìn của Hữu Thỉnh sâu và bao quát, khơi sâu vào nội tâm của ngời chiến
sĩ. Chơng V: Tự do, miêu tả tâm trạng của con ngời trong không khí chiến
thắng.
Đối tợng mà Hữu Thỉnh miêu tả vẫn là ngời mẹ, ngời lính, ngời chị-ngời
vợ, hậu phơng và tiền tuyến, nhân dân và Tổ quốcNh ng điều ngời đọc chú ý
là nhà thơ thờng đi vào khai thác những vấn đề cốt lõi của tình cảm, xoáy sâu
vào đời sống tâm trạng, những hoàn cảnh điển hình, làm nổi bật bức tranh
văn Việt Nam.
Tóm lại, mảng thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh nổi bật lên là chất
sử thi và cao cả. Thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh là sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa giọng chính luận (khi diễn tả t thế dân tộc, sức mạnh tiềm ẩn và
quật khởi của nhân dân ta), với giọng trữ tình đằm thắm (khi diễn tả tâm trạng
bản thân, đồng đội, ngời thân...) chân thành mà bay bổng, hùng tráng nhng
không kém phần sâu lắng. Đó chính là gơng mặt thơ Hữu Thỉnh viết về mảng
thơ chiến tranh.
1.2.2.2. Thơ Hữu Thỉnh viết về cuộc sống thời bình
Tập Trờng ca Biển và Th mùa đông. Các tập này đợc viết ở giai đoạn
cuối của thời kỳ bao cấp và giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới của đất nớc. Sự
thay đổi của điều kiện lịch sử- xã hội kéo theo sự đổi thay trong quan niệm,
cách nghĩ, cách cảm, đặc biệt ta không thể không nói đến sự thay đổi của văn
học. Sự thức tỉnh về ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn đến con ng ời
trong tính, cụ thể, cá biệt, với nhu cầu trong thời bình là bớc chuyển tất yếu
của xã hội. Con ngời đợc miêu tả trong tất cả tính đa dạng của nó đã tạo
24
thành nét chính trong sự định hớng về giá trị văn học của công chúng hôm
nay. Nói khác đi, tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân bản là đặc điểm nổi
bật của thời kỳ đổi mới, sự thay đổi này dĩ nhiên sẽ dẫn đến những thay đổi về
đề tài, chủ đề, nhân vật, thể loại, phơng thức trần thuật và cách biểu hiện trữ
tình [49, tr.22].
Trong điều kiện lịch sử- xã hội ấy, mảng thơ viết trong thời bình của Hữu
Thỉnh mang nội dung và giọng điệu mới.
a. Trờng ca Biển
Đây là một trờng ca đánh dấu một bớc tiến so với Đờng tới thành
phố.Trờng ca Biển đợc viết ở giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới cho nên nó
sống hôm nay để chống lại Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa, ngay
trong chính bản thân mình, để tiếp tục sống, giữ cho đợc mảnh đất bé nhỏ
của Tổ quốc.
Giọng điệu thơ của Hữu Thỉnh khi viết về số phận của ngời lính tuy có
buồn, cô đơn, có lúc thất vọng song bằng việc bám chắc vào đời sống, hấp thụ
nguồn ánh sáng tâm hồn của nhân dân qua ca dao, tục ngữ cho nên vẫn trong
sáng, khoẻ khoắn bởi niềm tin vào cuộc sống.
Trong Trờng ca Biển là sự hoà quyện đề tài vận mệnh Tổ quốc và ở đó
xen lẫn cả tình cảm quê hơng, tình cảm gia đình, tình cảm cá nhân trong tâm
hồn mỗi ngời lính. Hình ảnh ngời cha, ngời mẹ chính là điểm tựa tinh thần từ
thở ấu thơ đến lúc trởng thành. Đó là mạch nguồn nuôi dỡng tâm hồn nhà thơ,
vợt lên tất cả để làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình.
Với Trờng ca Biển một lần nữa Hữu Thỉnh đã thành công ở thể loại khó
khăn này, bởi lẽ, không phải ai cũng có thể viết đợc trờng ca, vì trờng ca nó
đỏi hỏi nguồn cảm xúc phong phú, sức viết dài hơn, tình cảm mãnh liệt, giữ đợc sức mạnh của ngòi bút để làm sao giữ ngời ta ngồi lại đọc hàng trăm,
hàng nghìn câu thơ.[46, tr.6].